ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam đƣợc quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới, với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô,…tạo nên môi trƣờng sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới. Ở Việt Nam đã thống kê đƣợc 840 loài chim (trong đó có 10 loài đặc hữu) chiếm 9,3% trong tổng số các loài chim đƣợc mô tả trên thế giới (Theo Đặng Huy Huỳnh và cộng sự, 2005). Tuy nhiên hiện nay quần thể chim Việt Nam nói chung đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi nguy cơ mất môi trƣờng sống, đặc biệt là các khu rừng ngày càng biến mất dần do sự gia tăng dân số, thúc đẩy việc chiếm đất nông nghiệp và đất xây dựng. Bên cạnh đó nhu cầu và thói quen, sở thích ăn thịt rừng của nhiều ngƣời dẫn đến việc săn bắn quá mức, đe dọa đến số lƣợng cá thể của nhiều loài chim quý hiếm.
Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm số lƣợng loài, làm cho nhiều loài đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng hiện nay. Trong đó, không thể không kể đến loài Gà lôi trắng, một loài có giá trị thẩm mỹ và giá trị đa dạng sinh học cao. Gà lôi trắng (Lophura nycthemera) còn có tên gọi khác là Trĩ bạc là một loài chim thuộc họ Trĩ (Phasianidae), bộ Gà (Galliformes), lớp Chim (Aves). Hiện nay ở nƣớc ta có 5 phân loài khác nhau: phân loài Gà lôi trắng (Lophura nycthemera nycthemera) có ở các tỉnh Đông bắc Việt Nam; phân loài Gà lôi boli (L.
beaulieui) có ở Lai Châu đến Hà Tĩnh; phân loài berli (L. berliozi) phân bố ở sƣờn Đông của dãy Trƣờng Sơn; phân loài beli (L. beli) phân bố từ Quảng Trị đến Quãng Ngãi và phân loài Gà lôi vằn (L. annamensis) phân bố ở Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Nai, Sông Bé.
Trong đó, các loài chim nói chung và loài Gà lôi trắng nói riêng đều đang đứng trƣớc 1 nguy cơ chung, đó là số lƣợng cá thể của loài đang ngày càng suy giảm và rất có thể sẽ bị tuyệt chủng trong tƣơng lai. Trên thế giới, Gà lôi trắng đƣợc IUCN đánh giá ở mức LC (ít lo ngại). Ở Việt Nam, Gà lôi trắng đã đƣợc đƣa vào trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 ở phân hạng LR (ít nguy cấp). Ngoài ra trong 1 NĐ32/2006/NĐ – CP, Gà lôi trắng còn đƣợc xếp trong nhóm IB – nhóm các loài động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thƣơng mại.
Do đó nếu không có những biện pháp kịp thời nhằm bảo tồn và phát triển loài thì loài Gà lôi trắng cũng không thể tránh khỏi nguy cơ tuyệt chủng. Chim là nhóm động vật dễ quan sát và nhận biết vì phần lớn các loài đều xuất hiện vào ban ngày, các tiếng hót và tiếng kêu đặc trƣng cho từng loài là các đặc điểm quan trọng trong việc phát hiện và nhận biết chúng.Gà lôi trắng cũng có tiếng kêu đặc trƣng để phân biệt chúng với các loài khác trong tự nhiên. Tuy nhiên, ngoài tự nhiên và nuôi nhốt thì tiếng kêu của chúng có giống nhau hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Do đó các công trình nghiên cứu về tiếng kêu của loài Gà lôi trắng cũng sẽ góp phần quan trọng trong việc nhận dạng loài, đồng thời làm cơ sở cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học loài.
Với việc nghiên cứu tiếng kêu của Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi nhốt sẽ góp phần vào việc cung cấp thêm các thông tin, dữ liệu về đặc điểm tiếng kêu của loài, từ đó làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát triển loài Gà lôi trắng ở nƣớc ta, tránh nguy cơ loài đó bị tuyệt chủng. Do đó tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:“ Nghiên cứu đặc điểm tiếng kêu của loài Gà lôi trắng (Lophura nycthemera) được nuôi nhốt tại Vườn quốc gia Cúc Phương”. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu chim trên thế giới Hiện nay trên thế giới ngƣời ta đã thống kê đƣợc khoảng hơn 9.775 loài chim khác nhau, trong đó bộ Sẻ đƣợc coi là bộ giàu họ nhất với gần 30 họ.
Một số loài ít họ là bộ Ngỗng, bộ Bồ câu, bộ Nuốc, bộ Vẹt, bộ Cúc cu có từ 1-2 họ (Theo Birdlife International, năm 2005). Tuy nhiên con số đó vẫn thay đổi theo thời gian bởi có nhiều loài mới đƣợc phát hiện thêm, bên cạnh đó có nhiều loài bị tuyệt chủng. Tại cuộc họp thƣờng niên về hệ động vật có lông vũ của đời sống chim quốc tế, ngƣời ta cho rằng gần đây mặc dù có sự xuất hiện trở lại của một số loài chim nhƣng nhìn chung tình hình vẫn rất bi đát. Hiện nay trong tổng số 9.775 loài chim thì có đến 1.212 loài đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong khi khoảng 2.000 loài khác đang trong tình trạng nguy cấp.
Đặc biệt trong đó có 179 loài gần nhƣ bị tuyệt chủng, nhƣ chim Sẻ ức đỏ Châu Âu (chỉ còn 300 cá thể) là một ví dụ.775 loài chim trên thế giới, có 44% trong tổng số loài đang bị giảm, 34% trong tổng số loài khá ổn định, 17% trong tổng số loài đang trên đà tăng. Trong đó Châu Á là nơi có tốc độ giảm nhanh nhất với 62% số lƣợng các loài thuỷ cầm bị giảm hoặc bị tuyệt chủng, thứ hai là châu Phi (48%), tiếp theo là Châu Úc (45%), Nam Mỹ (42%) và Bắc Mỹ (37%)(Theo Birdlife International, năm 2005). Theo thống kê của tổ chức Birdlife International, thì Châu Á là lục địa có nhiều chim muông nhất, trong đó có 12% số loài đang bị đe doạ nghiêm trọng và sẽ đi đến tình trạng tuyệt chủng trong vòng 10 năm tới nếu con ngƣời không có hành động bảo vệ nơi cƣ trú của chúng. Sau khi khảo sát tại 28 nƣớc Châu Á từ Ấn Độ đến Nhật Bản, Birlife cho biết có khoảng 332 loài chim đang bên bờ tuyệt chủng.
Khoảng 43% trong số 2.293 vùng cƣ trú của các loài chim nhất là rừng rậm không còn đƣợc chính quyền các nƣớc bảo vệ. Cũng theo tổ chức Birlife International thì 41 loài chim ở Châu Á đƣợc liên đoàn bảo tồn thiên 3 nhiên thế giới (IUCN) nói đến thì nay không chỉ có nguy cơ tuyệt chủng mà thực sự đã sắp biến mất hẳn.Về số lƣợng loài chim có nguy cơ tuyệt chủng thì Inđôêxia có 117 loài, Trung Quốc có 78 loài, Ấn Độ 73 loài, Philippin 70 loài. Đặc biệt Đông Nam Á là khu vực rất nguy hiểm cho chim. Lịch sử nghiên cứu chim Việt Nam Việt Nam là một trong những khu vực có khu hệ chim phong phú và đa dạng bậc nhất Đông Nam Á.
Tổng số loài chim đƣợc ghi nhận trong phạm vi toàn quốc là 828 loài thuộc 81 họ, 19 bộ (Theo Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, năm 1998). Tuy nhiên những con số này không thể đƣa ra chính xác đƣợc số loài hiện nay, bởi có thể có những loài đã đƣợc thống kê đã bị tuyệt chủng, hoặc có những loài mới chƣa đƣợc khám phá ghi nhận. Sự phong phú về chủng loại các loài chim Việt Nam là do kết quả của sự phân hóa địa hình, khí hậu, môi trƣờng sống…. trải dài từ Bắc tới Nam.
Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn trước năm 1975 Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là công trình nghiên cứu về chim do các nhà khoa học nƣớc ngoài thực hiện. Loài Gà rừng (Gallus gallus) là loài chim đầu tiên đƣợc nghiên cứu ở Việt Nam, tiêu bản mẫu thu đƣợc ở Côn Đảo và đƣợc nhà sinh vật học Line mô tả giữa thế kỷ XVIII. Cuối thế kỷ XIX, các nhà khoa học nƣớc ngoài có mặt ở Việt Nam đã bắt đầu các cuộc nghiên cứu chim trên phạm vi rộng, với quy mô lớn. Năm 1872, danh sách chim Việt Nam gồm 192 loài đƣợc xuất bản lần đầu tiên với các lô mẫu vật do Pierier, giám đốc sở thú Sài Gòn thời bấy giờ sƣu tầm và công bố (H.
Năm 1931, Delacour và Jabuille đã xuất bản công trình nghiên cứu tổng hợp về chim Đông Dƣơng gồm 4 tập với 954 loài và phân loài(Delacour T.Et và Jabuille, 1931. Lesoiseaux de I’Indochine francaise, I-IV.Paris), trong đó có các loài chim của Việt Nam. Năm 1951, Danh lục chim Đông Dƣơng đƣợc Delacoure bổ sung, hoàn thànhvà xuất bản. Danh lục gồm 1085 loài và phân loài (J.
4 Năm 1954 miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đây là mốc quan trọng đánh dấu sự khởi đầu lịch sử nghiên cứu chim của Việt Nam, thời kỳ với các cuộc điều tra, khảo sát của các nhà nghiên cứu chim Việt Nam. Các công trình nghiên cứu đáng chú ý của các tác giả nhƣ Võ Quý (1962, 1966), Trần Gia Huấn (1960, 1961), Đỗ Ngọc Quang (1965), Võ Quý và Anoro N. Các công trình nghiên cứu đều đi sâu nghiên cứu về mặt khu hệ và phân loại mà ít chú ý đến đặc điểm sinh học và đặc điểm sinh thái của chúng. Năm 1971, với sự tổng hợp các công trình nghiên cứu về đời sống của các loài chim phổ biến ở miền Bắc Việt Nam, Võ Quý đã cho ra công trình “Sinh học của những loài chim thƣờng gặp ở miền Bắc Việt Nam”.
Trong sách tác giả có dẫn chứng đầy đủ về đặc điểm nơi ở, thức ăn, sinh sản và một số tập tính khác của gần 200 loài chim ở miền Bắc mà đa số là các loài có ý nghĩa về mặt kinh tế. Đây là công trình nghiên cứu về chim đầy đủ, có hệ thống và sát thực nhất giai đoạn này. Nhƣng do đối tƣợng nghiên cứu rộng nên tác giả không thể nghiên cứu về nơi ở của chúng, đối với mỗi loài tác giả mới chỉ ra loại sinh cảnh, đai cao chúng sống mà chƣa chỉ ra đặc điểm của sinh cảnh sống của chim nhƣ tổ thành thực vật, vị trí tầng tán yêu thích,… 1. Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn sau năm 1975 Sau chiến tranh giải phóng thống nhất đất nƣớc, công trình “Chim Việt Nam hình thái và phân loại”tập 1 và 2 của Võ Quỹ (1975, 1981) là công trình đầu tiên nghiên cứu về chim trên lãnh thổ Việt Nam về mặt sinh thái, phân loại và phân bố tự nhiên của các loài chim.
Cũng trong giai đoạn này cuốn sách “Danh mục chim Việt Nam” của Võ Quý, Nguyễn Cử năm 1995 ra đời, bản danh mục gồm 19 bộ, 81 họ và 828 loài chim đã tìm thấy ở Việt Nam tính đến năm 1995, với mỗi loài tác giả đã dẫn ra các đặc điểm về hiện trạng và vùng phân bố.