mở đầu của nền văn học viết Việt Nam. Là bộ phận hữu cơ và tiếp nối văn học thời Lý, văn học thời Trần hình thành phát triển trên cơ sở tinh thần thời đại vô cùng phong phú, đa dạng nhưng vẫn có vị trí và đặc trưng riêng. Bối cảnh lịch sử, xã hội, tôn giáo thời Trần đã có 14 tác động sâu rộng tới sự phát triển của văn học giai đoạn này, đặc biệt là tạo ra một lực lượng sáng tác vô cùng đông đảo. Lê Quý Đôn trong Quần thư khảo biện và Thư kinh diễn nghĩa đã tự hào rằng: "Nước Nam ta, hai triều nhà Lý, nhà Trần ngang vào khoảng triều nhà Tống, nhà Nguyên.
Lúc ấy tinh hoa, nhân tài cốt cách văn chương, không khác gì Trung Hoa" [85, tr. Lực lượng sáng tác văn học dưới thời Trần thuộc nhiều tầng lớp khác nhau. Ở thời Lý, Phật giáo là Quốc giáo. Trong bối cảnh đó, tầng lớp tăng lữ xuất hiện và trở thành lực lượng xã hội quan trọng nhất bên cạnh vua chúa, quý tộc.
Đây là tầng lớp có vai trò đặc biệt trong đời sống văn hóa, tinh thần của dân tộc lúc bấy giờ. Tầng lớp trí thức chủ yếu là các nhà tu hành. Chính bởi vậy, lực lượng sáng tác văn học dưới thời nhà Lý cơ bản là vua chúa, quý tộc và tăng lữ. Đến thời Trần, trải một thời kỳ phát triển lâu dài của nền giáo dục và thi cử Nho học, đội ngũ nho sĩ lúc này đã khá đông.
Họ không chỉ làm việc trong bộ máy nhà nước mà còn tích cực tham gia sáng tác văn học và điều này đã khiến cho lực lượng cầm bút biến đổi mạnh mẽ. Các tác giả là nho sĩ ngày càng chiếm ưu thế và đến cuối thời Trần thì trở thành lực lượng sáng tác chủ yếu. Giai đoạn này có khoảng trên 40 tác giả là nho sĩ với những tên tuổi: Trương Hán Siêu, Nguyễn Sưởng, Phạm Ngũ Lão, Phạm Sư Mạnh, Chu Văn An, Trần Nguyên Đán… Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục từng viết: “Đấy là những người trong trẻo, cứng rắn, cao thượng, thanh liêm, có phong độ như sĩ quân tử đời Tây Hán, thật không phải người tầm thường có thể theo kịp được. Bởi vì nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ độ, cho nên nhân sĩ đương thời có chí khí tự lập, hào hiệp cao siêu, vững vàng vượt ra ngoài thói thường, làm cho rạng rỡ sử sách, trên không hổ với trời, dưới không thẹn với đất” [23, tr.
Đinh Gia Khánh trong cuốn Văn học Việt Nam (thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII) đã nêu vai trò của sự xuất thân của tầng lớp nho sĩ có ảnh hưởng đến sáng tác văn học: “Họ là những người trí thức phần lớn xuất thân từ địa chủ thứ dân. Một số ngày càng nhiều 15 lại xuất thân từ nông dân và thợ thủ công. Là những người tương đối gần với các tầng lớp nhân dân hơn là quý tộc, họ tiếp thu được nhiều hơn tư tưởng của nhân dân về những vấn đề đặt ra cho dân tộc ta lúc bấy giờ” [50, tr. Các tác giả thuộc tầng lớp quý tộc, vua chúa đời Trần có khoảng trên 10 người, tiêu biểu có: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quang Triều… Các thiền sư, tăng lữ, đạo sĩ vẫn tiếp tục tham gia sáng tác văn học, triết lý Phật giáo và Đạo giáo vẫn gây ảnh hưởng khá mạnh đến các tác giả đương thời, tuy nhiên, số tác giả đã giảm đi nhiều so với thời Lý, chỉ còn một vài tác giả nổi bật: Pháp Loa, Huyền Quang, nhà sư chùa Yên Quốc… Tuy tác giả thời Trần phần lớn thuộc tầng lớp vua quan, quý tộc, nhưng đời sống xã hội phong kiến Việt Nam lúc này chưa có sự cách biệt gay gắt giữa người với người, giữa vua quan với bình dân, giữa cung vàng điện ngọc của vua chúa với ruộng đồng, làng mạc của người dân.
Con người sống trong không khí chan hòa, vui vẻ, cởi mở… Vua quan không bó buộc mình trong cung điện lầu son mà luôn gần gũi với cuộc sống bình dị chốn thôn quê dân dã của người dân. Đặng Thai Mai trong bài Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học viết: “Con người thượng lưu của thời đại là những người biết sống gần với thiên nhiên”. Bùi Duy Tân trong Khảo và luận về một số tác gia tác phẩm văn học trung đại Việt Nam thì cho rằng: “Nông thôn và cuộc sống ở nông thôn, cái nôi của nền văn hóa, văn nghệ dân tộc, nơi bảo vệ và nuôi dưỡng những truyền thống tốt đẹp và lâu đời của dân tộc, không những là chỗ ẩn náu của nhà thơ khi thấy mình bất lực trước thời cuộc, mà còn là nơi góp phần bồi dưỡng và phát huy niềm ưu ái ở nhà thơ” [81, tr. Nhìn chung, tác giả văn học dưới thời Lý – Trần đều là những trí thức có trí tuệ sâu sắc, “biết sống một cách minh triết và khoáng đạt.
Tình cảm dạt dào giúp họ biết yêu, biết say, biết rung động trước cái đẹp, yêu con người, cuộc sống và ham mê sáng tạo nghệ thuật” [96, tr. Quan niệm thẩm mĩ, quan niệm văn chương của họ không chỉ ảnh hưởng từ tư tưởng Nho giáo, 16 Phật giáo, Đạo giáo mà còn tiếp thu từ truyền thống tinh thần dân tộc và yếu tố thời đại. Bên cạnh những đề tài mang tính “hướng thượng”, các thi sĩ trung đại còn có những vần thơ khắc họa thật tinh tế, sâu sắc về cuộc sống xã hội dân dã ở thôn quê, những vần thơ gần gũi, giản dị được chưng cất từ chính cuộc sống dân dã của người dân Việt. Điều đó lí giải cho sự xuất hiện của thơ điền viên bên cạnh những đề tài khác trong văn học trung đại, nhất là văn học thời nhà Trần.
Sự ảnh hưởng, tiếp thu từ thơ ca Trung Quốc Vào thế kỉ X, khi văn học trung đại Việt Nam chính thức ra đời thì văn học Trung Hoa đã phát triển đầy đủ và rực rỡ. Ngay từ thời Bắc thuộc, người Việt đã chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc văn học Trung Hoa. Chiến thắng của Ngô Quyền năm 938 đã chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, mở ra thời kì độc lập tự chủ cũng như sự ra đời của nền văn học trung đại Việt Nam. Trong quá trình phát triển, nền văn học Việt Nam liên tục tiếp thu trên cơ sở chọn lọc, sáng tạo tinh hoa của nhiều nền văn học trên thế giới, trong đó đặc biệt là văn học Trung Quốc.
Viết về thiên nhiên, nhất là thiên nhiên chốn thôn quê vốn là một cảm hứng lớn của văn học phương Đông. Người phương Đông coi trọng môi trường tự nhiên và sống hài hòa với tự nhiên, tư tưởng này đã trở thành triết lí ứng xử thời thế của các thi sĩ trung đại. Hàng nghìn năm trước, các nhà nho đã đề cao lối sống hòa hợp tự nhiên, thuận theo tự nhiên, đề cao cốt cách thanh đạm của con người. Tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” đã trở thành cảm hứng vô tận trong sáng tác thi ca của các thi sĩ Trung Hoa cổ đại.
Đặc biệt, chốn điền viên thôn dã có vị trí quan trọng trong tâm thức văn hóa Trung Hoa. Lòng sùng bái đời sống điền viên có lúc thấm nhuần trong đời sống văn hóa, việc “về vườn” trở thành nguyện vọng phong nhã, đẹp đẽ, thú vị nhất của nhiều học giả trí thức Trung Quốc. Điều đó được minh chứng sống động nhất qua sự ra đời và phát triển của thi phái điền viên trong văn học Trung Hoa. Được cho là khởi nguyên từ Đào Uyên 17 Minh (365 – 427) đời Tấn, đến thời nhà Đường, trong di sản Đường thi đồ sộ, mảng thơ điền viên đã phát triển vô cùng rực rỡ, thi phái điền viên trở thành một thi phái lớn, chiếm giữ vị trí quan trọng trên thi đàn với những tên tuổi kiệt xuất như Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Trừ Quang Hy, Liễu Tông Nguyên, … và được tiếp nối ở nhiều thi sĩ thời đại sau.
Những sáng tác bất hủ đó có sức lay động tâm hồn nhân loại qua nhiều thời đại và tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của nhiều nền văn học, trong đó có văn học trung đại Việt Nam. Có thể nói thơ thiên nhiên đời Trần ảnh hưởng sâu sắc từ thơ điền viên của Trung Quốc, đặc biệt là thơ điền viên đời Đường. Tác giả Trầm Thanh Tuấn trong Tiểu luận “Cảm hứng Thiền trong thơ thiên nhiên đời Trần” đã chỉ ra: “Không phải ngẫu nhiên mà Phan Huy Chú đã có hàng loạt những nhận xét thi phẩm của các thi nhân trong giai đoạn này trong thế đối sánh với Đường thi: thơ của Trần Thánh Tông "các bài đều có phong vị thơ Đường", còn thơ của Trần Minh Tông thì "lời thơ phần nhiều hào mại phóng khoáng, có khí phách và cốt cách Đỗ - Lăng" và "thơ tứ tuyệt lại càng hay, không kém gì thời thịnh Đường" [95]. Không chỉ ảnh hưởng từ thể loại, thơ điền viên thời Trần còn vận dụng cả thi liệu văn học Trung Quốc tạo nên vẻ đẹp cổ điển cho bức tranh quê.
Khảo sát, thống kê thơ điền viên thời Trần * Tiêu chí khảo sát, thống kê - Trên cơ sở khái niệm về thơ điền viên, luận văn khảo sát thơ điền viên thời Trần trên các yếu tố cơ bản: miêu tả cảnh sắc thiên nhiên thôn quê bình dị, khắc họa sinh hoạt thôn dã, biểu đạt tâm thức thi nhân. - Các tác giả văn học thời Trần gồm vua, quan, tướng lĩnh, nho sĩ… được tuyển chọn trong 2 tập Thơ văn Lí – Trần. Riêng tác giả Nguyễn Trung Ngạn, luận văn khảo sát trong cuốn Ảnh hưởng Hán văn Lí Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn. 18 * Kết quả khảo sát, thống kê Bảng Khảo sát, thống kê thơ điền viên thời Trần SL Tên bài thơ SL bài bài thơ Tác giả tiêu TT Tƣ liệu khảo sát thơ viết biểu khảo về sát điền viên Trần Quang Thơ văn Lý - 1.
Phúc Hưng viên 1294) (Tập II) Trần Thánh Thơ văn Lý - 1. Hạ cảnh Thơ văn Lý - 1. Thiên Trường vãn Trần Nhân Trần vọng 3. Vũ Lâm thu vãn Thơ văn Lý - 1.
Giang thôn thu Bùi Tông Hoan 4. Trần 3 1 vọng (? - ?) (Tập II) Thơ văn Lý - 1. Giang thôn tức sự Trần 2. Đề Liêu Nguyên Trần Quang (Tập II) Long tống hoạ cảnh 5.
Chu trung độc chước Thơ văn Lý - 1. Ngọ thụy Huyền Quang 6. Cúc hoa III Thơ văn Lý - 1. Thôn cư Nguyễn Sưởng 7.
Vãn cảnh Mạc Đĩnh Chi 8. Trần 4 1 (1284 - 1361) (Tập II) Nguyễn Trung 1. Quy hứng Ngạn (1289 - 2.