Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở khoa học của biện pháp cắt tỉa Bên cạnh công tác chọn giống thích hợp với vùng sinh thái và mục đích sử dụng, việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng cây ăn quả nói chung và cây hồng nói riêng có ý nghĩa quan trọng đối với người trồng trọt và các nhà khoa học. Cây hồng sinh trưởng và phát triển tốt khi nó nhận được đầy đủ dinh dưỡng từ 2 nguồn: - Dinh dưỡng nuôi cây được hút thông qua bộ rễ - Dinh dưỡng cung cấp cho cây từ bộ lá do quá trình quang hợp Sự cân đối giữa hai nguồn dinh dưỡng trên giúp cho cây sinh trưởng phát triển tốt từ đó con người tác động vào cây để có tỷ lệ C/N thích hợp (C là nguồn cacbon, N là nguồn đạm).
Tỷ lệ C/N cao thường xảy ra ở cây già bộ rễ hoạt động kém nên cung cấp nhựa nguyên không đủ, trong khi bộ khung tán lớn, lá nhiều quang hợp cũng không tốt do vậy việc vận chuyển nhựa gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ C/N thấp thì nhựa luyện ít do quang hợp yếu, lá quá dày. hơn nữa thường xảy ra vào trường hợp cây còn non bộ rễ sung sức, hút các chất dinh dưỡng mạnh và bón quá nhiều phân nhất là đạm. Cũng như các loại cây ăn quả khác cây hồng đều trải qua hai giai đoạn đó là: - Giai đoạn kiến thiết cơ bản - Giai đoạn kinh doanh Cắt tỉa ở giai đoạn kiến thiết cơ bản để tạo cho cây có bộ khung tán vững chắc, cành phân bố đều còn cắt tỉa ở giai đoạn kinh doanh (cây đã cho n 5 thu hoạch quả) là một biện pháp kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất, phẩm chất, khắc phục được hiện tượng ra quả cách năm, kéo dài thời gian thu hoạch và làm tăng hiệu quả kinh tế.
Cắt tỉa tạo cho cây khoẻ mạnh sung sức và bồi dưỡng được nhiều cành mẹ tốt, dinh dưỡng không bị phân tán, nhằm điều chỉnh cân đối giữa quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và quá trình sinh trưởng sinh thực tạo điều kiện cho cây ra hoa đậu quả tốt. Trích dẫn Nguyễn Kim Đương, (2006) [7] theo Giáo sư Trần Thế Tục và cộng sự (1998) [29] Cắt tỉa là biên pháp kỹ thuật quan trọng và cần thiết được tiến hành thường xuyên, giúp cho cây phân bố thân, cành một cách đồng đều, hợp lý để tận dụng không gian, rút ngắn độ cao, tăng chiều rộng tán. Làm cho cây thông thoáng, quang hợp tốt, tránh được sâu bệnh và tránh những cành ra không có hiệu quả mất nhiều dinh dưỡng không cần thiết. Tuy nhiên hiện nay người làm vườn vẫn chưa nhận thức đầy đủ về biện pháp cắt tỉa, mới chỉ tập trung vào khâu bón phân và phòng trừ sâu bệnh.
Tuỳ thuộc vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, trong chu kỳ sống một năm cây hồng thường ra 2 - 3 đợt lộc là xuân, hè, thu. Các đợt lộc có liên quan chặt chẽ với nhau, quá trình ra lộc của năm trước là tiền đề cho sự ra hoa kết quả của năm sau. Nắm bắt được quy luật trên để có các biện pháp kỹ thuật thích hợp điều khiển quá trình ra lộc sẽ hạn chế ra hoa đực, hạn chế hiện tượng ra quả cách năm, bồi dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, điều chỉnh cân đối giữa các bộ phận dưới mặt đất, hạn chế sâu bệnh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng quả hồng [3], [4], [9], [11]. Chính vì những ưu điểm trên việc nghiên cứu quá trình ra các đợt lộc trong năm trên cây hồng Gia Thanh là rất cần thiết và là tiền đề để xây dựng các biện pháp kỹ thuật.
n 6 Theo Phạm Văn Côn (2004) [6], Trần Thế Tục (1994) [28], người làm vườn cần phải tác động tích cực để tạo dựng hệ thống cành, khung, nửa khung và cành nhánh của cây cho phù hợp với cấu trúc của vườn và mục đích kinh doanh. Trong kỹ thuật làm vườn hiện tại việc đốn, cắt tỉa là khâu kỹ thuật then chốt, cần có kiến thức, kinh nghiệm và tay nghề. Hiện nay, nhiều biện pháp đốn tỉa, tạo hình cho cây hồng rất được quan tâm. Thông thường mới đem trồng phải tạo hình ngay, chỉ giữ một thân chính cao 80 - 100cm.
Các cành cắt cụt hết để cây bật ra những cành khoẻ hơn. Chọn trên thân chính 3 cành khoẻ mọc ra 3 hướng khác nhau để làm cành khung. Cuối năm thứ nhất, chủ yếu là cắt ngắn các cành khung cấp I để cây ra cành khung cấp II. trên mỗi cành khung cấp I chỉ để 2 - 3 cành khung cấp II ở các vị trí thích hợp sao cho các cành hướng ra phía ngoài.
Nếu cây khoẻ có thể gây thêm một cành khung cấp I thứ 4 ở phía ngọn cây. Cuối năm thứ 2 chủ yếu là cắt ngắn các cành khung cấp II và năm thứ 3 chủ yếu là cắt ngắn cành khung cấp III. Hết năm thứ 3 coi như tán cây hồng đã ổn định, cây hồng bắt đầu bói quả và bắt đầu bước sang thời kỳ đốn tạo quả [5], [6], [9], [10], [11]. Cành quả chỉ sinh ra trên cành mẹ mọc từ năm trước.
Cành mẹ thường sinh ra cành quả ở mắt thứ nhất đến mắt thứ 3 tính từ ngọn xuống. Do vậy, các tác giả trên đã đưa ra nguyên tắc cơ bản của đốn tỉa tạo quả là không đốn hớt ngọn vì dễ làm mất những mắt sinh ra cành quả, mà cắt từ chân loại bỏ hẳn những cành mẹ cành quả nào quá yếu, quả tập trung. Cành đã ra quả do dinh dưỡng tập trung nuôi quả nên sinh trưởng yếu đi, do vậy cũng cần đốn, kỹ thuật cắt tỉa như sau: cắt tận chân nếu cành yếu, cắt phía trên, nơi đã có quả, để lại một, hai mầm, những mầm này năm sau sẽ phát triển thành cành mẹ cành quả và sẽ chọn ở gốc cành một hai cành mẹ cành quả khoẻ nhất. Những cành mẹ cành quả năm nay nếu được đốn tỉa hợp lý, năm sau sẽ sinh ra những cành quả khoẻ với số lượng phù hợp ở những vị trí cần thiết n 7 [4], [5], [6], [9], [10], [11].
Như vậy việc nghiên cứu các biện phát cắt tỉa có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất hồng. Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón qua lá 1. Biện pháp sử dụng phân bón qua lá Nhiều kết quả nghiên cứu về phân phức hợp hữu cơ vi sinh tăng năng suất cây trồng cho thấy: thường sau khi hoa nở rộ hoặc hoa đã tàn lúc này cây đang ở tình trạng thiếu dinh dưỡng trầm trọng [23], [30]. Ở thời điểm này bộ rễ ở dưới đất phát triển yếu vì bị ức chế do hoa nở rộ, nếu bón phân vào đất rễ cũng chưa có điều kiện hấp thu được ngay.
Nguyễn Ngọc Nông (1997) [14]. Do vậy, phải kịp thời phun dinh dưỡng lên cây để bổ sung dinh dưỡng và làm bớt rụng quả sinh lý. Lá là một bộ phận quan trọng của cây trồng, nhiệm vụ của lá là quang hợp hấp thu dinh dưỡng cho cây. Tất cả quá trình này được diễn ra trên cơ quan ở mặt lá đó là lỗ khí khổng.
Tuy nhiên sự hấp thu các nguyên tố khoáng dưới dạng ion từ dung dịch gặp phải khó khăn hơn vì tầng cultin ở lớp ngoài cùng của lá, tầng cultin này có thể dày hay mỏng thuỳ theo từng loại cây trồng và tuổi của cây. Lỗ khí khổng có kích thước trung bình 100µm2 (dài 7-10µm, rộng 3- 12µm), số lượng khá lớn, có thể chiếm tới 1% diện tích lá. Lỗ khí khổng phân bố ở cả mặt trên và mặt dưới của lá. Số lượng lỗ khí khổng của từng loại cây rất khác nhau như: số lượng lỗ khí khổng/1mm2 lá ở lá ngô là 120; ở lá cà chua là 142; đặc biệt ở những cây thân gỗ số lượng lỗ khí khổng rất lớn từ 300 - 400.
Điều đáng chú ý là muốn cho phân bón qua lá mang lại hiệu quả cao nhất thì nó phải được phun lên bề mặt lá có nhiều lỗ khí khổng. Phương pháp dinh dưỡng qua lá đặc biệt có hiệu quả trong điều kiện đất nghèo dinh dưỡng và sự hấp thụ dinh dưỡng của cây ở đất bị hạn chế. Do vậy, việc áp dụng bón phân qua lá từ 2 - 3 lần ở những thời điểm thích hợp là hoàn toàn n 8 có thể đáp ứng được nhu cầu của cây và cải thiện được năng suất cây trồng.Hiệu quả của biện pháp sử dụng phân bón qua lá Bón phân qua lá được xác định là biện pháp có hiệu suất sử dụng phân bón cao nhất, kinh tế nhất, cây trồng hấp thu được tới 95% lượng phân bón vào. Nguyên nhân chính là do phân bón qua lá được sản xuất với nguyên liệu tinh khiết trong sạch đến 99,9%.
Trong quá trình sản xuất, phân bón lá được kết hợp với nhiều nguồn Enzim (enzymes) chiết xuất từ động vật, thực vật, sinh vật, vi khuẩn hoặc vi nấm, các vi lượng cần thiết giúp cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt hơn, Horst (1993) [46]. Ưu điểm, nhược điểm của việc sử dụng phân bón qua lá * Ưu điểm : Phương pháp sử dụng phân bón qua lá đặc biệt có hiệu quả trong những trường hợp sau đây: - Tầng đất mặt nghèo dinh dưỡng, khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây bị hạn chế. - Đất bị khô hạn không thể cung cấp dinh dưỡng vào đất. Sử dụng phân bón qua lá là phương pháp rất phổ biến với các nguyên tố trung lượng như Magiê, S và các nguyên tố vi lượng được yêu cầu với liều lượng nhỏ.
Phương pháp này hoàn toàn có thể thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng của cây. Điều chỉnh sự mất cân bằng dinh dưỡng của cây khi chuyển giai đoạn từ sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực. Lúc này các chất dinh dưỡng được tập trung vào hình thành cơ quan sinh sản làm giảm sinh trưởng bộ rễ, giảm hút khoáng chất dẫn đến mất cân bằng nên bổ sung dinh dưỡng qua lá sẽ khắc phục được tình trạng này. Sử dụng phân bón qua lá rất có hiệu quả khi trong đất có hiện tượng đối kháng ion.
Trong điều kiện đất giàu K+ và Mg2+, hàm lượng K lớn hơn n 9 300 mg/kg đất và lớn hơn 160 mg Mg2+/kg đất. Sự hấp thu Mg bị ngăn cản do hiện tượng đối kháng ion, cây có biểu hiện thiếu Mg nếu bón Mg cho cây vào đất sẽ làm cho cây mất cân bằng dinh dưỡng và chết do ngộ độc Mg, trong khi đó bón Mg qua lá lại giúp cây hấp thu và sinh trưởng tốt.