Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thực vật rừng Việt Nam, nhóm Thông bản địa gồm 33 loài đã được xác định, trong đó có 14 loài bị đe dọa ở cấp độ toàn cầu và 29 loài bị đe dọa ở cấp quốc gia. Chi Thông đỏ (Taxus L., họ Taxaceae) tại Việt Nam ghi nhận 2 loài: Thông đỏ bắc hay Thông đỏ lá ngắn (Taxus chinensis (Pilg.) Rehd.) phân bố rải rác ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và Thông đỏ Nam hay Thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana Zucc.). Quần thể Thông đỏ Nam tại Việt Nam được Thomas và Nguyễn Đức Tố Lưu (2002) xác định là điểm phân bố cuối cùng về phía Nam của chi Taxus trong lục địa châu Á. Do phân bố biệt lập và cách xa các vùng lân cận dãy Himalaya cũng như Đông Nam Trung Quốc, quần thể này đại diện cho một xuất xứ riêng biệt, mang giá trị nguồn gen đặc biệt quan trọng.

Về mặt kinh tế và y dược, vỏ và lá của Thông đỏ Nam chứa các hoạt chất giá trị cao như taxol, taxotere phục vụ điều trị các bệnh ung thư buồng trứng, ung thư vú, ung thư phổi, ung thư não và u hắc tố; tinh dầu của cây còn được sử dụng trong các dược phẩm hỗ trợ tim mạch và kháng viêm. Tuy nhiên, khả năng tái sinh tự nhiên của loài rất thấp. Môi trường sống của loài ngày càng bị thu hẹp, khiến Thông đỏ Nam đứng trước tình trạng nguy cấp ở mức EN (Endangered). Tại địa phương, công tác quản lý còn nhiều bất cập, cây bị khai thác trộm bán sang Trung Quốc, khai thác lấy gỗ làm cột nhà, chịu tác động từ du canh nương rẫy và đào bới khoáng sản.

Để giải quyết vấn đề bảo tồn loài thực vật quý hiếm này, đề tài xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu được sự hiểu biết và sử dụng của người dân về loài cây Thông đỏ Nam tại khu vực nghiên cứu.
  2. Xác định được tình hình phân bố của cây Thông đỏ Nam tại khu vực nghiên cứu.
  3. Biết được các đặc tính sinh vật học và mô tả được hình thái của cây Thông đỏ Nam.
  4. Đề xuất được một số biện pháp phát triển và bảo tồn loài Thông đỏ Nam.

Đối tượng nghiên cứu là loài cây Thông đỏ Nam (Taxus wallichiana Zucc.) phân bố trong rừng tự nhiên. Địa bàn nghiên cứu đặt tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (tọa độ địa lý từ 22°31'44" đến 22°39'41" vĩ độ Bắc và từ 105°49'53" đến 105°56'24" kinh độ Đông, trải rộng trên địa giới hành chính của 6 xã: Thành Công, Quang Thành, Phan Thanh, Vũ Nông, Hưng Đạo, Ca Thành và thị trấn Tĩnh Túc). Thời gian thực hiện việc điều tra, thu thập và xử lý số liệu kéo dài từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 5 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống phân loại thực vật học, xếp loài nghiên cứu thuộc ngành Hạt trần / ngành Thông (Pinophyta), lớp Thông (Pinopsida), họ Thông đỏ (Taxaceae), chi Taxus, loài Taxus wallichiana Zucc. Cơ sở pháp lý và bảo tồn dựa trên hệ thống tiêu chuẩn phân hạng của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Sách đỏ Việt Nam (1996 xếp hạng cấp R - Hiếm; 2007 xếp phân hạng VU A1a,c) và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ (thuộc Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm nhóm IA, nghiêm cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại).

Tác giả đã triển khai đồng bộ các phương pháp điều tra thực địa và xã hội học lâm nghiệp:

  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập số liệu khí hậu, thủy văn, địa chất, thổ nhưỡng, bản đồ và các báo cáo điều tra đa dạng sinh học từ Ban quản lý Khu bảo tồn và Niên giám thống kê huyện Nguyên Bình (năm 2010, 2011).
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Ứng dụng công cụ đánh giá nhanh nông thôn (RRA), phối hợp phỏng vấn mở và phỏng vấn bán cấu trúc đối với người dân địa phương, cán bộ tuần rừng, kiểm lâm và các cụ cao niên nhằm đánh giá tri thức bản địa và tình hình sử dụng loài.
  • Phương pháp điều tra theo tuyến: Thiết lập 3 tuyến điều tra dài 6 km cắt qua các đai cao và trạng thái rừng. Ghi nhận tọa độ, độ cao, loài đi kèm; thu thập mẫu đo đếm kích thước của 100 lá ở các vị trí dưới, giữa và trên ngọn tán theo 4 hướng Đông – Tây – Nam – Bắc trên 2 cây trưởng thành ($D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$) và 2 cây tái sinh.
  • Phương pháp lập ô tiêu chuẩn (OTC): Thiết lập 15 OTC điển hình có diện tích $1.000\text{ m}^2$ ($20\text{m} \times 50\text{m}$) theo đường đồng mức tại các đai cao (cứ 100 m độ cao lập 1 OTC từ 550 m trở lên). Đo đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) bằng thước dây/thước kẹp, chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) bằng thước Blume-Leiss, độ tàn che bằng kính đo tại 5 điểm trong ô.
  • Phương pháp phân tích cấu trúc rừng: Đánh giá mức độ quan trọng sinh thái thông qua chỉ số $IVI_i% = (A_i + D_i + RF_i)/3$ (trong đó $A_i$ là độ phong phú tương đối, $D_i$ là độ ưu thế tương đối qua tiết diện thân $G_i$, $RF_i$ là tần suất xuất hiện tương đối). Xác định công thức tổ thành tầng cây gỗ với các loài có $IVI \ge 5%$.
  • Điều tra tái sinh và thảm tươi: Bố trí 5 ô dạng bản thứ cấp diện tích $25\text{ m}^2$ ($5\text{m} \times 5\text{m}$) tại 4 góc và trung tâm OTC để xác định mật độ cây tái sinh ($N/\text{ha}$) và hệ số tổ thành tái sinh $K_i = (N_i / N) \times 10$. Đo độ che phủ tầng cây bụi thảm tươi bằng ô dạng bản (ODB).
  • Điều tra phẫu diện đất và tác động ngoại cảnh: Đào phẫu diện đất kích thước sâu $60\text{ cm} \times$ rộng $30\text{ cm}$ (do tỷ lệ đá lẫn lớn). Lập các ô điều tra tác động diện tích $400\text{ m}^2$ cách nhau $500\text{ m}$ dọc tuyến, cho điểm đánh giá từ 0 (không tác động) đến 3 (tác động mạnh/thường xuyên).

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu rõ tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ giá trị y dược của hợp chất taxane trong điều trị ung thư, vị trí địa lý sinh học đặc thù của quần thể Thông đỏ Nam tại Việt Nam và thực trạng suy giảm quần thể nghiêm trọng. Phần này xác định mục đích nghiên cứu, 4 mục tiêu cụ thể, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong công tác quản lý tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén.

Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Nội dung tổng quan hệ thống hóa cơ sở khoa học về phân loại sinh học và các bậc đe dọa theo IUCN. Về tình hình nghiên cứu quốc tế, chi Taxus có 24 loài và 55 giống; các chương trình của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ (NCI) từ thập niên 1960 đã trồng 35.000 cây; quá trình khai thác dược liệu khiến quần thể loài tại Ấn Độ và Nepal suy giảm tới 90%, miền Tây Trung Quốc giảm trên 50%. Trong nước, Thông đỏ Nam được ghi nhận phân bố hẹp tại Lâm Đồng, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Phú Yên, Khánh Hòa.

Về điều kiện khu vực nghiên cứu, văn bản mô tả chi tiết địa hình núi cao chia cắt mạnh, địa chất đất Feralit trên núi đá vôi, khí hậu phân hóa thành á nhiệt đới vùng cao và nhiệt đới gió mùa vùng thấp, nhiệt độ trung bình năm 18°C, độ ẩm bình quân 84,3%, có hiện tượng sương muối và mưa tuyết tại đỉnh đèo Colea. Hệ thực vật có 1.108 loài bậc cao có mạch; hệ động vật có 222 loài có xương sống (56 loài quý hiếm). Dân cư gồm 5 dân tộc (người Dao chiếm 47,2%, Nùng 20,3%, Kinh 17,8%, Tày 13,8%, H'Mông 0,9%), kinh tế chủ yếu là trồng trọt (chiếm 81,1% giá trị nông nghiệp năm 2010), cùng sức ép từ khoảng 3.000 lao động dôi dư của mỏ thiếc Tĩnh Túc thường xuyên vào rừng mót quặng.

Phần 3: Đối tượng, phạm vi, thời gian, nội dung phương pháp nghiên cứu

Phần này chuẩn hóa quy trình kỹ thuật khảo sát thực địa. Tác giả xác lập rõ phương pháp bố trí 3 tuyến điều tra, quy cách lập 15 OTC diện tích $1.000\text{ m}^2$, phương pháp đo đếm 100 mẫu lá, cách thức bố trí ô dạng bản đo tái sinh và độ che phủ thảm tươi, các công thức toán học tính toán tiết diện thân $G$, tần suất $RF$, chỉ số quan trọng $IVI$, mật độ tái sinh và thang điểm 4 mức độ đánh giá tác động của con người, gia súc đến rừng.

Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả nghiên cứu

Đây là chương nội dung trọng tâm, cung cấp toàn bộ dẫn liệu thực nghiệm:

  • Đặc điểm phân bố: Thông đỏ Nam chỉ phân bố trong trạng thái rừng kín thường xanh mưa ẩm phát triển trên núi đá, tại đỉnh và sườn núi có vách đá dốc ở đai cao từ 1.178 m đến trên 1.300 m. Trong 15 OTC điều tra, loài chỉ xuất hiện tại OTC 14 và OTC 15 (tỷ lệ bắt gặp đạt 13,33%). Cấu trúc rừng nơi có loài hiện diện gồm 4 tầng: tầng ưu thế sinh thái A2 (cao 15 – 20 m), tầng cây gỗ A3 (cao 8 – <15 m), tầng cỏ quyết và thực vật ngoại tầng.
  • Đặc điểm hình thái: Cây có rễ cọc đâm sâu luồn kẽ đá. Thân gỗ lớn, mọc thẳng, vỏ màu nâu đỏ nhạt bong vảy, tán hình tháp, cành dẹt xếp ngang rủ đầu. Số liệu đo đếm cá thể tại 2 OTC ghi nhận:
    • Cây tại OTC 14: Đường kính ngang ngực $D_{1.3} = 146\text{ cm}$, chiều cao vút ngọn $H_{vn} = 42\text{ m}$, đường kính tán $15\text{ m}$.
    • Cây tại OTC 15: Đường kính ngang ngực $D_{1.3} = 157\text{ cm}$, chiều cao vút ngọn $H_{vn} = 45\text{ m}$, đường kính tán $20\text{ m}$. Lá thường xanh, sắp xếp xoắn ốc nhưng vặn cuống thành 2 dãy dẹt hình chữ S, dài 2,5 – 4 cm, rộng 2 – 3 mm. Đo đếm chi tiết đốt cành cho thấy trung bình có 19 lá/đốt. Kích thước trung bình của lá: phần gốc (rộng 0,3 cm, dài 2,5 cm), phần thân (rộng 0,45 cm, dài 2,7 cm), phần ngọn (rộng 0,35 cm, dài 2,7 cm). Cây khác gốc, nón cái đơn độc mang hạt hình trứng có áo hạt mọng màu đỏ tươi khi chín; do mùa sinh sản vào tháng 7 – 8 nên trong thời gian khảo sát tác giả chưa quan sát được hoa và quả chín ngoài thực địa.
  • Đặc điểm sinh thái: Lâm phần có độ tàn che cao, trung bình đạt 0,79 (OTC 14 là 0,81; OTC 15 là 0,78). Chỉ số quan trọng $IVI$ của Thông đỏ Nam tại OTC 14 đạt 7,91% và tại OTC 15 đạt 9,81% ($>5%$), khẳng định vai trò sinh thái rõ rệt trong quần xã. Tầng cây bụi thảm tươi có độ che phủ trung bình thấp, chỉ đạt 5,9% (gồm Dương xỉ, Bàm bàm, Móng bò, Thổ tế tân, Lan rừng, Giảo cổ lam). Khả năng tái sinh tự nhiên dưới tán rừng rất hạn chế. Đất thuộc nhóm Feralit đỏ nâu phát triển trên núi đá vôi, tầng đất mỏng xen kẽ đá tảng.
  • Kiến thức người dân và tác động con người: Người dân bản địa nhận biết loài nhờ chất lượng gỗ tốt không mối mọt để làm cột nhà, hoặc khai thác bán lậu sang Trung Quốc. Rừng chịu áp lực lớn từ chăn thả gia súc, phát đốt rừng làm nương, khai thác lan rừng và hoạt động mót khoáng sản.
Chỉ tiêu sinh thái - cấu trúc Ô tiêu chuẩn 14 (OTC 14) Ô tiêu chuẩn 15 (OTC 15)
Công thức tổ thành tầng cao $0,57\text{K} + 0,71\text{Nr} + 1,0\text{R} + 1,0\text{Sm} + 0,14\text{Tdld} + 6,57\text{Lk}$ $1,14\text{Dgb} + 1,43\text{Dqt} + 0,29\text{Nr} + 0,86\text{Td} + 0,14\text{Tdld} + 0,57\text{T} + 0,43\text{Vtr} + 5,14\text{Lk}$
Loài ưu thế tham gia tổ thành Kháo (K), Nhãn rừng (Nr), Rẻ (R), Sến mật (Sm), Thông đỏ lá dài (Tdld) Dẻ gai bắc (Dgb), Dẻ quả tròn (Dqt), Nhãn rừng (Nr), Thầu dầu (Td), Thông đỏ lá dài (Tdld), Trám (T), Vạng trứng (Vtr)
Chỉ số quan trọng ($IVI$) của Thông đỏ 7,91% 9,81%
Độ tàn che trung bình 0,81 0,78
Độ che phủ thảm tươi, cây bụi 5,6% 6,2%
  • Đề xuất giải pháp: Tác giả kiến nghị 3 nhóm giải pháp chính gồm nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ kiểm lâm; tăng cường phối hợp liên ngành với chính quyền địa phương để ngăn chặn buôn lậu qua biên giới, giải quyết việc làm cho lao động mỏ thiếc; và ứng dụng các giải pháp kỹ thuật nhân giống sinh dưỡng (giâm cành), bảo tồn chuyển chỗ (Ex-situ).

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt các phát hiện về phân bố đai cao, hình thái cây gỗ lớn, đặc điểm lá, chỉ số sinh thái và tình trạng suy thoái quần thể. Khóa luận kiến nghị Ban quản lý Khu bảo tồn khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các cá thể mẹ hiện còn và triển khai thử nghiệm kỹ thuật nhân giống phục vụ bảo tồn nguồn gen.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng hóa các đặc trưng sinh học và lâm học của loài Thông đỏ Nam tại địa bàn nghiên cứu thông qua hệ thống số liệu thực nghiệm:

  • Xác định được phạm vi phân bố thực tế của loài tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén, khẳng định cây chỉ mọc ở đỉnh và sườn núi đá vôi dốc ở độ cao từ 1.178 m đến trên 1.300 m, với tần suất xuất hiện thấp (13,33% số ô tiêu chuẩn).
  • Cung cấp số liệu trắc lượng thực tế của 2 cây cổ thụ: đường kính ngang ngực đạt 146 cm và 157 cm; chiều cao vút ngọn đạt 42 m và 45 m; đường kính tán đạt 15 m và 20 m.
  • Đo đếm chi tiết cấu tạo lá với số lượng trung bình 19 lá/đốt; chiều rộng lá từ 0,3 – 0,45 cm và chiều dài lá từ 2,5 – 2,7 cm tùy vị trí tầng tán.
  • Xác định lâm phần có độ tàn che lớn (trung bình 0,79), độ che phủ thảm tươi nghèo nàn (5,9%), chỉ số quan trọng sinh thái $IVI$ của Thông đỏ Nam đạt 7,91% và 9,81%, chứng minh vai trò cấu trúc rõ rệt trong rừng nguyên sinh trên núi đá vôi.

Về mặt đóng góp, nghiên cứu đã bổ sung dẫn liệu thực địa ban đầu về một xuất xứ phân bố quan trọng của Taxus wallichiana tại vùng núi đá Cao Bằng, góp phần hoàn thiện bức tranh phân bố địa lý sinh học của loài Thông đỏ Nam ngoài các khu vực truyền thống ở Tây Nguyên (Lâm Đồng). Tác giả đề xuất các giải pháp khả thi kết hợp giữa kiểm soát hành chính bảo vệ cây mẹ với nghiên cứu nhân giống nhân tạo phục vụ bảo tồn và phát triển dược liệu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế do điều kiện thực tế được văn bản ghi nhận:

  • Thời gian khảo sát thực địa diễn ra từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2014, không trùng với mùa ra hoa và kết quả tự nhiên của Thông đỏ Nam (tháng 7 – tháng 8), do đó tác giả chưa trực tiếp quan sát và đo đếm được hình thái cơ quan sinh sản (nón đực, nón cái tươi và hạt chín) tại hiện trường.
  • Địa hình núi cao chia cắt mạnh và tỷ lệ đá lẫn quá lớn khiến việc đào phẫu diện đất chỉ thực hiện được ở quy cách sâu 60 cm, rộng 30 cm, chưa đạt độ sâu tiêu chuẩn 150 cm theo phương pháp thổ nhưỡng lâm nghiệp.
  • Mật độ cá thể bắt gặp rất thấp (chỉ tìm thấy 2 cây trưởng thành trên tuyến và trong 15 OTC), dẫn đến dung lượng mẫu điều tra còn khiêm tốn.

Các hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở bao gồm:

  • Tổ chức theo dõi thực địa bổ sung vào chu kỳ tháng 7 – tháng 8 nhằm mô tả đầy đủ quá trình ra hoa, kết quả và thu thập hạt giống thử nghiệm tỷ lệ nảy mầm.
  • Triển khai ứng dụng các chỉ thị phân tử sinh học (marker allozyme, RAPD, AFLP, microsatellite) để đánh giá mức độ đa dạng di truyền của xuất xứ Phia Oắc – Phia Đén so với các quần thể khác tại Việt Nam.
  • Nghiên cứu hoàn thiện quy trình nhân giống sinh dưỡng (giâm hom, nuôi cấy mô tế bào) nhằm chủ động nguồn giống phục vụ gây trồng bảo tồn và khai thác hoạt chất taxane.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học thực vật, Thực vật dược và Bảo tồn đa dạng sinh học. Nội dung đề tài cung cấp tài liệu cơ sở cho Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén cùng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng trong việc xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và bảo vệ loài nguy cấp.

Phần có giá trị tham khảo chuyên môn cao nhất là phương pháp thiết kế tuyến điều tra và lập ô tiêu chuẩn trên địa hình núi đá vôi hiểm trở, cách tính toán chỉ số giá trị quan trọng ($IVI$) cho loài cây hạt trần quý hiếm có số lượng cá thể thấp, cùng hệ thống số liệu trắc lượng hình thái thực tế của các cá thể Thông đỏ Nam cổ thụ có kích thước đường kính trên 1,5 m và chiều cao trên 40 m.

Câu hỏi thường gặp

1. Loài Thông đỏ Nam tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén phân bố ở đai cao nào và thuộc trạng thái rừng gì?
Loài chỉ phân bố trong trạng thái rừng kín thường xanh mưa ẩm phát triển trên núi đá vôi, tại các sườn dốc và đỉnh núi hiểm trở ở đai cao từ 1.178 m đến trên 1.300 m. Trong 15 ô tiêu chuẩn điều tra trải dài từ đai cao 550 m trở lên, cây chỉ xuất hiện tại 2 ô tiêu chuẩn (OTC 14 và OTC 15) nằm ở đai cao trên 1.300 m.

2. Kích thước hình thái thân của các cá thể Thông đỏ Nam được ghi nhận trong nghiên cứu đạt mức độ nào?
Các cá thể bắt gặp là cây gỗ lớn: cá thể tại OTC 14 có đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) đạt 146 cm, chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) đạt 42 m, đường kính tán 15 m; cá thể tại OTC 15 có đường kính ngang ngực đạt 157 cm, chiều cao vút ngọn đạt 45 m và đường kính tán 20 m.

3. Chỉ số giá trị quan trọng ($IVI$) và cấu trúc tầng cao nơi có Thông đỏ Nam phân bố được xác định ra sao?
Chỉ số $IVI$ của Thông đỏ Nam đạt 7,91% ở OTC 14 và 9,81% ở OTC 15 (đều vượt ngưỡng 5%, có ý nghĩa sinh thái trong lâm phần). Cây tham gia vào công thức tổ thành tầng tán ưu thế cùng các loài cây lá rộng như Kháo, Nhãn rừng, Rẻ, Sến mật, Dẻ gai bắc, Dẻ quả tròn, Thầu dầu, Trám và Vạng trứng.

4. Vì sao tác giả khóa luận chưa thể quan sát đặc điểm hoa và quả của cây ngoài thực địa?
Do thời gian thu thập số liệu ngoại nghiệp của đề tài diễn ra từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2014, trong khi mùa ra hoa kết quả tự nhiên của loài Thông đỏ Nam rơi vào tháng 7 và tháng 8 hàng năm, nên tác giả không thể ghi nhận trực tiếp cơ quan sinh sản tươi tại hiện trường mà kế thừa mô tả hình thái học.

5. Những nguyên nhân chính nào từ phía con người đang đe dọa trực tiếp đến loài Thông đỏ Nam tại đây?
Nguyên nhân xuất phát từ việc người dân chặt trộm cây to thẳng để bán sang Trung Quốc hoặc xẻ gỗ làm cột nhà; thói quen đốt rừng làm nương rẫy, chăn thả gia súc giẫm nát cây tái sinh; cùng hoạt động của khoảng 3.000 lao động dôi dư từ khu vực mỏ thiếc Tĩnh Túc vào rừng đào bới, mót khoáng sản làm xáo trộn nghiêm trọng môi trường sinh thái.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Ngọc Trung đã hoàn thành việc điều tra, đánh giá toàn diện đặc điểm hình thái, sinh thái học và phân bố của loài Thông đỏ Nam (Taxus wallichiana Zucc.) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén. Nghiên cứu xác lập các số liệu thực chứng về những cá thể cổ thụ có đường kính thân trên 1,5 m và chiều cao trên 40 m ở đai cao trên 1.300 m, đồng thời chỉ ra tính chất nguy cấp của quần thể do số lượng cá thể ít ỏi và khả năng tái sinh tự nhiên kém. Những phát hiện và giải pháp kỹ thuật - quản lý trong công trình cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ công tác bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm này tại tỉnh Cao Bằng.