Nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài song mật tại vườn quốc gia ba vì hà nội

Nghiên cứu phân bố loài song mật tại Vườn Quốc gia Ba Vì, Hà Nội. Tìm hiểu sâu đặc điểm sinh thái, môi trường sống và giá trị bảo tồn.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2019

53
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá đặc điểm phân bố loài song mật tại Ba Vì 2024

Bài viết này phân tích chuyên sâu về đặc điểm phân bố của loài song mật (Calamus platyacanthus) tại Vườn quốc gia Ba Vì, Hà Nội. Dựa trên các kết quả nghiên cứu thực địa tại Ba Vì, nội dung sẽ làm rõ các yếu tố môi trường và sinh thái ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của loài cây có giá trị này. Việc hiểu rõ quy luật phân bố là tiền đề quan trọng cho công tác bảo tồn tài nguyên thực vật rừng, đặc biệt là các loài quý hiếm thuộc chi Mây (Calamus) đang đối mặt với nguy cơ suy giảm. Mục tiêu là cung cấp một cái nhìn tổng quan, khoa học và cập nhật nhất về hiện trạng của song mật, góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu cho các chiến lược bảo tồn bền vững.

1.1. Tổng quan về chi Mây Calamus và giá trị loài song mật

Song mật, có tên khoa học là Calamus platyacanthus, là một loài thực vật thuộc họ Cau (Arecaceae). Loài này có giá trị kinh tế cao, được sử dụng rộng rãi để sản xuất đồ mỹ nghệ, bàn ghế và các vật dụng gia đình khác. Thân cây leo, có thể dài đến hàng chục mét, đường kính lớn, là nguồn nguyên liệu được ưa chuộng trên thị trường. Theo Sách Đỏ Việt Nam (2007), song mật được xếp vào nhóm VU (Sắp nguy cấp) do bị khai thác quá mức. Giá trị kinh tế của cây mây là một trong những nguyên nhân chính gây áp lực lên quần thể tự nhiên. Việc nhận diện chính xác đặc điểm hình thái và sinh học của loài là bước đầu tiên và cơ bản nhất trong mọi nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững.

1.2. Vị thế của Vườn quốc gia Ba Vì trong đa dạng sinh học

Hệ thực vật Vườn quốc gia Ba Vì được biết đến với sự phong phú và đa dạng, là nơi cư trú của nhiều loài quý hiếm. Với tổng diện tích 10.814,6 ha, VQG Ba Vì có địa hình phức tạp, khí hậu đặc trưng, tạo nên nhiều tiểu vùng sinh thái khác nhau. Đây là điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của một hệ thực vật đa dạng, bao gồm 1.201 loài thực vật bậc cao. Sự hiện diện của song mật tại đây không chỉ làm tăng thêm giá trị đa dạng sinh học ở Ba Vì mà còn khẳng định vai trò quan trọng của vườn trong việc bảo vệ nguồn gen thực vật quý của Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu quần thể song mật tại đây mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.

II. Thách thức trong việc bảo tồn loài song mật có giá trị cao

Công tác bảo tồn tài nguyên thực vật rừng đối với loài song mật tại Vườn quốc gia Ba Vì đang đối mặt với nhiều thách thức lớn. Áp lực không chỉ đến từ các hoạt động khai thác trái phép do giá trị kinh tế của cây mây mà còn từ sự thay đổi môi trường sống. Các dự án phát triển du lịch, xây dựng cơ sở hạ tầng đã và đang tác động trực tiếp đến thảm thực vật. Hiện tượng sạt lở đất do thời tiết cực đoan và hoạt động của con người cũng làm thu hẹp môi trường sống tự nhiên của loài. Việc thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về điều kiện sống của cây song mật và các yếu tố ảnh hưởng đến phân bố thực vật khiến cho các giải pháp bảo tồn chưa thực sự hiệu quả và bền vững.

2.1. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phân bố thực vật

Sự phân bố của song mật chịu tác động của nhiều yếu tố phức hợp. Nghiên cứu của Lê Phú Hà (2019) cho thấy, các yếu tố địa hình như độ cao, độ dốc và hướng phơi có ảnh hưởng rõ rệt. Bên cạnh đó, các yếu tố thổ nhưỡng (đất Feralit), độ tàn che của tán rừng và cấu trúc quần thể thực vật xung quanh cũng đóng vai trò quyết định. Sự cạnh tranh với các loài cây khác, đặc biệt là cây bụi và thảm tươi, ảnh hưởng đến khả năng tái sinh tự nhiên của song mật. Các hoạt động của con người, từ khai thác đến làm đường, là yếu tố ngoại cảnh gây xáo trộn và suy giảm mật độ quần thể song mật một cách nghiêm trọng, đòi hỏi phải có các biện pháp can thiệp kịp thời.

2.2. Hiện trạng khai thác và áp lực lên quần thể tự nhiên

Do có giá trị kinh tế cao, song mật là đối tượng bị khai thác mạnh mẽ. Mặc dù nằm trong vùng bảo vệ của Vườn quốc gia Ba Vì, tình trạng khai thác trộm vẫn diễn ra. Người dân địa phương và các thương lái thường tìm kiếm những cây trưởng thành để bán ra thị trường. Hoạt động này không chỉ làm giảm số lượng cá thể mà còn phá vỡ cấu trúc quần thể, ảnh hưởng đến khả năng tái sinh. Dữ liệu phỏng vấn cán bộ kiểm lâm và người dân cho thấy số lượng cây song mật trưởng thành đã giảm đáng kể trong những năm gần đây. Đây là mối đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của loài trong tự nhiên và là thách thức lớn nhất đối với công tác bảo tồn.

III. Phương pháp nghiên cứu thực địa phân bố song mật tại Ba Vì

Để xác định chính xác đặc điểm phân bố của loài song mật, một phương pháp luận khoa học và chặt chẽ đã được áp dụng. Nghiên cứu kết hợp nhiều phương pháp, từ điều tra theo tuyến, lập ô tiêu chuẩn (OTC) đến phỏng vấn cộng đồng. Cách tiếp cận này cho phép thu thập dữ liệu đa chiều, vừa định lượng (tọa độ, mật độ, các chỉ số sinh trưởng) vừa định tính (kinh nghiệm bản địa, lịch sử khai thác). Quá trình nghiên cứu thực địa tại Ba Vì được thực hiện một cách có hệ thống, đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy của số liệu, làm cơ sở để xây dựng bản đồ phân bố thực vật và đề xuất các giải pháp bảo tồn phù hợp với thực tiễn.

3.1. Kỹ thuật điều tra theo tuyến và lập Ô tiêu chuẩn OTC

Phương pháp chính là điều tra theo các tuyến cắt qua những sinh cảnh và trạng thái rừng khác nhau. Dọc tuyến, các nhà nghiên cứu sử dụng thiết bị GPS để ghi nhận tọa độ mỗi khi phát hiện cá thể song mật. Tại những khu vực có mật độ cao, các Ô tiêu chuẩn (OTC) với diện tích 1000m² được thiết lập. Bên trong OTC, tất cả các cá thể song mật được đếm, đo đạc các chỉ số lâm học. Đồng thời, các thông số về tầng cây cao, cây tái sinh, và cây bụi thảm tươi cũng được thu thập để phân tích cấu trúc quần thể thực vật và môi trường sống liên quan. Phương pháp này giúp định lượng hóa sự phân bố và xác định các điều kiện sống của cây song mật một cách khách quan.

3.2. Vai trò của phỏng vấn trong thu thập thông tin bản địa

Bên cạnh các phương pháp định lượng, phỏng vấn cán bộ kiểm lâm, ban quản lý VQG và người dân địa phương là một phần không thể thiếu. Các cuộc phỏng vấn cung cấp những thông tin quý giá về tên địa phương, khu vực phân bố lịch sử, mức độ khai thác và giá trị kinh tế của cây mây theo quan điểm của người bản địa. Thông tin này giúp khoanh vùng các khu vực trọng điểm để khảo sát, tiết kiệm thời gian và nguồn lực, đồng thời cung cấp bối cảnh xã hội cho các vấn đề bảo tồn. Kết hợp dữ liệu khoa học và tri thức bản địa giúp tạo ra một bức tranh toàn diện về hiện trạng phân bố cây mây ở Việt Nam tại khu vực nghiên cứu.

IV. Kết quả nghiên cứu phân bố song mật theo đặc điểm sinh thái

Kết quả nghiên cứu thực địa tại Ba Vì đã vẽ nên một bức tranh chi tiết về quy luật phân bố của loài song mật. Dữ liệu cho thấy loài này không phân bố ngẫu nhiên mà tập trung ở những khu vực có điều kiện sinh thái đặc thù. Sự phân bố này liên quan chặt chẽ đến độ cao, địa hình, trạng thái rừng và thành phần đất. Phân tích Calamus sp. distribution cho thấy Vườn Quốc gia Ba Vì là một trong những môi trường sống quan trọng của loài này ở miền Bắc Việt Nam. Các số liệu về mật độ quần thể song mật và khả năng tái sinh là những chỉ số quan trọng để đánh giá sức khỏe của quần thể và định hướng các hoạt động bảo tồn.

4.1. Phân tích mật độ quần thể song mật theo độ cao và địa hình

Dữ liệu khảo sát cho thấy song mật phân bố chủ yếu ở đai cao từ 400m đến 800m so với mực nước biển, tập trung nhiều nhất quanh cốt 600m và 800m. Loài này ưa thích những nơi có địa hình dốc vừa phải, dao động từ 15 đến 25 độ. Vị trí phân bố thường ở sườn và chân núi, nơi có độ ẩm cao và đất Feralit vàng. Các khu vực có độ dốc quá lớn hoặc địa hình bằng phẳng ít ghi nhận sự xuất hiện của song mật. Hướng phơi cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến phân bố thực vật, với tần suất xuất hiện cao hơn ở các hướng Đông và Đông Bắc. Những đặc điểm này cho thấy sự thích nghi của loài với các điều kiện vi khí hậu và thổ nhưỡng đặc trưng của vùng núi Ba Vì.

4.2. Đặc điểm phân bố trong các trạng thái rừng khác nhau

Song mật chủ yếu sinh trưởng và phát triển trong kiểu rừng kín thường xanh và rừng tự nhiên thứ sinh đang phục hồi. Điều kiện sống của cây song mật lý tưởng là dưới tán rừng có độ tàn che cao, khoảng 70-85%. Môi trường này cung cấp đủ độ ẩm và hạn chế ánh sáng trực tiếp, phù hợp với đặc tính ưa bóng của cây non. Cấu trúc quần thể thực vật nơi song mật sinh sống thường có các loài cây gỗ lớn như Sồi phảng, Gội nếp, Bồ đề chiếm ưu thế ở tầng cao. Tầng cây bụi và thảm tươi đa dạng với các loài dương xỉ, ráy leo, giúp giữ ẩm cho đất và tạo điều kiện cho quá trình tái sinh tự nhiên của song mật diễn ra thuận lợi.

V. Giải pháp hiệu quả nhằm bảo tồn tài nguyên thực vật rừng

Từ những kết quả nghiên cứu chi tiết, việc đề xuất các giải pháp bảo tồn mang tính khả thi và hiệu quả là nhiệm vụ cấp thiết. Công tác bảo tồn tài nguyên thực vật rừng không thể chỉ dựa vào các biện pháp cấm đoán mà cần một chiến lược tổng thể. Chiến lược này phải kết hợp hài hòa giữa quản lý, kỹ thuật và sự tham gia của cộng đồng. Mục tiêu cuối cùng là bảo vệ quần thể song mật tại chỗ, đồng thời nghiên cứu phát triển các mô hình gây trồng để giảm áp lực khai thác từ tự nhiên, đảm bảo sự phát triển bền vững cho cả hệ sinh thái và cộng đồng địa phương, qua đó nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học ở Ba Vì.

5.1. Biện pháp quản lý và giám sát quần thể song mật tại VQG

Cần quy hoạch và khoanh vùng các khu vực có mật độ quần thể song mật cao để quản lý và bảo vệ nghiêm ngặt. Ban quản lý Vườn quốc gia Ba Vì cần tăng cường tuần tra, giám sát, đặc biệt tại các khu vực nhạy cảm. Việc xây dựng một bản đồ phân bố thực vật chi tiết cho loài song mật và tích hợp vào hệ thống quản lý của vườn là rất cần thiết. Ứng dụng công nghệ GPS và bản đồ số sẽ giúp theo dõi diễn biến của quần thể một cách hiệu quả. Đồng thời, cần nghiêm cấm các hoạt động xây dựng, mở đường mới tại những khu vực phân bố cốt lõi của loài để bảo vệ môi trường sống nguyên vẹn.

5.2. Kỹ thuật nhân giống và phát triển gây trồng bền vững

Để giảm áp lực khai thác, cần đẩy mạnh nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhân giống song mật. Loài này có khả năng tái sinh tự nhiên của song mật từ hạt khá tốt. Do đó, cần tổ chức thu hái hạt giống từ những cây mẹ khỏe mạnh để xây dựng vườn ươm, cung cấp cây giống cho các chương trình trồng rừng và phát triển kinh tế. Thử nghiệm các mô hình trồng song mật dưới tán rừng hoặc kết hợp nông lâm có thể mở ra hướng đi mới, giúp người dân địa phương có thêm thu nhập hợp pháp từ giá trị kinh tế của cây mây mà không cần khai thác từ tự nhiên. Đây là giải pháp căn cơ, hài hòa giữa bảo tồn và phát triển.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hệ thực vật Việt Nam rất đa dạng và phong phú.Trong đó rừng là nguồn tài nguyên chính vô cùng quý giá của đất nƣớc ta, không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà rừng còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng. Trong đó, thực vật rừng là một nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá. Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có một hệ thực vật vô cùng phong phú và đa dạng. trong đó họ Cau – Arecaceae một trong những họ thực vật đa dạng nhất của Việt Nam với 202 chi và khoảng 2600 loài khác nhau.

Một trong số đó song mật là một loài thực vật thuộc họ Cau và thƣờng đƣợc sử dụng chủ yếu trong đò mỹ nghệ trang trí rất giá trị Trong những năm trở lại đây việc sử dụng các đồ trang trí nỹ nghệ từ mây tre đan ngày càng lớn và gia tằng điểm hình là các loài trong trong đó loài song mật - Calamus platyacanthus. Ba Vì là một trong những vƣờn quốc gia có rất nhiều loài thực vật quý hiếm, trong đó có cả song mật. chính vì vậy Ngày 16 tháng 01 năm 1991, Chủ tịch Hội đồng bộ trƣởng (Nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 17/CT phê duyệt luận chứng kinh tế thành lập khu rừng cấm quốc gia Ba Vì.Đến ngày 18 tháng 12 năm 1991 Chủ tịch Hội đồng bộ trƣởng ( Nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 407/CT về việc đổi tên rừng cấm quốc gia Ba Vì thành Vƣờn quốc gia Ba Vì.Tháng 5 năm 2003 Vƣờn quốc gia Ba Vì đƣợc Chính phủ quyết định mở rộng quy hoạch sang tỉnh Hoà Bình. Hiện nay, tổng diện tích của vƣờn 10.814,6 ha thuộc địa giới hành chính của 16 xã thuộc 3 huyện của TP Hà Nội và 2 huyện của tỉnh Hòa Bình cách trung tâm Thủ đô 60 km về phía Tây.

Do bị khác thác nhiều làm đồ gia dụng, mỹ nghệ, nhất là khu vực miền núi ngƣời dân thƣờng vào rừng tìm kiếm và khái thác để bán cho thƣơng lái Việt Nam cũng nhƣ Trung Quốc qua đừng tiểu ngạch với giá trị cao Do đó Song mật trong tự nhiên đang bị đe dọa rất nghiêm trọng, nhiều khu vực trƣớc kia bắt gặp rất nghiều nhƣng bây giờ rất hiếm, nếu còn chỉ có trong khu bảo tồn hoặc các vƣờn quốc gia. Rất có thể trong tƣơng lai sẽ bị tuyệt chủng trong tự nhiên. Vì vậy, nhằm góp phần làm cơ sở để phát triển và bảo tồn nguồn gen cây thuốc quý này, em đã chọn tài “Nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Song mật ở Vƣờn Quốc gia Ba Vì ” với mong muốn góp phần bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học của Vƣờn Quốc gia Ba Vì nói riêng và Việt Nam nói chung. 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.

Đặc điểm chung về loài Song mật a. Giới thiệu chung về loài song mật Tên Việt Nam : SONG MẬT ( theo sách Đỏ Việt Nam, phần thực vật 2007) Tên Latin: Calamus platyacanthus Warb. 1908 Họ : Cau – Arecaceae Bộ : Cau – Arecaceae Hình 1.1: Hình thái của Song mật theo Sách đỏ Việt Nam 2007  Đặc điểm nhận dạng: Cây mọc thành cụm thƣa, đơn tính khác gốc. Thân leo, dài 30 - 40 m (có thể dài đến 100 m), đƣờng kính đến 8 - 10 cm (cả bẹ lá).

Bẹ lá rất dài, bao kín thân khí sinh, trên bẹ có nhiều gai dẹt màu vàng dài 8 - 10 cm, gốc rộng 1,8 - 2 mm, gai mọc lật ngƣợc về phía gốc; lá có khuỷu; thìa lìa ở lá non hình ống, có lông hung, gốc có gai, khi già bị rách, có lông cứng; lá xẻ lông chim rất sâu, dài 1,5 - 2,5 cm; thuỳ lá hình bầu dục, không cuống, dài 40 cm, rộng 6 - 8 cm, mặt trên của thuỳ lá có nhiều gai mảnh, mép có gai nhỏ, đỉnh có túm lông, thuỳ lá mọc thành cụm 2 - 6, đỉnh lá mang 4 - 7 lá chét, 2 lá chét ở đỉnh đính nhau ở gốc; sống lá kéo dài thành roi dài 1,5 m có nhiều gai mập thƣờng mọc thành cụm 5 - 10 gai dính nhau ở gốc. Cụm hoa đực: mo hình dải, dài hơn 1m; mỗi mo mang nhiều bông nhỏ mọc ngay trên lá bắc cấp 3 dài 2 - 2,5 cm, mang 14 - 17 hoa đực xếp thành 2 đài; hoa mẫu 3, lá đài 3, cánh hoa 3, nhị 6. Cụm hoa cái: mo hình dải dài 1 - 2,5 m, 2 mang 15 bông nhỏ (chuỳ); lá bắc hình ống dài 20 cm, miệng dẹt, màu xanh đạm, có gai rải rác trên mặt; chuỳ dính nhay trên miệng lá bắc cấp 1 dài 30 - 70 cm mang nhiều bông chét, đầu tận cùng bởi một đuôi có gai; lá bắc cấp 2 hình phễu, có gai; bông chét dài 8 - 12 cm mang 14 - 32 hoa cái; đế hoa hình đấu. Quả hình trứng, dài 15 - 22 mm, rộng 8 - 14 mm; đỉnh quả có mũ hình nón dài 4 mm; vỏ quả có 18 hàng vảy dọc, vảy có mép mầu nâu; quả khi non màu xanh, khi giả màu vàng nhạt; cùi trắng mọng, vị chua.

 Phân bố: Trong nƣớc: Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hoà Bình, Ninh Bình, Quảng Bình Thế giới: Trung Quốc.  Giá trị: Loài Song rất có giá trị dùng làm các đồ mỹ nghệ, bàn ghế và các đồ gia dụng khác.  Tình trạng: Tuy loài có mặt trong các Vƣờn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Ba Vì (Hà Tây), Cúc Phƣơng (Ninh Bình) và Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), nhƣng vẫn bị chặt phá, rừng bị khai thác mạnh làm mất môi trƣờng sinh thái và điều kiện sống. Là loài Song có giá trị xuất khẩu cao, đang bị khai thác mạnh trong 10 năm qua, hiện vẫn đang suy giảm về số lƣợng.

 Phân hạng: VU A1c,d+2c,d b. Đặc tính sinh học và sinh thái học Đặc điểm sinh học Song mật phân bố ở độ cao 100 - 1. 500m trên mặt biển, tập trung nhất ở độ cao 400 - 900m. Cây ƣa sáng và ấm , mọc trên đất feralite vàng trên núi và các loại đất phân hóa trên phiên thạch, sa thạch , granít hoặc đá vôi.

Cây thƣờng mọc ven thung lũng núi đất, chân và sƣờn núi đá , ven các khe âm , nơi độ đốc 30 - 35 cũng gặp song mật. Cây mọc trong rừng lá rộng thƣờng xanh nguyên sinh hoặc thứ sinh mới bị tác động nhẹ, tầng trên là các cây gỗ lớn nhƣ: trƣờng, sang, trám, chèo tía , côm. Tâng lâm hạ là cây thân Cỏ và 3 dƣơng xỉ ƣa ẩm nhƣ : sa nhân, sẹ, cấu tích. Ngọn song mật luôn vƣơn lên các tâng cao nhất của tán rừng.

Sau đó lại rủ xuống và vƣơn lên ngọn cây khác, tạo thành các cây song dài 40 - 60m. Cũng gặp song mật trong các rừng thứ sinh với vôi thuốc, bồ đề chiếm ƣu thế hoặc rừng nứa lá to thuân loại, rừng sâu. ở độ cao trên 800m, nhƣ ở xã Trung Thành, huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình trong điều kiện đầy đủ ánh sáng, song mật cho rất nhiều quả, và hạt tái sinh tốt, nhƣng dƣới tán rừng rậm hầu nhƣ không gặp cây con tái sinh. Song mật chỉ tái sinh tốt ở tàn che 0,2 - 0,3 hay ở ven rừng, ven suối.

Cây 5 - 6 tuổi ra hoa nhƣng thƣờng 8 tuổi mới cho quả. Chồi hoa xuất hiện tháng 9 - 10, hoa nở tháng 4 - 5 năm sau. Quả chín tháng 10 - 10. Quả song mật ăn rất ngon nên dễ bị các loài chim và thủ nhỏ đến ăn ngay khi còn non.

Sau khi bị chặt, bụi song mật vẫn nảy chồi mới, không bị chết.2 Trên thế giới. Họ Cau (Arecaceae hay Palmae) là họ thực vật nhiệt đới có khoảng 250 chi gồm khoảng 2.500 loài, phân bố chủ yếu ở các nƣớc nhiệt đới Châu Á và Châu Mỹ La Tinh (Dransfield và cs., 2008) Cây họ Cau là những loài cây xuất hiện từ rất sớm, chúng có niên đại từ khoảng 120 triệu năm trƣớc, với sự có mặt từ rất sớm trong tự nhiên nên những công trình nghiên cứu về cây họ Cau nói chung và loài Song mật nói riêng rất phong phú và toàn vẹn. Tác giả Muccio Pasquale Di đã có những nghiên cứu khoa học chuyên sâu về đặc tính sinh học của những loài sâu hại kí sinh trong thân cây họ Cau.Cùng với đó bằng sáng chế 26/07/2016 đây là dụng cụ chuyên sử lý những sâu hại kí sinh trong thân cây họ Cau. Một trong những tác giả đầu tiên nghiên cứu về song mây là O.

Beccari đã nghiên cứu phân loại chi Calamus và chi Daemonopops. Uhl và Dransfield (1987) là - các tác giả đã tổng hợp các loài song mây trên toàn cầu và xác định trên thế giới có khoảng 600 loài song mây thuộc 13 chi. John Dransfield công bố song mây ở Malay Peninsula (1979), Sabah (1984) Sarawak (1992), Brunei Darussalam (1997), “ Tài nguyên thực vật Đông Nam Á - Tập 6: Các cây song mây” (1994); “ Genera Palmarum the 4 Evolution and Classification of Palms”, trong đó họ phụ Calamoideae đƣợc mô tả và phân loại với 619 loài, riêng nhóm song mây Calameae có 565 loài. Henderson đã mô tả 160 loài song mây ở Nam Á , trong đó có 134 loài thuộc Calamus, 22 loài thuộc Daemonorops, 7 loài trong Worthalsia,1 loài thuộc Myrialepis, 5 loài thuộc Plectocomia và 2 loài thuộc Plectocomiopsis.

Evans và các cộng sự, năm 2000 đã phát hiện và mô tả 4 loài mới thuộc chi Calamus ở Lào và Thái Lan, xuất bản cuốn sách hƣớng dẫn thực địa về song mây (2001), trong đó mô tả, xác định phân bố của 31 loài song mây ở Lào. K Eang Hourt đã xuất bản cuốn sách hƣớng dẫn thực địa về song mây (2008), trong đó mộ tả và xác định phân bố của 18 loài song mây ở Căm Pu Chia Đặc điểm hình thái đƣợc Xu Huang và cộng sự 2000 nghiên cứu ở Trung Quốc, Nhân tố sinh thái ảnh hƣởng đến sự phục hồi và sinh trƣởng của song mây đƣợc Manokaran, N. (1985) nghiên cứu ở một số tỉnh của Trung Quốc cho một số loài C, Egregius,C, simplicifolius và C. Nambariensis Ảnh hƣởng của điều kiện thổ nhƣỡng đến sinh trƣởng của song mây đã đƣợc Janmahasatien (2005) và Rao et al.

Điều kiện thổ nhƣỡng, thực vật, tiểu khí hậu, độ chín của hạt, sự hình thành và giai đoạn phát triển của thân cây, VV đƣợc Manokaran N. A, B Lapis và cộng sự (2005) nghiên cứu ở Indonesia về bảo quản quả. Nghiên cửu tại Ấn Độ về bảo quản hạt (J, KRawat, D. Yin (2000) nghiên cứu về phƣơng pháp bảo quản và xác định tỷ lệ nảy mầm hạt giống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ