ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng do Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLR) Nam Huoai quản lý nằm trên địa bàn huyện Đạ Huoai, là một huyện phía nam của tỉnh Lâm Đồng, được giao quản lý, sử dụng 17.23ha rừng và đất. Trong đó kiểu rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới (Rkx) ở BQLR Nam Huoai có diện tích 9.608,0 ha, độ che phủ khoảng 55,4% diện tích đất tự nhiên của BQLR Nam Huoai có ý nghĩa to lớn về phòng hộ đầu nguồn, kinh tế, quốc phòng và bảo vệ môi trường sống. Tuy nhiên, cùng với sự mất rừng do nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng tăng cao, mặt khác do tầm quan trọng và giá trị trực tiếp của tài nguyên rừng đối với cuộc sống của con người rất lớn như gỗ trong xây dựng, đồ thủ công mỹ nghệ…. Bên cạnh đó, nhận thức của người dân còn thấp và năng lực quản lý của các cơ quan chức năng còn hạn chế, cộng với các giải pháp quản lý bảo vệ và phát triển rừng chưa cụ thể, chưa sâu sát nên hiệu quả bảo vệ rừng chưa cao làm cho kiểu rừng Rkx ở đây cũng bị suy giảm về diện tích.
Nhiều nhà Lâm học (Richards, 1952, 1965 [12, 13]; Kimmins, 1998 [27]; Thái văn Trừng, 1999 [19]) đã chỉ ra rằng, quản lý rừng, bảo vệ rừng và những phương thức lâm sinh đòi hỏi phải có những kiến thức về các loại rừng. Năm 2009, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [3] đã ban hành thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT về “Quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng” phục vụ điều tra, kiểm kê, thống kê rừng, quy hoạch bảo vệ phát triển rừng, quản lý tài nguyên rừng và xây dựng các chương trình và dự án lâm nghiệp. Theo thông tư này, rừng nước ta được phân chia dựa theo các mục đích sử dụng, nguồn gốc hình thành, điều kiện lập địa, loài cây và trữ lượng. Căn cứ vào trữ lượng gỗ, rừng gỗ được phân chia thành 5 loại phụ: rừng rất giàu, rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo và rừng chưa có trữ lượng.
Rừng rất giàu, rừng giàu, rừng trung bình và rừng nghèo tương ứng là rừng có trữ lượng cây đứng (M, m3/ha) trên 300, 201 - 300, 101 - 200 và 10 – 100 m3/ha. Những phương thức lâm sinh được xây dựng dựa trên những thông tin về điều kiện tự nhiên (lập địa), kết cấu loài cây gỗ (tổ thành rừng), cấu trúc, tái sinh và đa dạng loài cây gỗ của rừng. BQLR Nam Huoai được giao quản lý 17.23ha rừng và đất trong đó nhóm rừng giàu có diện tích là 555,06ha; rừng trung bình có diện tích là 6.691,58ha; rừng phục hồi, rừng hỗn giao và rừng lồ ô có diện tích là 6.66ha; Rừng trồng và đất khác có diện tích là 2. Hai nhóm rừng giàu và trung bình ở BQLR Nam Huoai có tổng diện tích 7.
Đây là đối tượng rừng có thể cung LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 cấp gỗ cho kinh doanh gỗ dùng trong xây dựng nhà ở, công trình xây dựng và xuất khẩu. Thế nhưng, cho đến nay khoa học và thực tiễn vẫn còn thiếu những thông tin về kết cấu loài cây gỗ, cấu trúc quần thụ, tình trạng tái sinh đối với hai nhóm rừng này. Vì thế, ngành lâm nghiệp của tỉnh Lâm Đồng đã gặp nhiều khó khăn trong việc hướng dẫn quản lý rừng và xác định những phương thức lâm sinh đối với hai nhóm rừng này. Xuất phát từ đó, đề tài “Đặc điểm lâm học của nhóm rừng giàu và rừng trung bình thuộc kiểu rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới ở Ban quản lý rừng Nam Huoai, tỉnh Lâm Đồng" đã được đặt ra.
Kết quả của đề tài này mang lại những ý nghĩa khác nhau. Về lý luận, đề tài cung cấp những thông tin để phân tích so sánh kiểu Rkx ở mức địa phương, vùng và quốc gia. Về thực tiễn, đề tài cung cấp những thông tin để làm cơ sở cho quản lý rừng và xây dựng những phương thức lâm sinh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.
Tình hình chung Vào thập niên 50 và 60 của thế kỷ XX, một số nhà Lâm học người Pháp (Maurand, 1952;, Rollet, 1952; Vidal, 1958 và Schmid, 1962) đã có những khảo sát về hệ thực vật rừng Đông Dương. Sau này một số tác giả (Lý Văn Hội, 1969; Thái Văn Trừng, 1978, 1999; Võ Văn Chi, 1987) [Dẫn theo Thái Văn Trừng, 1999) [19] đã tiếp tục đi sâu nghiên cứu về rừng Việt Nam. Theo Thái Văn Trừng (1999)[19], nếu dựa vào những nhân tố sinh thái phát sinh quần thể, thì thảm thực vật rừng Việt Nam có thể được phân loại thành nhiều kiểu khác nhau. Ông cũng cho rằng, đơn vị phân loại cơ bản đối với rừng nhiệt đới là quần hệ và xã hợp thực vật.
Quần hệ thực vật được phân loại thông qua hình thái và cấu trúc của thảm thực vật, còn xã hợp thực vật được phân loại theo thành phần loài cây. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, khi phân tích quần xã thực vật rừng, nhà Lâm học cần phải làm rõ điều kiện hình thành, thành phần loài cây, kết cấu và cấu trúc rừng, tình trạng tái sinh rừng [3, 19, 20, 22, 35 - 30]. Những nghiên cứu về cấu trúc rừng Theo Richards (1952)[12, 13], Ashton, 1992[25] và Thái Văn Trừng, 1999) [19], đối với rừng mưa nhiệt đới, cấu trúc tán rừng, vị trí cây trong tán rừng và động thái biến đổi của quần thụ có thể được mô tả bằng những trắc đồ dọc và ngang. Sau này nhiều nhà Lâm học cũng đã ứng dụng phương pháp trắc đồ rừng để mô tả cấu trúc rừng nhiệt đới.
Tuy vậy, phương pháp mô tả cấu trúc rừng bằng biểu đồ trắc diện có nhược điểm là không định lượng được những đặc trưng cấu trúc rừng. Để khắc phục nhược điểm này, ngày nay nhiều nhà Lâm học đã ứng dụng toán học để mô tả cấu trúc rừng. Meyer đã mô tả phân bố đường kính thân cây (N/D) của rừng tự nhiên bằng hàm số mũ có dạng y = k*exp(-αx); trong đó y là tần số, x là đường kính, k và α là tham số, e là cơ số neper. Ở Việt Nam, những nghiên cứu cấu trúc rừng theo hướng định lượng cũng đã được nhiều nhà lâm học sử dụng.
Đổng Sĩ Hiền (1974)(Dẫn theo [16, 17, 18]) đã sử dụng hàm phân bố Meyer và hệ đường cong Poisson và Pearson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên. Nguyễn Văn Trương (1984)[16] đã mô tả cấu trúc rừng hỗn loài bằng những hàm phân bố xác suất khác nhau. Nguyễn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Hải Tuất (1982; 1990)[18] đã sử dụng phân bố khoảng cách để mô tả cấu trúc N/D của rừng tự nhiên. Sau này Lê Minh Trung (1991)[14] và Lê Sáu (1996)[15] cũng đã ứng dụng những mô hình toán để phân tích cấu trúc rừng tự nhiên ở vùng Tây Nguyên.
Những nghiên cứu về kết cấu loài cây gỗ và đa dạng loài cây gỗ Khi nghiên cứu về rừng, thành phần loài cây và vai trò của chúng trong quần xã là những vấn đề đáng quan tâm. Nhiều nhà Lâm học (Richards, 1965[13]; Baur, 1976 [1]; Thái Văn Trừng, 1999 [19]) cho rằng, rừng được hình thành bởi những loài cây khác nhau. Vì thế, khi phân tích kết cấu loài cây gỗ (tổ thành cây gỗ), nhà lâm học cần phải xác định chính xác tên loài cây và tỷ trọng của mỗi loài. Dựa vào những loài cây hình thành rừng, Richards đã phân chia rừng mưa nhiệt đới thành hai nhóm.
Nhóm 1 là rừng mưa hỗn hợp với nhiều loài cây ưu thế. Nhóm 2 là rừng mưa đơn ưu thế. Curtis và McIntosh (1951)(Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2010[22]) đã sử dụng thuật ngữ giá trị quan trọng của loài (IV) để biểu thị cho vai trò của loài trong quần xã. Chỉ số IV được tính bằng tổng độ thường gặp tương đối (F%), mật độ tương đối (N%) và tiết diện ngang thân cây tương đối (G%).
Phương pháp của Curtis và McIntosh (1951) có một số nhược điểm: (a) chỉ số IV thay đổi tùy theo kích thước và số lượng ô mẫu; (b) F% chỉ có ý nghĩa khi phân bố của loài là ngẫu nhiên. Ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (1999) [19] đã sử dụng N%, G% và V% để biểu thị cho vai trò của loài trong quần xã. Dựa theo ba tham số này, những quần xã thực vật rừng được phân chia thành những quần hợp, ưu hợp và phức hợp. Đối với cây bụi, chỉ tiêu đo đếm là thành phần loài và độ phong phú của loài.
Độ phong phú của loài được đánh giá dựa theo chiều cao và độ che phủ của tán lá trên mặt đất. Độ phong phú của thảm cỏ được đánh giá theo phần trăm độ che phủ của thảm cỏ trên mặt đất. Trong tính toán, bảy cấp độ phong phú của Druze được mã hóa theo thứ tự từ 0 – 6. Ngày nay đa dạng sinh vật là mối quan tâm lớn đối với mỗi quốc gia (Gaston, 2000 [26]; Magurran, 2004 [28]) bởi vì đa dạng sinh vật có ý nghĩa lớn đối với quy hoạch rừng, bảo tồn đa dạng sinh vật, đời sống cộng đồng và kinh tế.
Theo Whittaker LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đa dạng gamma bao gồm đa dạng alpha (α) và đa dạng beta (β). Đa dạng alpha là đa dạng sinh vật trong một vi môi trường sống nhất định hoặc một ô mẫu nhất định. Đa dạng alpha được xác định bằng những chỉ số đa dạng loài bình quân trong một quần xã sinh vật nhất định.
Đa dạng beta là đa dạng loài của nhiều quần xã sinh vật trong những môi trường khác nhau. Đa dạng beta được xác định bằng cách gộp chung nhiều quần xã trong những môi trường khác nhau. Đa dạng sinh vật phụ thuộc vào vị trí địa lý (vĩ độ, kinh độ), độ cao địa hình, khí hậu, thời gian hình thành môi trường, những rối loạn trong môi trường, cấu trúc và trạng thái diễn thế của quần xã…Đa dạng sinh vật của một khu vực nào đó được xác định thông qua ba số đo: sự giàu có về loài, đa dạng loài và phân bố độ phong phú hay độ ưu thế của loài (Kimmins, 1998 [27]; Magurran, 2004 [28]). Sự giàu có về loài của quần xã được biểu thị bằng số loài bắt gặp và có thể được đo bằng chỉ số của Margalef và chỉ số Menhinick.
Đa dạng loài thường được đo bằng các chỉ số của Simpson (1949), Shannon-Weiner (1948, 1949), McIntosh (1967), Berger-Parker (1970), Hill (1973) và Brillouin (Magurran, 2004 [28]). Chỉ số ưu thế Simpson được sử dụng để xác định đa dạng sinh vật của những quần xã sinh vật ở một môi trường nhất định (đa dạng Alpha).