Tổng quan luận án
Hiện tượng trượt đất đá tại khu vực miền núi phía Bắc (MNPB) Việt Nam đang có xu hướng diễn biến phức tạp và gây ra thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Báo cáo năm 2018 của Ngân hàng Thế giới ghi nhận thảm họa thiên tai tại Việt Nam có chiều hướng gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ. Theo kết quả điều tra của Đề án "Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt đất đá các vùng miền núi Việt Nam", số lượng các điểm trượt quy mô nhỏ và rất nhỏ chiếm số lượng lớn nhưng tổng thể tích lại nhỏ hơn nhiều so với các khối trượt lớn (KTL). Mặc dù tần suất xuất hiện của KTL không nhiều, sự cố mất ổn định của các khối trượt này gây ra sức tàn phá nặng nề đối với khu dân cư, hạ tầng giao thông, hệ thống truyền tải điện và đất canh tác. Các sự kiện điển hình được ghi nhận gồm có: đợt mưa lớn năm 2007–2008 tại thị trấn Cốc Pài (huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang), nơi trụ sở Ủy ban nhân dân huyện và các phòng ban nằm trọn trên một khối trượt có chiều dài 350–500 m, chiều rộng 150–200 m; vụ sạt trượt tại chợ Tân Sơn (xã Nấm Dẩn) vào tháng 7 năm 2012 làm sập đổ hoàn toàn nhà ở của 5 hộ dân và phá hủy một phần khu chợ; cùng hàng loạt KTL khác phân bố tại các xã Bản Díu, Chế Là, Quảng Nguyên, Nà Chì.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tế: các công trình trước đây phần lớn mới dừng lại ở việc khảo sát, mô tả hiện trạng đơn lẻ cho từng điểm sạt trượt cụ thể mà chưa có sự hệ thống hóa các đặc trưng hình thái, thể tích và cơ chế phát triển KTL trên quy mô toàn vùng MNPB. Đồng thời, việc ứng dụng các mô hình học máy kết hợp phân tích thống kê không gian để đánh giá nguy cơ trượt khối lớn còn hạn chế; công tác quan trắc hiện trường dài hạn bằng thiết bị địa kỹ thuật chuyên sâu nhằm lượng hóa các thông số kích hoạt tức thời (đặc biệt là biến thiên áp lực nước lỗ rỗng) phục vụ cảnh báo sớm vẫn chưa được thiết lập đồng bộ.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:
- Làm sáng tỏ đặc điểm hiện trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển KTL ở MNPB.
- Làm sáng tỏ đặc điểm động lực học của quá trình phát triển KTL bằng các công nghệ quan trắc hiện trường tại huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang (XM-HG).
Các luận điểm bảo vệ của luận án được xác định gồm:
- Luận điểm 1: Khối trượt lớn ở khu vực MNPB được đặc trưng bởi thể tích lớn hơn 4.500 m³, phần lớn thuộc loại trượt tịnh tiến và hỗn hợp, có mặt trượt trùng với mặt không liên tục về thành phần thạch học hoặc khe nứt kiến tạo.
- Luận điểm 2: Kiến tạo, thạch học, độ dốc địa hình và hoạt động nhân sinh được xác định là các yếu tố chính dẫn đến sự hình thành KTL ở MNPB dựa trên cơ sở phân tích tổng hợp các mô hình thống kê và học máy.
- Luận điểm 3: Dịch chuyển khối trượt lớn tại XM-HG là quá trình không đồng nhất, không liên tục, trong đó dịch chuyển tăng lên đáng kể khi hệ số áp lực nước lỗ rỗng ($r_u$) ở vị trí mặt trượt $\ge 0,53$.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các KTL ở khu vực MNPB và nghiên cứu chi tiết động lực học KTL tại địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang. Giới hạn đối tượng nghiên cứu loại trừ: dòng lũ bùn đá, các khối trượt hình thành trực tiếp do hoạt động khai thác khoáng sản, xây dựng và vận hành các công trình thủy điện - thủy lợi.
Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 15 tỉnh MNPB (Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Quảng Ninh) với tổng diện tích 95.860 km²; phạm vi nghiên cứu chi tiết tập trung tại huyện Xín Mần gồm 17 đơn vị hành chính cấp xã, diện tích 582 km². Phạm vi thời gian sử dụng chuỗi số liệu khảo sát, thu thập và kế thừa từ năm 2002 đến năm 2021; dữ liệu quan trắc địa kỹ thuật hiện trường chuyên sâu được duy trì thực hiện liên tục từ năm 2017 đến năm 2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới cho thấy khái niệm và phân loại trượt đất đá đã được phát triển qua nhiều giai đoạn. David Varnes (1958) đặt nền móng phân loại trượt đất đá dựa trên loại vật liệu và kiểu dịch chuyển, sau đó được Cruden & Varnes (1996) hoàn thiện định nghĩa chuẩn hóa cho Hiệp hội Quốc tế về Trượt đất đá (ICL). Agliardi (2012) mô tả KTL là các khối đất đá dịch chuyển có thể tích lớn, mặt trượt sâu và vận tốc chậm kéo dài. Lo (2017) khảo sát tại Đài Loan đưa ra tiêu chí KTL có diện tích bề mặt lớn hơn 10 ha và chiều sâu mặt trượt trên 5 m. Roering và cộng sự (2015) xác định ngưỡng diện tích bề mặt KTL lớn hơn 0,1 km². Lômtadze (1979) định nghĩa khối trượt dựa trên sự phá hủy cân bằng sườn dốc dưới tác động của trọng lực, áp lực thủy động và hoạt động kiến tạo. Fell (1994) và ICL phân cấp thể tích trượt đất đá thành 7 mức độ khác nhau:
| Cấp phân loại |
Thể tích theo ICL ($m^3$) |
Thể tích theo Fell (1994) ($m^3$) |
Thể tích theo Lômtadze ($m^3$) |
Mô tả quy mô |
| Cấp 7 |
$> 10^8$ |
$> 5 \times 10^6$ |
$> 200.000$ |
Đặc biệt lớn |
| Cấp 6 |
$10^7 - 10^8$ |
$10^6 - 5 \times 10^6$ |
- |
Rất lớn |
| Cấp 5 |
$10^6 - 10^7$ |
$25 \times 10^4 - 10^6$ |
$> 1.000$ |
Lớn |
| Cấp 4 |
$10^5 - 10^6$ |
$5 \times 10^4 - 25 \times 10^4$ |
- |
Trung bình – Lớn |
| Cấp 3 |
$10^4 - 10^5$ |
$5 \times 10^3 - 5 \times 10^4$ |
$200 - 1.000$ |
Trung bình |
| Cấp 2 |
$10^3 - 10^4$ |
$500 - 5.000$ |
$10 - 200$ |
Nhỏ |
| Cấp 1 |
$< 10^2$ |
$< 500$ |
$< 10$ |
Rất nhỏ |
Về cơ chế dịch chuyển, Leroueil (2001) mô hình hóa 4 giai đoạn phát triển của khối trượt: tiền mất ổn định, bắt đầu mất ổn định, sau khi mất ổn định và kích hoạt lại. Về phương pháp khảo sát và mô phỏng, Barry Voight (1978) khởi xướng việc quan trắc cơ chế KTL tại Bắc Mỹ; Strozzi và cộng sự (2013) dùng 205 bộ ảnh bay chụp qua 50 năm để phân tích KTL Osco (Thụy Sỹ); Chen (2016) sử dụng thiết bị bay không người lái (UAV) quan trắc sự mở rộng vách trượt Tsaoling (Đài Loan) từ năm 1931 đến 2002; Crosta và cộng sự (2002), Doug Stead (2013) ứng dụng phần tử hữu hạn phân tích ứng suất và nước ngầm; Moriwaki và cộng sự (2004) dùng máng trượt mưa nhân tạo nghiên cứu sự gia tăng áp lực nước lỗ rỗng; Oldrich Hungr (1995) thiết lập mô hình dòng chảy cho khối trượt lở tuyết, tiền thân của phần mềm LS-Rapid. Về quan trắc, hệ thống cảm biến GPRS tại Khai Dương (Quý Châu, Trung Quốc) và công nghệ radar giao thoa mặt đất T-InSAR tại tu viện Scholastica (Subiaco, Italia) đã chứng minh hiệu quả trong việc đo chuyển vị bề mặt.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu địa chất công trình truyền thống của Nguyễn Thanh, Hồ Chất từ trước năm 1990 tập trung vào hiện trạng sạt trượt phục vụ công trình khai khoáng và tái định cư. Sau năm 1990, các nghiên cứu xử lý nứt trượt đồi Khau Cả, đồi Khí Tượng (Sơn La) và đồi Ông Tượng (Hòa Bình) của Viện Địa chất làm rõ vai trò của đới đứt gãy kiến tạo và tác động nhân sinh (chiếm 85% vị trí trượt dọc taluy đường giao thông). Đề án 15 tỉnh MNPB do Lê Quốc Hùng chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) trượt lở nhưng còn hạn chế trong việc phân loại chi tiết KTL. Đề tài VT/UD-03/13-15 của Trần Quốc Cường đã ứng dụng ảnh viễn thám nhận diện cấu trúc địa chất tai biến. Đề tài ĐTĐL.CN-23/17 tại Quảng Nam ghi nhận các KTL dọc Quốc lộ 40B, đường Hồ Chí Minh và hiện tượng trượt đất tạo sóng thần trên sông Trường. Về mô hình số và quan trắc, Bùi Tiến Diệu và cộng sự (2016) so sánh chỉ số thống kê (LSI) và hồi quy logistic tại Hòa Bình; Đỗ Minh Đức và cộng sự (2013, 2018) nghiên cứu ổn định mái dốc và ngưỡng mưa kích hoạt; Đoàn Huy Lợi và cộng sự (2017) mô phỏng dòng bùn đá; các hệ thống quan trắc inclinometer và piezometer tự động từng bước được lắp đặt tại Đồi Ông Tượng (2005) và thị trấn Cốc Pài (đề tài KC.33/06-10).
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết bao gồm:
- Xác lập tiêu chí thể tích định lượng để nhận diện và khoanh vùng KTL đặc thù cho vùng MNPB thay vì áp dụng nguyên mẫu các bảng phân loại quốc tế.
- Khắc phục hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến điều kiện tự nhiên - nhân sinh trong đánh giá nguy cơ trượt quy mô toàn vùng bằng cách kết hợp trung bình hóa mô hình theo Bayes (BMA) với các thuật toán học máy (SVM, ANN, Stacking Ensemble).
- Lượng hóa tương quan chuỗi thời gian giữa dao động áp lực nước lỗ rỗng ($u_w$, $r_u$) và vận tốc dịch chuyển sâu trong hố khoan tại khu vực huyện Xín Mần, thiết lập ngưỡng giá trị phục vụ cảnh báo sớm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng hai cách tiếp cận chủ đạo:
- Tiếp cận phân tích hệ thống (Hoàng Tụy, 1987): Coi sự hình thành và phát triển của KTL là một hệ thống mở trong môi trường tự nhiên, vận hành theo toán tử chuyển trạng thái:
$$x(t_s) = G(x(t_0), u(.), t_0, t_s)$$
Trong đó $x(t_0)$ là trạng thái ban đầu, $u(.)$ là tập hợp các tác động điều khiển nằm trong không gian hàm $U = {u_1(x), u_2(x, t), u_3(x, t)}$:
- $u_1(x)$: Các yếu tố biến đổi rất chậm hoặc không đổi theo thời gian (thành phần thạch học, cấu trúc kiến tạo, cấu trúc vỏ phong hóa, hình thái địa hình).
- $u_2(x, t)$: Các yếu tố biến đổi chậm theo không gian và thời gian (thủy văn, khí hậu, hiện trạng sử dụng đất, hoạt động xây dựng công trình).
- $u_3(x, t)$: Các yếu tố biến đổi rất nhanh theo thời gian (các trận mưa cực đoan, áp lực dòng thấm tức thời).
| Nhóm biến tác động |
Yếu tố môi trường |
Rất chậm |
Chậm |
Nhanh |
Rất nhanh |
| $u_1(x)$ (Hình thành) |
Thạch học, Kiến tạo, Vỏ phong hóa, Địa hình |
x |
- |
- |
- |
| $u_2(x, t)$ (Hình thành/Môi trường) |
Thủy văn, Sử dụng đất, Hoạt động nhân sinh |
- |
x |
x |
- |
| $u_2(x, t)$ (Hình thành) |
Khí hậu (lượng mưa trung bình năm) |
- |
x |
- |
- |
| $u_3(x, t)$ (Kích hoạt) |
Mưa trận, Áp lực nước lỗ rỗng tức thời |
- |
- |
- |
x |
- Tiếp cận tích hợp chuỗi thời gian: Lồng ghép các dữ liệu ghi nhận không đồng nhất (dữ liệu viễn thám đa thời kỳ, quan trắc mưa tự động theo giờ, số liệu đo nghiêng inclinometer và áp lực nước piezometer theo ngày/chu kỳ) để tái hiện diễn biến dịch chuyển chậm và các pha chuyển dịch gia tốc của khối trượt.
Khung logic nghiên cứu triển khai qua 8 bước: (1) Tổng hợp CSDL hiện trạng trượt; (2) Phân tích tương quan, đa cộng tuyến (VIF) và thành phần chính (PCA); (3) Xây dựng mô hình nhạy cảm/nguy cơ tối ưu bằng BMA, hồi quy logistic, SVM, ANN; (4) Tổng hợp sự kiện và thống kê phạm vi ảnh hưởng; (5) Phân tích chuỗi thời gian dữ liệu quan trắc địa kỹ thuật; (6) Mô phỏng số ổn định (Seep/W, Slope/W) và phạm vi vận động (LS-Rapid); (7) Phân tích chi tiết cấu trúc địa chất tại các điểm trượt đại diện; (8) Đề xuất giải pháp nhận diện, quy hoạch và cảnh báo sớm.
Hệ phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm:
- Phương pháp khảo sát thực địa: Đo vẽ, lập phiếu điều tra cho 26 KTL; điều tra phỏng vấn nhân dân địa phương; khoan khảo sát sâu bằng máy khoan XJ-1A (sử dụng ống nòng đôi T6, không dùng dung dịch khoan, lưu mẫu nguyên dạng vào khay chuẩn 5 m) tại 2 vị trí KTL Tân Sơn và Díu Thượng; mô tả vỏ phong hóa (VPH) theo bảng phân loại 6 đới của Garet Hearn (1995):
| Ký hiệu |
Tên lớp phong hóa |
Đặc điểm nhận dạng thạch học và cấu trúc |
| edQ |
Đất sườn - tàn tích |
Vật liệu vụn thô lẫn lộn cuội tảng, dịch chuyển hoặc lắng đọng trên sườn. |
| VI |
Phong hóa triệt để |
Đá gốc bị biến đổi hoàn toàn thành đất, mất kiến trúc ban đầu. |
| V |
Phong hóa hoàn toàn |
Đá gốc chuyển thành đất mịn nhưng còn giữ vết tích cấu trúc khối gốc. |
| IV |
Phong hóa mạnh |
Trên 50% khối đá chuyển thành đất, đá biến đổi màu sắc phân bố gián đoạn. |
| III |
Phong hóa trung bình |
Dưới 50% khối đá bị biến thành đất, đá nứt nẻ, phân bố liên tục. |
| II |
Phong hóa yếu |
Đá nứt nẻ nhẹ, đổi màu dọc khe nứt, tính chất cơ lý suy giảm ít. |
| I |
Đá tươi |
Đá nguyên khối, không có biểu hiện phong hóa hóa học hoặc cơ học. |
- Phương pháp UAV và xử lý ảnh: Sử dụng thiết bị bay tự động chụp ảnh độ phân giải cao; xử lý dữ liệu bằng phần mềm Agisoft Metashape dựa trên phương pháp tam giác không gian ảnh và bình sai đa tia, thành lập mô hình số bề mặt (DSM), mô hình số độ cao (DEM) và ảnh trực giao (Orthomosaic). Ước lượng thể tích hình học theo công thức của Jaboyedoff và cộng sự (2020):
$$V = \frac{\pi}{6} \times D \times W \times L$$
- Phương pháp thống kê và học máy: Ứng dụng kiểm định phân phối Cullen & Frey xác định hàm phân phối thể tích; phân tích tương quan Pearson/Spearman; kiểm định hệ số lạm phát phương sai (VIF) nhằm loại bỏ đa cộng tuyến; chạy hồi quy logistic qua BMA, mạng neural nhân tạo (ANN), máy vector hỗ trợ (SVM) và mô hình Stacking Ensemble trên phần mềm chuyên dụng; kiểm tra độ chính xác bằng ma trận nhầm lẫn, chỉ số Cohen's Kappa, đường cong ROC và chỉ số AUC.
- Nhóm phương pháp quan trắc hiện trường: Lắp đặt cảm biến piezometer đo áp lực nước lỗ rỗng ($u_w$, PWP), cảm biến inclinometer đo chuyển vị ngang theo chiều sâu thân hố khoan; kết hợp trạm đo mưa tự động Imetos và công nghệ radar giao thoa mặt đất T-InSAR đối sánh độ dịch chuyển.
- Nhóm mô hình số địa kỹ thuật: Sử dụng bộ phần mềm GeoStudio (phân hệ Seep/W mô phỏng áp lực nước lỗ rỗng và Slope/W kiểm toán hệ số ổn định $FoS$ theo phương pháp cân bằng giới hạn Morgenstern-Price); ứng dụng phần mềm LS-Rapid tích hợp các thông số thí nghiệm cắt xoay vòng trong phòng để mô phỏng động học sạt lở và phạm vi ảnh hưởng ($L_f$).
Nguồn tư liệu, dữ liệu sử dụng:
- CSDL hiện trạng trượt đất đá kế thừa từ Đề án 15 tỉnh MNPB do Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản thực hiện.
- 19 tờ bản đồ địa chất và khoáng sản tỷ lệ 1:200.000 xuất bản năm 2005.
- 51 tấm ảnh vệ tinh Alos Palsar năm 2010 độ phân giải $12,5 \times 12,5$ m do NASA và JAXA cung cấp.
- Ảnh viễn thám Landsat 8 (thu nhận từ ngày 03/12/2019 đến 26/12/2019) phục vụ chiết xuất chỉ số thực vật NDVI.
- Bản đồ địa hình, hệ thống giao thông, mạng lưới sông suối tỷ lệ 1:50.000.
- Bản đồ đẳng mưa từ Atlas khí hậu và số liệu quan trắc mưa giờ của các trạm khí tượng thủy văn khu vực Việt Bắc.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan các nghiên cứu về khối trượt lớn trên thế giới và Việt Nam
Chương này tổng kết toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về trượt đất đá khối lớn. Tác giả phân tích các khái niệm từ Varnes (1958), Cruden & Varnes (1996), Lômtadze (1979) đến Agliardi (2012), làm rõ sự khác biệt giữa trượt sâu và trượt nông. Luận án tổng hợp bảng phân loại thể tích quốc tế của Fell (1994) và ICL, nhấn mạnh rằng KTL thường có vận tốc dịch chuyển phức tạp, từ trượt chậm tích lũy biến dạng đến sụt trượt nhanh bất ngờ. Chương 1 điểm lại các phương pháp khảo sát hiện trạng (khoan nòng ba kết hợp dung dịch polymer của JICA tại Đèo Hải Vân, ảnh bay chụp đa thời kỳ tại Thụy Sỹ và Đài Loan), các cách tiếp cận lập bản đồ nguy cơ (USGS California, AHP, hồi quy logistic, SVM, ANN), các mô hình mô phỏng ổn định và động lực học (Crosta, Moriwaki, LS-Rapid của Oldrich Hungr). Đối với Việt Nam, tác giả tổng kết các kết quả quan trắc tại Đồi Ông Tượng (Hòa Bình), Cốc Pài (Hà Giang) và tai biến trượt lở tại Quảng Nam, qua đó chỉ ra 3 vấn đề then chốt cần giải quyết: định lượng ranh giới thể tích KTL cho vùng MNPB, tối ưu hóa mô hình đánh giá nguy cơ trên diện rộng và tích hợp chuỗi thời gian quan trắc địa kỹ thuật để xác định ngưỡng kích hoạt trượt tại huyện Xín Mần.
Chương 2. Cách tiếp cận và hệ phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày chi tiết cơ sở phương pháp luận và các công cụ kỹ thuật thực hiện. Tác giả luận chứng cách tiếp cận phân tích hệ thống dựa trên mô hình toán tử chuyển trạng thái của Hoàng Tụy (1987) nhằm phân tách 8 nhóm yếu tố tác động vào hệ thống ($u_1, u_2, u_3$). Tiếp cận tích hợp chuỗi thời gian được thiết lập để kết nối dữ liệu quan trắc liên tục với các sự kiện sạt trượt trong quá khứ. Khung logic nghiên cứu 8 bước được cụ thể hóa bằng hệ phương pháp: khảo sát đo vẽ thực địa 26 KTL; quy trình khoan khảo sát bằng máy XJ-1A lấy mẫu nòng đôi T6 mô tả 6 đới VPH theo Garet Hearn; quy trình bay chụp UAV và xử lý mô hình bề mặt DSM/DEM trên Agisoft Metashape bằng phương pháp bình sai đa tia; thuật toán BMA kết hợp kiểm định đa cộng tuyến VIF nhằm lựa chọn biến tối ưu cho các mô hình máy học (Logistic, SVM, ANN); quy chuẩn thiết kế, lắp đặt trạm quan trắc hiện trường (piezometer, inclinometer, T-InSAR); quy trình kiểm toán ổn định mái dốc bằng Seep/W, Slope/W và mô phỏng động học trượt dòng chảy hạt bằng LS-Rapid dựa trên thí nghiệm cắt xoay vòng.
Chương 3. Đặc điểm các khối trượt lớn ở miền núi phía Bắc
Chương 3 tập trung làm sáng tỏ đặc trưng hình thái, cấu trúc và phân phối quy mô của KTL tại MNPB. Dựa trên CSDL trượt lở toàn vùng, tác giả áp dụng biểu đồ kiểm định Cullen & Frey đối với logarit thể tích khối trượt ($V_{log}$), chứng minh dữ liệu tuân theo phân phối tiệm cận Log-normal và Beta. Từ phân phối mật độ xác suất xuất hiện, luận án xác định giá trị ranh giới thể tích KTL ở MNPB là $V \ge 4.500 \text{ m}^3$. Kết quả khảo sát đo vẽ chi tiết 26 KTL điển hình cho thấy chiều sâu mặt trượt ($D_r$) biến thiên từ 5 m đến hơn 20 m. Về hình thái, KTL đặc trưng bởi vách trượt chính dạng vòm cung, bề mặt thân trượt gồ ghề dạng gợn sóng, xuất hiện nhiều vách trượt thứ cấp (như vách trượt cao 1,5 m tại Bắc Yên, Sơn La) và các rãnh xói sâu từ 0,5 m đến hơn 2 m (như tại chợ Tân Sơn, Nấm Dẩn). Phân tích 6 mặt cắt VPH điển hình (Díu Hạ, Bắc Yên, Nậm Búng, Thác Khanh, Móng Sến, Cốc Pài, Chế Cu Nha) chứng minh mặt trượt của KTL phần lớn không nằm trong tầng đất bở rời đồng nhất mà trùng khớp với các mặt không liên tục về thành phần thạch học, mặt tiếp xúc giữa đới VPH triệt để/hoàn toàn (lớp VI, V) với đá gốc phong hóa yếu (lớp II, III), hoặc phát triển dọc theo hệ thống khe nứt kiến tạo. Về loại hình, trượt tịnh tiến và trượt hỗn hợp chiếm tỷ lệ áp đảo. Diễn biến dịch chuyển KTL mang tính mở rộng liên tiếp qua thời gian, điển hình như KTL Chế Cu Nha (Mù Cang Chải) mở rộng quy mô rõ rệt qua các mốc ảnh vệ tinh năm 2010, 2016 và 2020.
Chương 4. Đánh giá nguy cơ hình thành khối trượt lớn ở miền núi phía Bắc
Chương 4 phân tích mối quan hệ giữa hiện trạng phân bố KTL với 14 yếu tố ảnh hưởng thuộc các nhóm: thạch học (thành phần đá, khoảng cách ranh giới thạch học), kiến tạo (khoảng cách đứt gãy), địa hình (cao độ, hướng dốc, độ dốc, độ cong ngang, độ cong dọc, độ sâu thung lũng, chỉ số ẩm ướt địa hình TWI), thủy văn (khoảng cách sông suối, lượng mưa trung bình năm, lượng mưa trận lớn nhất), thảm phủ (chỉ số NDVI) và nhân sinh (khoảng cách đường giao thông). Phân tích tương quan cặp đôi và kiểm định đa cộng tuyến (VIF) được thực hiện để loại bỏ các biến phụ thuộc. Phương pháp BMA được ứng dụng để sàng lọc tổ hợp biến tối ưu cho mô hình hồi quy logistic. Kết quả phân tích xác định 4 nhóm yếu tố chi phối mạnh nhất đến sự hình thành KTL tại MNPB gồm: cấu trúc kiến tạo (đới dập vỡ đứt gãy), thành phần thạch học (đá biến chất, đá gắn kết yếu), độ dốc địa hình và hoạt động nhân sinh (đặc biệt là việc bạt mái taluy làm đường giao thông). Tác giả tiến hành huấn luyện (80% dữ liệu) và kiểm định (20% dữ liệu) trên 4 mô hình: Hồi quy Logistic, SVM, ANN và mô hình tổng hợp xếp chồng (Stacking Ensemble). Kết quả đánh giá bằng đường cong ROC cho thấy các mô hình đều đạt chỉ số diện tích dưới đường cong AUC $> 0,80$, trong đó mô hình học máy cho độ tin cậy phân tách không gian cao nhất. Bản đồ nguy cơ hình thành KTL tỷ lệ 1:200.000 được thành lập, chỉ rõ các diện tích có nguy cơ rất cao và cao tập trung dọc theo các đới đứt gãy lớn và các hành lang giao thông huyết mạch.
Chương 5. Phân tích đặc điểm động lực học khối trượt lớn khu vực huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang
Chương 5 đi sâu phân tích động lực học KTL tại huyện Xín Mần dựa trên kết quả ghi đo từ trạm quan trắc hiện trường tại chợ Tân Sơn (xã Nấm Dẩn) và thôn Díu Thượng (xã Bản Díu). Trạm quan trắc được trang bị cảm biến đo mưa, piezometer đo áp lực nước lỗ rỗng ($u_w$, PWP) và inclinometer đo dịch chuyển ngang hố khoan ở các độ sâu mặt trượt, kết hợp xử lý dữ liệu viễn thám radar mặt đất T-InSAR (mốc P14 đối sánh chuyển vị từ ngày 10/08/2019 đến 04/12/2019). Chuỗi số liệu quan trắc từ năm 2017 đến năm 2021 chứng minh dịch chuyển thân khối trượt diễn ra không liên tục, phụ thuộc trực tiếp vào các đợt mưa lớn kéo dài làm dâng cao áp lực nước lỗ rỗng. Đặc biệt, tác giả phát hiện và định lượng được ngưỡng kích hoạt dịch chuyển: khi hệ số áp lực nước lỗ rỗng đạt giá trị $r_u \ge 0,53$, chuyển vị ngang cộng dồn và tốc độ dịch chuyển của khối trượt gia tăng đột biến, vận tốc nghịch đảo suy giảm nhanh chóng tiệm cận trạng thái phá hủy. Kiểm toán ổn định mái dốc bằng phần mềm Slope/W chứng minh tại thời điểm $r_u = 0,53$, hệ số an toàn ($FoS$) của KTL Tân Sơn và Díu Thượng giảm xuống dưới hoặc xấp xỉ 1,0. Mô phỏng 3D bằng phần mềm LS-Rapid (sử dụng thông số kháng cắt từ thí nghiệm cắt xoay vòng) đã xác định được vận tốc dịch chuyển, cơ chế phá hủy hóa lỏng cục bộ và khoanh vùng chính xác phạm vi ảnh hưởng ($L_f$) của vật liệu sạt trượt đối với khu dân cư. Từ các kết quả này, luận án đề xuất hệ thống giải pháp giảm nhẹ gồm: nhận diện sớm các biến dạng bề mặt (vết nứt vòm, cây nghiêng ngả, rãnh xói), điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và thiết lập hệ thống quan trắc cảnh báo sớm dựa trên ngưỡng kích hoạt $r_u = 0,53$ kết hợp ngưỡng mưa giờ.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học của luận án bao gồm:
- Xác lập được ngưỡng định lượng thể tích KTL đặc thù cho điều kiện tự nhiên khu vực MNPB là $V \ge 4.500 \text{ m}^3$ thông qua việc phân tích phân phối thống kê thực nghiệm Cullen & Frey.
- Làm sáng tỏ cơ chế động lực học của KTL tại khu vực nghiên cứu: quá trình dịch chuyển mang tính không liên tục, xảy ra dọc theo các mặt ranh giới bất liên tục thạch học hoặc khe nứt kiến tạo, trong đó sự gia tăng áp lực nước lỗ rỗng đóng vai trò kích hoạt trực tiếp.
- Xác định được ngưỡng định lượng hệ số áp lực nước lỗ rỗng $r_u \ge 0,53$ tại vị trí mặt trượt nguy hiểm, thời điểm mà tốc độ dịch chuyển của KTL bắt đầu gia tăng đột biến và hệ số ổn định sườn dốc $FoS$ tiến tới trạng thái giới hạn ($FoS \le 1,0$).
- Hoàn thiện khung phương pháp luận nghiên cứu KTL bằng cách kết hợp cách tiếp cận phân tích hệ thống (Hoàng Tụy, 1987) với tiếp cận tích hợp chuỗi thời gian, liên kết phân tích không gian diện rộng với quan trắc chi tiết tại hiện trường.
Các đóng góp mới về mặt thực tiễn và ứng dụng:
- Xây dựng bộ bản đồ phân vùng nguy cơ hình thành KTL tỷ lệ 1:200.000 cho 15 tỉnh MNPB dựa trên việc kết hợp phân tích thống kê đa biến (BMA, hồi quy logistic) và các thuật toán học máy (SVM, ANN, Stacking Ensemble), cung cấp tài liệu phục vụ quy hoạch lãnh thổ.
- Thiết lập thành công quy trình phân tích và tích hợp chuỗi dữ liệu quan trắc địa kỹ thuật hiện trường (piezometer, inclinometer, trạm đo mưa tự động và radar giao thoa T-InSAR) phù hợp với điều kiện vùng núi hiểm trở.
- Cung cấp cơ sở khoa học và thông số kỹ thuật ($r_u = 0,53$) phục vụ việc thiết kế, vận hành hệ thống trạm quan trắc cảnh báo sớm tai biến sạt trượt khối lớn tại huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ kết quả nghiên cứu:
- Giải pháp phi công trình: Tăng cường công tác khảo sát, nhận diện sớm các dấu hiệu mất ổn định hình thái bề mặt (vết nứt cung đỉnh, bậc sụt thứ cấp, rãnh xói xé rách sườn dốc, độ nghiêng của thảm thực vật và các vũng đọng nước trên thân trượt); tích hợp bản đồ nguy cơ KTL vào quy hoạch sử dụng đất, tuyệt đối không bố trí công trình dân sinh trọng điểm tại các cung sạt trượt cũ hoặc đới nguy cơ cao.
- Giải pháp công trình: Ưu tiên các giải pháp thoát nước nhằm triệt tiêu áp lực nước lỗ rỗng trong thân khối trượt, bao gồm hệ thống rãnh gom thoát nước mặt bằng bê tông kết hợp giếng khoan đứng hoặc khoan ngang thu nước ngầm sâu; trồng cỏ vetiver hoặc thảm phủ thực vật hạn chế xói mòn rãnh mặt sườn; hạn chế tối đa việc đào bạt chân sườn dốc nhân tạo khi thi công nâng cấp hạ tầng giao thông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Do phạm vi nghiên cứu toàn MNPB có diện tích rộng (95.860 km²), hệ thống bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 chưa phủ kín toàn bộ lãnh thổ, nên việc phân tích nguy cơ diện rộng vẫn phải kế thừa nền bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000, làm giảm độ chi tiết tại một số khu vực cục bộ.
- Số liệu ghi nhận về các sự kiện động đất và tác động kích hoạt của gia tốc nền địa chấn đến ổn định KTL tại MNPB còn hạn chế, do đó luận án chưa có điều kiện xem xét và lượng hóa chi tiết yếu tố kích hoạt động đất trong các mô hình số.
- Số lượng trạm quan trắc sâu tại hiện trường mới chỉ triển khai được tại 02 vị trí đại diện (chợ Tân Sơn và thôn Díu Thượng thuộc huyện Xín Mần) do kinh phí và điều kiện thi công khoan kỹ thuật trên sườn dốc hiểm trở gặp nhiều khó khăn.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Cập nhật và nâng cao độ phân giải không gian của bản đồ phân vùng nguy cơ hình thành KTL lên tỷ lệ 1:50.000 hoặc 1:25.000 khi nguồn CSDL địa chất công trình và mô hình số độ cao độ phân giải cao được hoàn thiện trên toàn quốc.
- Bổ sung các nghiên cứu thực nghiệm và mô phỏng đánh giá tác động tương hỗ giữa chấn động địa chấn (động đất kích hoạt) và áp lực dòng thấm cực đoan do biến đổi khí hậu đối với các khối trượt sâu.
- Mở rộng mạng lưới quan trắc tự động truyền dữ liệu theo thời gian thực (qua sóng vô tuyến GPRS/IoT) cho các vị trí KTL xung yếu khác dọc các tuyến quốc lộ huyết mạch tại MNPB.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và các nhà khoa học thuộc các chuyên ngành Địa chất học, Địa chất công trình, Địa kỹ thuật, Địa tai biến, Công trình ngầm và Mái dốc: Luận án cung cấp khung lý thuyết hệ thống, phương pháp phân tích thống kê đa biến xử lý đa cộng tuyến (BMA) và quy trình ứng dụng các mô hình học máy (SVM, ANN) trong phân tích không gian tai biến địa chất.
- Các cơ quan quản lý nhà nước về phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu (Ban Chỉ đạo Quốc gia về Phòng, chống thiên tai, Cục Quản lý Đê điều và Ph