MỞ ĐẦU Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất mà nhân loại phải đối mặt trong thế kỷ 21 và Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất [45]. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam là một vùng châu thổ màu mỡ, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế về nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản, du lịch sinh thái, đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước. Tuy nhiên, ĐBSCL được dự báo là một trong những đồng bằng dễ bị tổn thương nhất do ảnh hưởng của nước biển dâng (NBD), trong đó có khu vực cửa sông Hậu. Khu vực cửa sông Hậu đang chịu tác động mạnh của tai biến, BĐKH và các hoạt động của con người.
Các tai biến như xâm nhập mặn, hạn hán, sạt lở bờ sông, bờ biển, lũ lụt và nguy cơ bão ngày càng khốc liệt hơn [15,16,18,19,21,22,23]. Ngày nay, trong bối cảnh các tác động của tai biến và BĐKH đã và đang diễn ra, tuy nhiên chúng không gây ra những tác động rời rạc mà hòa nhập và cộng hưởng lẫn nhau. Tại Việt Nam, có rất nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của tai biến như xâm nhập mặn, hạn hán, sạt lở bờ,. và tác động của chúng tới con người trong khu vực ĐBSCL nói chung cũng như khu vực cửa sông Hậu nói riêng, đã mang lại nhiều kết quả khoa học quan trọng, trên nhiều phương diện khác nhau.
Mặc dù vậy, hầu hết các nghiên cứu đi trước thường chỉ tập trung vào một số chiều cạnh cụ thể, rời rạc mà chưa chú trọng nghiên cứu tích hợp và lồng ghép tác động của nhiều yếu tố với nhau: tai biến, BĐKH, hoạt động nhân sinh, bao gồm hoạt động nhân sinh ở thượng nguồn được khẳng định là ngày càng gia tăng và ngày càng phức tạp tạo nên những tác động đa chiều, bao gồm cả tiêu cực lẫn tích cực. Do đó, đánh giá tích hợp các tác động của tai biến, BĐKH và các hoạt động của con người, qua đó phân vùng các khu vực có mức độ nguy hiểm khác nhau, chủ động xây dựng các giải pháp ứng phó là hết sức cần thiết và cấp bách trong việc xây dựng các chương trình thích ứng với BĐKH và giảm thiểu rủi ro do tai biến gây ra. Đánh giá tác động tích hợp trong nghiên cứu này có thể được hiểu là quá trình xác định, dự đoán, đánh giá và giảm thiểu tác động của tai biến, BĐKH, đề xuất những quyết định chính sách thích ứng, hướng tới PTBV. Cửa sông là nơi dòng sông là nơi dòng sông chảy ra và đổ vào biển hoặc hồ lớn.
Trong nghiên cứu này, khu vực cửa sông Hậu bao gồm các huyện: huyện Long Phú, huyện Vĩnh Châu, huyện Cù Lao Dung, huyện Trần Đề (tỉnh Sóc 1 Trăng), huyện Tiểu Cần, huyện Trà Cú, huyện Duyên Hải, T. Đây là khu vực có vị trí địa lý tương đối thuận lợi với bờ biển giàu tài nguyên, đất đai bằng phẳng, được phù sa bồi đắp hàng năm, nguồn thủy sản dồi dào với nhiều giống loài, hệ sinh thái ven biển phát triển mạnh, kinh tế chủ yếu dựa vào nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, khu vực này đang thường xuyên chịu những tác động của tai biến và biến đổi khí hậu như dâng cao mực nước biển và thủy triều, hiện tượng xâm nhập mặn, hạn hán, xói lở bờ sông bờ biển, bão và lũ lụt,. Diện tích lúa rất thấp nhưng năng suất lúa cũng thấp nhất, do ảnh hưởng của nước mặn và độ phì của đất thấp [59].
Sự phân dị khác nhau theo không gian của các yếu tố tự nhiên tự nhiên, xã hội và con người cũng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), định hướng phát triển bền vững (PTBV) của các địa phương. Môi khu vực khác nhau tương ứng với các mức độ nhạy cảm khác nhau đối với tai biến, BĐKH. Nội dụng của luận văn này tập trung nghiên cứu tại khu vực cửa sông Hậu. Các tai biến như xói lở bờ sông, xâm nhập mặn, hạn hán, ngập lụt và bão đang ngày càng khốc liệt, gây tác động mạnh tới môi trường, kinh tế, và cuộc sống của người dân nơi đây.
Từ những thực tiễn kể trên, học viên lựa chọn đề tài: “ Đánh giá tác động tích hợp các tai biến khu vực cửa sông Hậu và đề xuất giải pháp thích ứng” làm đề tài nghiên cứu với các mục tiêu và nhiệm vụ như sau: Mục tiêu nghiên cứu: - Đánh giá được thực trạng các tai biến xâm nhập mặn, xói lở, lũ lụt, hạn hán, sự thay đổi mực nước sông Hậu và NBD,… ở khu vực cửa sông Hậu. - Đánh giá được mức độ nguy hiểm do tai biến, khả năng chống chịu và mức độ tổn thương tại khu vực cửa sông Hậu. - Đánh giá tích hợp các tác động của tai biến với kinh tế, xã hội và con người tại khu vực cửa sông Hậu. - Đề xuất giải pháp và mô hình thích hợp giảm thiểu rủi ro tai biến và thích ứng với BĐKH tại khu vực cửa sông Hậu.
Nhiệm vụ nghiên cứu: - Thu thập và xử lý các tài liệu, dữ liệu liên quan đến tai biến, đánh giá tích hợp và giảm thiểu rủi ro tại khu vực cửa sông Hậu. 2 - Điều tra khảo sát và cập nhật các dữ liệu cần thiết về điều kiện tự nhiên, xã hội, tai biến, BĐKH … tại khu vực nghiên cứu. - Thực hiện nghiên cứu đánh giá hiện trạng, tác động và tác động tích hợp của tai biến, BĐKH và mối tương quan giữa chúng tới sự PTBV trong khu vực nghiên cứu. - Đề xuất các giải pháp phù hợp trong quy hoạch sử dụng đất, khai thác tài nguyên, phát triển kinh tế - xã hội bền vững,… cho khu vực cửa sông Hậu.
Nội dung nghiên cứu: Để thực hiện thành công các mục tiêu của luận văn, các nội dung nghiên cứu cần thực hiện gồm: 1) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm tai biến khu vực cửa sông Hậu 2) Đánh giá hiện trạng các tai biến khu vực cửa sông Hậu 3) Đánh giá mức độ nguy hiểm, khả năng chống chịu, mức độ tổn thương do tai biến khu vực cửa sông Hậu. 4) Đánh giá tác động tích hợp các tai biến, BĐKH với kinh tế, xã hội, môi trường khu vực cửa sông Hậu. 5) Đề xuất các giải pháp thích ứng phù hợp cho khu vực cửa sông Hậu. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là khu vực cửa sông Hậu, bao gồm 8 huyện ven sông và ven biển của 2 tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh: huyện Long Phú, huyện Vĩnh Châu, huyện Cù Lao Dung, huyện Trần Đề (tỉnh Sóc Trăng); huyện Tiểu Cần, huyện Trà Cú, huyện Duyên Hải, T.
Phạm vi thời gian đánh giá từ năm 2018 – 2020. TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN 1. Vị trí địa lý Sông Mê Công trước khi đổ vào Việt Nam đã chia thành hai phân lưu là sông Hậu, hay Hậu Giang và một phân lưu khác gọi là sông Tiền.
Sông Hậu chảy vào lãnh thổ Việt Nam với tổng chiều dài từ thượng nguồn đến cửa sông là khoảng từ 200 - 250 km và chảy qua địa phận 07 tỉnh từ biên giới Campuchia đến biển. Khu vực nghiên cứu là vùng đồng bằng ven biển cửa sông Hậu, bao gồm các huyện ven biển: huyện Long Phú, huyện Vĩnh Châu, huyện Cù Lao Dung, huyện Trần Đề (tỉnh Sóc Trăng), huyện Tiểu Cần, huyện Trà Cú, huyện Duyên Hải, T. Duyên Hải (tỉnh Trà Vinh) (Hình 1. Đây là khu vực có vị trí địa lý tương đối thuận lợi với bờ biển giàu tài nguyên, đất đai bằng phẳng, màu mỡ và được phù sa bồi đắp hàng năm, nguồn thủy sản dồi dào với nhiều giống loài, các hệ sinh thái ven biển phát triển mạnh, hệ thống rừng ngập mặn phát triển, tốc độ bồi tụ mở rộng về phía biển vào khoảng 16 m/năm [44], hoạt động phát triển kinh tế chính của khu vực chủ yếu dựa vào nuôi trồng thủy sản.
Tuy nhiên, đây cũng là khu vực chịu tác động mạnh mẽ của sóng. Theo báo cáo của IPCC (2007), khu vực cửa sông Hậu nằm trong những khu vực bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất trên thế giới do BĐKH [45]. Địa hình, địa mạo Sông Hậu chảy theo hướng Bắc Nam, chảy trên vùng châu thổ có địa hình bằng phẳng, tại khu vực nghiên cứu, lòng sông được mở rộng dần về phía biển. Đáy sông có độ sâu biến đổi đổi từ 10-30 m, có nơi sâu nhất đến 40 m.
Khu vực cửa sông Hậu có địa hình khá bằng phẳng, phần lớn có độ cao trung bình từ 0,7 – 1,2 m. Tuy nhiên, do sự phát triển của hệ thống cồn cát ven biển nên địa hình khu vực nhô cao hơn các khu vực lân cận ở các huyện như Trà Cú, Trần Đề, Cù Lao Dung, Kế Sách. Ngoài ra, một số khu vực ven biển có độ cao thấp, trung bình từ 0-2 m. Địa hình khu vực Trà Vinh mang tính chất của địa hình đồng bằng châu thổ ven biển, chịu ảnh hưởng bởi tác động giao thoa giữa sông và biển.
Kết quả tác động này đã hình thành nên các vùng trũng xen với các giồng cát ven biển. Độ cao trung bình 1-3m, trong đó đại bộ phận có độ cao từ 0,4 - 1,0m (chiếm 60% diện tích toàn 4 tỉnh). Nhìn chung trong toàn tỉnh, các huyện phía bắc có địa hình bằng phẳng hơn so với các huyện phía Nam. Dọc theo hai bờ sông thường có địa hình cao và thấp dần về phía nội đồng.
Vùng nội đồng tương đối bằng phẳng, nhưng bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, trong đó có những ô trũng cục bộ. Khu vực ven biển có địa hình dạng sóng với nhiều giồng cát hình cánh cung, độ cao từ 3m đến 5m. Khu vực có địa hình cao nhất (hơn 4m) gồm các giồng cát phân bố ở Nhị Trường, Long Sơn (huyện Cầu Ngang), Ngọc Biên (Trà Cú), Long Hữu (Duyên Hải). Khu vực có địa hình thấp dần (0,4m) tập trung tại các cánh đồng trũng thuộc các xã Tập Sơn, Ngãi Xuyên, Ngọc Biên (Trà Cú), Thanh Mĩ (Châu Thành), Mĩ Hòa, Mĩ Long, Hiệp Mĩ (Cầu Ngang), Long Vĩnh (Duyên Hải) [13].
Các địa phương nghiên cứu khu vực cửa sông Hậu Tỉnh Sóc Trăng có địa hình thấp và tương đối bằng phẳng. Độ cao tuyệt đối từ 0,4-1,5 m. Nhìn chung địa hình tỉnh Sóc Trăng có dạng lòng chảo, cao ở phía sông Hậu và Biển Đông thấp dần vào trong, vùng thấp nhất là phía Tây và Tây Bắc. Địa hình có dạng gợn sóng không đều, xen kẽ là những giồng cát địa hình tương đối cao và những vùng thấp trũng nhiễm mặn, phèn.