ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng ngập mặn không chỉ là một yếu tố cảnh quan đặc sắc mà còn là hệ thống sinh thái giàu có bậc nhất của vùng biển nhiệt đới. Rừng ngập mặn có vai trò quan trọng trong việc hạn chế tác hại của gió bão, nƣớc triều dâng, bảo vệ đê, chống bão biển, góp phần mở rộng đất liền. Rừng ngập mặn còn là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao và nhiều động vật trên cạn nhƣ chim, thú, bò sát…góp phần làm đa dạng hệ sinh thái, là nguồn tài nguyên phong phú đầy tiềm năng giúp phát triển kinh tế của ngƣời dân quanh khu vực. Nƣớc ta có đƣờng bờ biển dài hơn 3200 km, do vậy các loại hình đất ngập nƣớc ven bờ rất phong phú (nhƣ rừng ngập mặn, bãi triều lầy, vịnh, bán đảo, cửa sông, rạn san hô).
Tuy nhiên, những hoạt động khai thác quá mức và gây ô nhiễm nghiêm trọng trong những năm gần đây đã làm thu hẹp đáng kể hệ sinh thái này, mà rõ nhất là rừng ngập mặn. Kết quả cho thấy việc phá rừng để sản xuất theo các mục đích trên đã bị thất bại hoặc năng suất rất thấp, môi trƣờng bị thoái hóa rất nghiêm trọng, đời sống của ngƣời dân ven biển bị gió, bão đe dọa. Nhiều nơi sau khi phá hỏng, đê điều đã bị hƣ hỏng. Ngƣợc lại, vùng nào bảo vệ rừng tốt thì đê điều, các khu nuôi trồng thủy sản không bị hƣ hại, đời sống, tài sản của nhân dân đƣợc bảo vệ.
Do đó, việc quản lý khai thác rừng ngập mặn một cách hiệu quả và hợp lý là việc làm rất cần thiết và quan trọng. Đề tài quản lý sau đây: “Nghiên cứu đặc điể 1 Chƣơng 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về RMN trên thế giới Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứurừng ngập mặn, trong cuốn "Thƣ mục nghiên cứu về RNM” (Chƣơng trình Biển KT.03, 1991-1995) đã liệt kê hơn 420 công trình nghiên cứu của 12 quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng từ năm 1600 đến năm 1975.Trong đó, phần lớn các nghiên cứu này đều có đề cập đến khu hệ động thực vật phân bố trong hệ sinh thái RNM một trong những định nghĩa và giá trị của hệ sinh thái này đƣợc khẳng định : Đất ngập nƣớc rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành quan trọng của các cảnh quan trên mọi miền của thế giới, ngày nay rừng ngập mặn đã và đang bị suy thoái và mất đi ở mức báo động, mặc dù ngày nay ngƣời ta đã nhận biết đƣợc các chức năng và giá trị to lớn của chúng.
Tài liệu đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống đầy đủ về vai trò của rừng ngập mặn do Odum đƣa ra đã phân tích vai trò to lớn của mùn bã phân hủy từ lá cây đƣớc đỏ (Rhizophora mangle) trong chuỗi thức ăn vùng cửa sông ven biển Florida. Từ đó, rừng ngập mặn trở thành đối tƣợng đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm. Nghiên cứu của Ballở Florida (Mỹ) đã chỉ ra rằng “Cấu trúc mùn bã hữu cơ phụ thuộc rất nhiều vào mắt xích thức ăn trong hệ sinh thái RNM. RNM còn là nơi ƣơm nuôi ấu trùng cho nhiều loại cá, giáp xác và động vật thân mềm”.
Ngoài ra, tác giả còn đƣa ra đƣợc sơ đồ mối quan hệ giữa RNM với các thành phần sinh vật sống. Nghiên cứu của Robertson và Blaber (1992) (ghi theo Phan Nguyên Hồng) đã nhận định “Hệ sinh thái RNM có vai trò trong việc duy trì chất lƣợng môi trƣờng và năng suất đánh bắt trong nghề cá thƣơng mại và thủ công trên thế giới”. Chapman (1975) (ghi theo Phan Nguyên Hồng) có 7 yếu tố sinh thái cơ bản ảnh hƣởng đến sự phát triển rừng ngập mặn là: Nhiệt độ, thế nền đất bùn, sự bảo vệ, độ mặn, thủy triều, dòng chảy hải lƣu, biển nông.Tổ chức UNESCO (1979) và FAO (1982) khi nghiên cứu về rừng và đất rừng ngập mặn ở vùng châu Á Thái Bình Dƣơng cho rằng: Hệ sinh thái rừngngậpmặn trong khu 2 vực này đã và đang bị đe dọanghiêm trọng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó nguyên nhân chính là do việc khai thác tài nguyên rừng, đất rừng ngập mặn không hợp lý gây ra các biến đổi tiêu cực đối với môi trƣờng đất và nƣớc.
Các tổ chức này đã khuyến cáo các quốc gia có rừng và đất ngập mặn, cần phải có những biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng này bằng các giải pháp nhƣ: xây dựng các hệ thống chính sách, văn bản pháp luật về quản lý sử dụng đất, rừng ngập mặn và nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng, khoanh nuôi bảo vệ rừng kết hợp với việc xây dựng các mô hình lâm ngƣ kết hợp. Nguyễn Hoàng Trí (2006) (ghi theo Phan Nguyên Hồng) một số công trình nghiên cứu về lƣợng mƣa, nhiệt độ ảnh hƣởng đến sự sinh trƣởng và phát triển của cây ngập mặn cho rằng nhiệt độ là nhân tố quan trọng ảnh hƣởng đến sự sinh trƣởng và phân bố rừng ngập mặn. Cây ngập mặn sinh trƣởng tốt ở môi trƣờng có nhiệt độ ấm, nhiệt độ của tháng lạnh nhất không dƣới 20 oC, biên độ nhiệt theo mùa không vƣợt quá 100C, từ đó đã giải thích sự có mặt của rừng ngập mặn ở một vùng nào đó tùy thuộc nhiệt độ không khí và nhiệt độ nƣớc. (1997) nhận định rằng trong các nhân tố khí hậu thì lƣợng mƣa là nhân tố quan trọng với vai trò cung cấp nguồn nƣớc ngọt cho cây ngập mặn tăng trƣởng và phát triển, rừng ngập mặn sinh trƣởng tốt nhất ở nơi có lƣợng mƣa đầy đủ.
Theo trích dẫn từ Nguyễn Hoàng Trí (1999) cho rằng rừng ngập mặn tồn tại, phát triển ở nơi có độ mặn từ 10-30‰ và các tác giả đã chia thực vật ngập mặn thành hai nhóm; nhóm phát triển ở độ mặn từ 10-30‰ và nhóm phát triển ở độ mặn từ 0-10‰, Khi độ mặn càng cao thì sinh trƣởng của cây càng kém, sinh khối của rễ, thân và lá đều thấp dần, lá sớm rụng. Theo Ramsar (2000), nhiều tác giả cho rằng đất là nhân tố chính giới hạn sự tăng trƣởng và phânbốcâyngậpmặn. Đất rừng ngập mặn là đất phù sa bồi tụ có độ muối cao, thiếu O2, giàu H2S, rừng ngập mặn thấp và cằn cỗi trên các bãi lầy có ít phù sa, nghèo chất dinh dƣỡng, sự phát triển của thực vật ngập mặn liên 3 quan đến số lƣợng phù sa lắng đọng và cây đạt chiều cao cực đại ở nơi có lớp đất phù sa dày. Năm 1983, đề án “Chƣơng trình nghiên cứu tổng hợp và đào tạo về hệ sinh thái rừng ngập mặn Châu Á – Thái Bình Dƣơng” của UNDP/UNESCO ra đời với sự tham gia chính thức của 12 nƣớc trong khu vực.
Công trình gồm tập hợp các báo cáo về tình hình rừng ngập mặn của 11 nƣớc và một số vấn đề gây tình trạng giảm sút rừng trong khu vực đã đƣợc in trong cuốn “Rừng ngập mặn Châu Á và Thái Bình Dƣơng: Thực trạng và quản lý, 1996”. Nhiều công trình công bố kết quả nghiên cứu liên quan đến hệ sinh thái RNMđã đƣợc tổng hợp, thống kê và đăng tải trong tuyển tập các báo cáo tại Hội thảo của các dự án thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng (Umali, 1986). Trong đó có một số công trình công bố có liên quan đến các lĩnh vực: Cấu trúc quần xã và khu hệ động thực vật và các thảm thực vật phân bố trong vùng RNM; Năng suất mạng lƣới thức ăn và dòng năng lƣợng, chu trình dinh dƣỡng trong hệ sinh thái RNM; Các đặc tính thuỷ lý, thuỷ hóa trong hệ sinh thái RNM; Mối liên quan giữa RNM và các hệ sinh thái, các quần xã động vật đáy, quần xã biển khơi, quần xã sinh vật vùng triều và đề xuất phƣơng hƣớng quản lý RNM ở các quốc gia. Trong vài thập kỷ gần đây chúng ta đã chứng kiến sự biến đổi sâu sắc trong nhận thức về ĐNN, đặc biệt là sự thay đổi trong cách nhìn nhận về tầm quan trọng của vùng ĐNN của các cá nhân và tổ chức có liên quan.Trong cuốn “Các chức năng và giá trị của đất ngập nước: thực trạng hiểu biết của chúng ta” của Oreeson (ghi theo Tateda, Y.
(2005)) đã cho thấy 84% tổng số các trích dẫn là của các công trình nghiên cứu trong thập kỷ 70, 14% của các công trình thập kỷ 60 và chỉ có 2% là trích dẫn từ các công trình trƣớc năm 1960. Những nghiên cứu này tạo ra một bƣớc đột phá trong hoạt động khoa học tại các trung tâm và viện nghiên cứu có liên quan. Khu vực Châu Á và Đông Nam Á là nơi có diện tích ĐNN lớn của thế giới. Do mật độ dân cƣ cao (chiếm 60% số dân toàn thế giới) các cộng đồng dân 4 cƣ nơi đây phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên ĐNN.
Vì thế, ĐNN của khu vực này đang phải đối mặt với tình trạng suy thoái nghiêm trọng và một số vùng ĐNN có nguy cơ bị xoá sổ. Hiện nay, các nghiên cứu về ĐNN tại khu vực châu Á và Đông Nam Á chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực: Xác định loại hình và sự phân bố của ĐNN; Nghiên cứu các mối đe doạ, những ảnh hƣởng, tác động hiện nay và yêu cầu về bảo vệ ĐNN, đa dạng sinh học của các vùng ĐNN. Hƣớng nghiên cứu này đã thu hút nhiều tổ chức quốc tế nhƣ Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (The World Conservation Union - IUCN), Chƣơng trình môi trƣờng của Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ động vật hoang dã thế giới (WWF), các tổ chức phi chính phủ (NGO). Trong đó quan trọng nhất là vai trò của IUCN vì đây là tổ chức trực tiếp hỗ trợ về tài chính và là cơ quan phối hợp kết nối với các hoạt động với các tổ chức khác trong việc bảo vệ và nghiên cứu ĐNN trên Thế giới.
Những nghiên cứu về RMN ở Việt Nam Công trình nghiên cứu có hệ thống về rừng ngập mặn đầu tiên ở Việt Nam là của Vũ Văn Cƣơng (1964) (ghi theo Phan Nguyên Hồng) về các quần xã thực vật ở rừng Sát thuộc vùng Sài Gòn –Vũng Tàu. Tác giả đã chia thực vật ở đây thành 2 nhóm: nhóm thực vật nƣớc mặn và nhóm thực vật nƣớc lợ. Đƣng phân bố ven sông Soài Rạp, Đông Tranh và một số cửa sông nhỏ; Cóc trắng gặp rải rác ở những nơi đất cao, Vẹt đen gặp ở vùng nƣớc lợ. Lê Công Khanh(1986) (ghi theo Phan Nguyên Hồng) mô tả các đặc điểm sinh học để phân biệt các chi, các họ cây có trong rừng ngập mặn.