Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Tâm lý học của tác giả Lê Tô Đỗ Quyên (Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Huỳnh Văn Sơn vào tháng 04/2005) mang tên: "Bước đầu tìm hiểu một số đặc điểm giao tiếp của trẻ tự kỷ 4 đến 8 tuổi tại Bệnh viện Nhi đồng II TP. Hồ Chí Minh".

Xuất phát từ quan điểm của Triết học Mác – Lênin và Tâm lý học hoạt động, giao tiếp cùng với hoạt động là điều kiện tồn tại và phát triển cốt lõi của xã hội loài người cũng như từng cá nhân. Nhu cầu giao tiếp xuất hiện từ giai đoạn sơ sinh; nếu bị tước đoạt hay không được đáp ứng (điển hình như "Hội chứng vắng mẹ" - Hopitalisme), trẻ sẽ chịu tổn thương nặng nề về tâm lý, thể chất, chậm khôn hoặc thậm chí tử vong. Đối với hội chứng tự kỷ, đây là một dạng rối loạn giao tiếp với tỷ lệ ước tính thời điểm nghiên cứu khoảng 4/1000 trẻ và có xu hướng gia tăng. Trẻ tự kỷ gặp khiếm khuyết nghiêm trọng trên ba phương diện: tương tác xã hội, ngôn ngữ/liên lạc, hành vi/tư tưởng, dẫn tới sự tự cô lập với môi trường xung quanh. Nghiên cứu thực nghiệm về giao tiếp của trẻ tự kỷ nhằm làm rõ bản chất, mức độ rối loạn và cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các biện pháp trị liệu, giáo dục hòa nhập thích hợp.

Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu một số đặc điểm giao tiếp của trẻ tự kỷ từ 4 đến 8 tuổi đang điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng II TP. Hồ Chí Minh; từ đó định hướng các biện pháp cải thiện quan hệ giao tiếp và khắc phục những hạn chế trong đặc điểm giao tiếp của nhóm trẻ này.

Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ):

  1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận của đề tài: giao tiếp, đặc điểm giao tiếp, trẻ tự kỷ và đặc điểm giao tiếp của trẻ tự kỷ.
  2. Tìm hiểu thực trạng về một số đặc điểm giao tiếp của trẻ tự kỷ: nội dung giao tiếp, đối tượng giao tiếp, phương tiện giao tiếp.
  3. So sánh sự đánh giá của phụ huynh và giáo viên về một số đặc điểm giao tiếp của trẻ.
  4. Định hướng một số biện pháp giáo dục thích hợp nhằm giúp việc giao tiếp với trẻ tự kỷ trở nên thuận lợi và hiệu quả hơn.

Đối tượng và khách thể nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Một số đặc điểm giao tiếp của trẻ tự kỷ từ 4 đến 8 tuổi (cụ thể gồm: đối tượng giao tiếp, nội dung giao tiếp, phương tiện giao tiếp).
  • Khách thể nghiên cứu: 16 trẻ tự kỷ (4 đến 8 tuổi) đang điều trị tại Khoa Tâm lý - Bệnh viện Nhi đồng II TP. Hồ Chí Minh (trong đó chọn ngẫu nhiên 5 trẻ để thực hiện quan sát sâu). Khách thể phối hợp gồm 16 phụ huynh, 10 giáo viên và 2 chuyên viên tâm lý trực tiếp can thiệp trị liệu.

Phạm vi và giới hạn nghiên cứu:

  • Không gian: Khoa Tâm lý, Bệnh viện Nhi đồng II TP. Hồ Chí Minh (tại các phòng: vận động, âm nhạc, chơi tập tự do, trị liệu ngôn ngữ).
  • Thời gian: Tiến hành thu thập và xử lý số liệu từ tháng 8/2004 đến tháng 4/2005.
  • Nội dung: Giới hạn trong 3 khía cạnh: Đối tượng giao tiếp, Nội dung giao tiếp và Phương tiện giao tiếp (ngôn ngữ và phi ngôn ngữ).

Giả thuyết nghiên cứu:

  • Đối tượng giao tiếp của trẻ tự kỷ chủ yếu là những người trực tiếp chăm sóc, ở chung (thành viên gia đình, giáo viên, bác sĩ, rất ít bạn bè); trẻ có xu hướng gắn bó đặc biệt với một đối tượng nhất định do trẻ tự chọn.
  • Nội dung giao tiếp nghèo nàn, hạn hẹp, chủ yếu để giải tỏa nhu cầu sinh lý trực tiếp, giao tiếp nhận thức hoặc thỏa mãn nhu cầu tâm lý ở mức độ thấp.
  • Trẻ có khả năng và mức độ sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ cao hơn phương tiện ngôn ngữ.
  • Có sự khác biệt giữa đánh giá của giáo viên, phụ huynh và người nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp của trẻ tự kỷ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  1. Khái niệm giao tiếp trong tâm lý học: Tác giả hệ thống hóa 6 hướng tiếp cận khái niệm giao tiếp trên thế giới và Việt Nam, phân tích cuộc tranh luận học thuật giữa trường phái A.N. Leontiev (giao tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động) và B.F. Lomov (giao tiếp là phạm trù độc lập, bình đẳng và song hành với hoạt động). Khái niệm được lựa chọn: Giao tiếp là mối quan hệ tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người, thông qua đó con người ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau: tri giác, trao đổi thông tin, thể hiện thái độ, cảm xúc và phối hợp với nhau trong hoạt động chung.
  2. Khái niệm tự kỷ và các rối loạn phát triển: Phân tích các góc độ từ nguyên học (Autos), khái niệm tự kỷ điển hình Kanner (1943), hội chứng Asperger (1944), khái niệm mở rộng Rối loạn phổ tự kỷ (ASD - Lorna Wing, 1981) và hệ thống phân loại DSM-IV, ICD-10 (xếp tự kỷ vào nhóm Rối loạn phát triển lan tỏa - PDD). Định nghĩa áp dụng: Tự kỷ là một hội chứng gồm những rối loạn trên ba lĩnh vực: quan hệ xã hội, giao tiếp và hành vi, xuất hiện trước 30 tháng tuổi, phân biệt với hội chứng Rett, Asperger hay rối loạn giải thể tuổi ấu thơ.
  3. Nguyên nhân và biểu hiện: Phân loại 3 nhóm nguyên nhân (di truyền, tổn thương thực thể ở hệ viền/tiểu não, và rối loạn chức năng tâm lý/thống hợp cái tôi); phân tích các biểu hiện rối loạn quan hệ xã hội, rối loạn hành vi rập khuôn/nghi thức và các tổn thương trong xử lý giác quan.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận kết hợp nghiên cứu lý luận và các phương pháp thực tiễn định lượng - định chất:

  • Phương pháp quan sát (phương pháp chủ đạo):
    • Thực hiện trên 16 trẻ tự kỷ tại các phòng chuyên môn (vận động, âm nhạc, chơi tập tự do, trị liệu ngôn ngữ). Thời gian quan sát trung bình 30 phút/tuần/trẻ trong 2 tháng.
    • Quan sát sâu trên 5 trẻ: thời lượng 60 phút/tuần trong 2 tháng (mỗi buổi chia 5 lần quan sát, mỗi lần 15 phút, ghi chép tần số hành vi và tỷ lệ thời gian).
    • Bảng quan sát chuẩn hóa gồm 4 phần: (1) Thông tin trẻ; (2) Mức độ giao tiếp với các đối tượng (gia đình, khu phố, bệnh viện); (3) Nội dung giao tiếp (13 biểu hiện); (4) Phương tiện giao tiếp (phi ngôn ngữ: ánh mắt, nụ cười, tiếng khóc, nét mặt, cử chỉ, khoảng cách; ngôn ngữ: thông hiểu và diễn đạt).
  • Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi (phương pháp chủ đạo thứ hai):
    • Xây dựng phiếu đo lường gồm 2 phần lớn và 4 mục nhỏ tương ứng với bảng quan sát, phát cho 16 phụ huynh và 10 giáo viên để lập bộ ba bản đánh giá độc lập cho mỗi trẻ.
  • Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành 3 đợt (phỏng vấn lãnh đạo khoa/giáo viên điều trị, phỏng vấn phụ huynh về hành vi tại gia đình, phỏng vấn chuyên gia tâm lý).
  • Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS 11.5 để xử lý điểm trung bình ($M$), độ lệch chuẩn, sắp xếp thứ bậc và kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm bằng phép kiểm nghiệm $t$ (Independent Samples t-test) với mức ý nghĩa $\alpha = 0.05$.
  • Thang đo và biên giới phân loại: Thang đo 3 mức độ (1 = Không bao giờ; 2 = Thỉnh thoảng; 3 = Thường xuyên). Biên giới đánh giá điểm trung bình ($M$):
    • $M < 1.50$: Mức độ Không bao giờ
    • $1.50 \le M \le 2.50$: Mức độ Thỉnh thoảng
    • $M > 2.50$: Mức độ Thường xuyên

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chương 1 tổng thuật lịch sử nghiên cứu giao tiếp từ thời cổ đại (Nho gia, Socrate, Platon), thời Phục hưng (Leonardo da Vinci), thế kỷ XIX (Feuerbach, Marx, Engels), đầu thế kỷ XX (triết học hiện sinh của Karl Jaspers, Martin Buber, Sartre, Mounier) đến giai đoạn nở rộ của tâm lý học Xô Viết những năm 1970 (Leontiev, Lomov, Platonov, Bodalev, Panferov, Parygin) và các công trình tại Việt Nam từ sau 1970 (Đỗ Long, Trần Trọng Thủy, Bùi Văn Huệ, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Khắc Viện, Lê Khanh...).

Về tự kỷ, chương này điểm lại lịch sử từ các ca cá biệt như cậu bé hoang dã Victor ở Aveyron (1797), ca bệnh Don của Lightner Witmer (1919), cột mốc mô tả 11 ca tự kỷ đầu tiên của Leo Kanner (1943) và công trình của Hans Asperger (1944). Chương 1 phân tích sâu các đặc điểm giao tiếp của trẻ tự kỷ lứa tuổi 1-10:

  • Đối tượng: Trẻ thờ ơ, thiếu gắn bó cảm xúc, không sợ người lạ nhưng né tránh bạn cùng lứa, chỉ tiếp xúc khi người lớn chủ động tiếp cận.
  • Nội dung: Tập trung vào thỏa mãn nhu cầu sinh lý trực tiếp (cầm tay người lớn đặt vào vật muốn lấy), thiếu nhu cầu chia sẻ tình cảm, phản ứng chống đối lại tương tác hoặc việc học kỹ năng mới.
  • Phương tiện phi ngôn ngữ: Rối loạn tiếp xúc ánh mắt, dùng tiếng khóc làm phương tiện chủ đạo, cảm xúc cực đoan, không dùng ngón trỏ để chỉ mà kéo cả cánh tay người lớn.
  • Phương tiện ngôn ngữ: Chậm nói, hiểu nghĩa đen hiển ngôn, không hiểu hàm ngôn/nghịch lý; lời nói bất thường với hiện tượng nhại lời (echolalia), nhại lời chậm trễ, hoán đổi đại từ nhân xưng (tự xưng ngôi thứ ba), giọng nói đơn điệu thiếu ngữ điệu.

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 2 trình bày các số liệu thực chứng thu được tại Bệnh viện Nhi đồng II TP. Hồ Chí Minh qua xử lý SPSS 11.5:

Bảng tổng hợp điểm trung bình mức độ giao tiếp với các đối tượng (Bảng 2.1)
Thứ bậc Đối tượng giao tiếp Điểm trung bình ($M$) Mức độ đánh giá Thứ bậc nhóm môi trường
1 Mẹ 2.87 Thường xuyên ($M > 2.50$) Gia đình (Thứ bậc 1)
2 Giáo viên hướng dẫn 2.38 Thỉnh thoảng ($1.50 \le M \le 2.50$) Bệnh viện (Thứ bậc 2)
3 Trẻ cùng nhóm 2.25 Thỉnh thoảng -
4 Người phục vụ 2.13 Thỉnh thoảng -
5 Chuyên viên tâm lý 2.06 Thỉnh thoảng -
5 Bố 2.06 Thỉnh thoảng -
6 Ông bà 1.88 Thỉnh thoảng -
7 Anh chị em ruột 1.75 Thỉnh thoảng -
7 Họ hàng 1.75 Thỉnh thoảng -
8 Người lớn trong khu phố 1.25 Không bao giờ ($M < 1.50$) Khu phố (Thứ bậc 3)
9 Trẻ khác trong khu phố 1.19 Không bao giờ -
10 Trẻ khác cùng khoa 1.06 Không bao giờ -

Phân tích thực trạng từ số liệu:

  • "Mẹ" là đối tượng duy nhất đạt mức độ giao tiếp Thường xuyên ($M = 2.87$, thứ bậc 1). Tác giả giải thích người mẹ là người chăm sóc trực tiếp, gắn bó từ sơ sinh, nhạy cảm phát hiện khiếm khuyết và kiên trì tương tác; đồng thời trẻ tự kỷ kém thích nghi với thay đổi nên chọn mẹ làm điểm tựa an toàn, biến mẹ thành đối tượng giao tiếp độc quyền.
  • "Giáo viên hướng dẫn" xếp thứ bậc 2 ($M = 2.38$) do áp lực từ chương trình trị liệu cá nhân 1 cô - 1 trẻ (60-90 phút/ngày) buộc trẻ phải thiết lập tiếp xúc.
  • Các đối tượng ngoài xã hội ("Người lớn khu phố" $M = 1.25$, "Trẻ khu phố" $M = 1.19$, "Trẻ khác cùng khoa" $M = 1.06$) đều rơi vào mức Không bao giờ do thiếu tính quen thuộc và không có sự chủ động tương tác từ hai phía.
  • Về tính chất: Giao tiếp thụ động chiếm ưu thế tuyệt đối (trẻ chỉ tiếp xúc khi người khác chủ động đến với trẻ); giao tiếp chủ động chỉ bộc lộ khi trẻ có nhu cầu sinh lý cấp thiết.
  • So sánh đánh giá giữa Phụ huynh và Giáo viên: Ở môi trường Gia đình và Khu phố không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê ($p > 0.05$) nhờ sự chia sẻ thông tin chặt chẽ; tuy nhiên ở môi trường Bệnh viện xuất hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm khách thể do góc độ quan sát khác nhau giữa gia đình và bối cảnh trị liệu chuyên biệt.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Xác lập thứ bậc đối tượng giao tiếp: Khẳng định trẻ tự kỷ 4-8 tuổi phân hóa đối tượng giao tiếp rõ rệt theo 3 môi trường: Gia đình (xếp thứ nhất) > Bệnh viện (xếp thứ hai) > Khu phố (xếp thứ ba). Mẹ là trung tâm giao tiếp duy nhất đạt ngưỡng thường xuyên ($M = 2.87$), trong khi các mối quan hệ xã hội mở rộng hầu như không tồn tại ($M < 1.50$).
  2. Làm rõ tính chất giao tiếp: Hoạt động giao tiếp của trẻ mang nặng tính thụ động và phụ thuộc vào sự chủ động của người lớn; nội dung giao tiếp chủ yếu đóng khung trong việc đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu sinh lý vật chất trực tiếp.
  3. Kiểm chứng phương tiện giao tiếp: Mức độ sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ cao hơn và giữ vai trò chủ đạo so với phương tiện ngôn ngữ; khả năng hiểu ngôn ngữ dừng lại ở các mệnh lệnh đơn giản gắn liền ngữ cảnh trực quan, khả năng diễn đạt bị cản trở bởi hiện tượng nhại lời và hoán đổi đại từ.

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất

  • Tận dụng vai trò hạt nhân của người mẹ và gia đình: Thiết lập các bài tập giao tiếp tại nhà, biến tương tác mẹ - con thành cầu nối chuyển tiếp sang các đối tượng khác.
  • Tăng cường can thiệp cá nhân hóa tại cơ sở y tế/giáo dục: Duy trì mô hình trị liệu 1 cô - 1 trẻ, kết hợp sinh hoạt nhóm có kiểm soát để trẻ làm quen với bạn cùng nhóm trong môi trường nề nếp ổn định.
  • Phát triển phương tiện phi ngôn ngữ làm nền tảng: Sử dụng ánh mắt, cử chỉ, tranh ảnh trực quan trước khi huấn luyện ngôn ngữ nói; kiên trì uốn nắn hành vi chỉ tay bằng ngón trỏ thay vì để trẻ kéo cả cánh tay.
  • Phối hợp đa lực lượng: Tăng cường chia sẻ thông tin định kỳ giữa chuyên viên tâm lý, giáo viên đặc biệt và phụ huynh để thống nhất phương pháp tác động hành vi.

Đóng góp của đề tài

  • Là một trong những công trình thực nghiệm tâm lý học đầu tiên tại Việt Nam (thực hiện năm 2005) khảo sát trực tiếp đặc điểm giao tiếp trên mẫu trẻ tự kỷ tại Bệnh viện Nhi đồng II TP. Hồ Chí Minh.
  • Xây dựng được bộ công cụ thu thập dữ liệu phối hợp 3 chiều (bảng quan sát sâu của nghiên cứu viên kết hợp phiếu khảo sát chuẩn hóa dành cho phụ huynh và giáo viên), tạo tiền đề phương pháp luận cho các nghiên cứu tâm lý học lâm sàng trẻ em tiếp theo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Quy mô mẫu nghiên cứu còn nhỏ ($N = 16$ trẻ tự kỷ, 5 ca quan sát sâu) do điều kiện tiếp cận bệnh nhi tại Khoa Tâm lý Bệnh viện Nhi đồng II TP. Hồ Chí Minh thời điểm năm 2004-2005 còn nhiều khó khăn.
    • Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào nhóm tuổi từ 4 đến 8 tuổi, chưa so sánh đối chứng với các nhóm tuổi nhỏ hơn (dưới 3 tuổi) hoặc thanh thiếu niên tự kỷ.
    • Nghiên cứu chỉ tập trung vào 3 khía cạnh (đối tượng, nội dung, phương tiện giao tiếp) mà chưa đi sâu đo lường tương quan với chỉ số phát triển trí tuệ hay các can thiệp y sinh học khác.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng dung lượng mẫu và khảo sát trên nhiều địa bàn, trung tâm can thiệp khác nhau tại TP. Hồ Chí Minh và cả nước.
    • Tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm can thiệp (chương trình trị liệu thực nghiệm) để đo lường hiệu quả cụ thể của từng biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp trên trẻ tự kỷ.

Giá trị tham khảo

  • Đối với sinh viên và học viên ngành Tâm lý học, Giáo dục đặc biệt, Công tác xã hội: Khóa luận là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp xây dựng bảng tiêu chí quan sát hành vi, kỹ thuật thiết kế bảng hỏi đo lường mức độ và quy trình xử lý dữ liệu tâm lý học bằng phần mềm SPSS (phân tích thứ bậc, so sánh $t$-test).
  • Đối với giáo viên can thiệp sớm và kỹ thuật viên âm ngữ trị liệu: Phần phân tích thực trạng phương tiện giao tiếp (phi ngôn ngữ và ngôn ngữ) cung cấp các chỉ dấu hành vi thực tế (nhại lời, cách chỉ tay, mức độ hiểu nghĩa đen) giúp thiết kế giáo án can thiệp cá nhân phù hợp.
  • Đối với phụ huynh có con mắc hội chứng tự kỷ: Cung cấp tri thức tâm lý học khách quan để thấu hiểu hành vi chống đối, cơ chế gắn bó an toàn với người mẹ và cách thức tiếp cận, hỗ trợ trẻ từng bước mở rộng đối tượng giao tiếp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khách thể nghiên cứu thực tiễn của đề tài gồm những ai và được thực hiện tại đâu? Khách thể nghiên cứu gồm 16 trẻ tự kỷ từ 4 đến 8 tuổi đang điều trị tại Khoa Tâm lý - Bệnh viện Nhi đồng II TP. Hồ Chí Minh (trong đó có 5 trẻ được chọn ngẫu nhiên để quan sát sâu). Đi kèm là 16 phụ huynh, 10 giáo viên và 2 chuyên viên tâm lý trực tiếp tham gia trị liệu cho các trẻ này.

2. Điểm trung bình mức độ giao tiếp của trẻ tự kỷ với đối tượng nào là cao nhất và thấp nhất? Theo kết quả xử lý thống kê (Bảng 2.1): Đối tượng có điểm trung bình cao nhất là "Mẹ" với $M = 2.87$ (thứ bậc 1, đạt mức Thường xuyên). Đối tượng có điểm trung bình thấp nhất là "Trẻ khác cùng khoa" với $M = 1.06$ (thứ bậc 10, thuộc mức Không bao giờ).

3. Tác giả đã sử dụng thang đo và tiêu chí đánh giá điểm trung bình như thế nào trong nghiên cứu? Tác giả sử dụng thang đánh giá 3 mức độ (1 điểm = Không bao giờ; 2 điểm = Thỉnh thoảng; 3 điểm = Thường xuyên). Điểm trung bình ($M$) được phân loại theo biên giới liên tục: $M < 1.50$ là Không bao giờ; $1.50 \le M \le 2.50$ là Thỉnh thoảng; $M > 2.50$ là Thường xuyên.

4. Vì sao trẻ tự kỷ lại giao tiếp với người mẹ ở mức độ thường xuyên vượt trội so với các đối tượng khác? Do người mẹ là người chăm sóc chính từ sơ sinh, nhạy cảm nhận ra khiếm khuyết của con và kiên trì chủ động tương tác. Về phía trẻ tự kỷ, do đặc điểm bệnh lý kém thích nghi với thay đổi nên trẻ tìm kiếm sự an toàn và thói quen quen thuộc ở người mẹ, cố định giao tiếp vào mẹ để vừa cảm thấy an toàn vừa được đáp ứng các nhu cầu sinh lý.

5. Đánh giá giữa phụ huynh và giáo viên về đối tượng giao tiếp của trẻ có sự khác biệt không? Ở nhóm đối tượng thuộc khu vực Gia đình và Khu phố, đánh giá giữa phụ huynh và giáo viên không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê ($p > 0.05$). Tuy nhiên, ở nhóm đối tượng tại Bệnh viện, giữa phụ huynh và giáo viên có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê do góc độ tiếp cận và điều kiện quan sát trẻ tại lớp trị liệu khác với môi trường gia đình.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Tô Đỗ Quyên đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về giao tiếp và đặc điểm giao tiếp của trẻ tự kỷ, đồng thời làm sáng tỏ thực trạng tương tác của trẻ 4-8 tuổi tại Bệnh viện Nhi đồng II TP. Hồ Chí Minh thông qua các số liệu định lượng xác thực. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính chất giao tiếp thụ động chiếm ưu thế, sự phụ thuộc chặt chẽ vào đối tượng trung tâm là người mẹ và sự ưu trội của phương tiện phi ngôn ngữ so với ngôn ngữ nói. Công trình mang lại giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở tin cậy cho việc xây dựng các chiến lược can thiệp tâm lý - giáo dục nhằm hỗ trợ trẻ tự kỷ hòa nhập cộng đồng.