CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ GIAO TIẾP 1. Các nghiên cứu chung về vấn dé giao tiếp 1.1 Các nghiên cứu chung về vấn dé giao tiếp trên thégiới Trước khi trở thành một trong số những phạm trù cơ bản của khoa học tâm lý và được đi sâu nghiên cứu về bản chất, vấn dé giao tiếp đã xuất hiện từ rất sđm. Thời cổ đại, giao tiếp bất đầu được để cập đến trong các tư tưởng tâm lý học phương Đông và các tư tưởng triết học Hy Lạp.
Tiêu biểu cho tư tưởng tâm lý học phương Đông có học thuyết Nho gia ban về cách xử thế của người quân tử theo nguyễn tắc: tu than, té gia, trị quốc, bình thiên ha.[31,15] Triết học Hy lap cổ đại dé cập đến vấn để giao tiếp qua tứ tưởng của Socrate (470 - 399TCN) và Platon (428 - 347 TCN), cho rằng đối thoại là sự giao tiếp trí tuệ, phan ánh mỗi quan hệ giữa người và người.[9,6] Thời phục hưng, Leonard de Vinci (1452 = 1512) tham vọng đưa hội hoa lên vị trí trung tâm, khoa học của mọi khoa học, thay thế triết học "Hội hoạ truyền bá các quy luật của tự nhiên và triết học”. Do đó ông quan tâm diễn tả giao tiếp trong các tác phẩm của mình, nhất là giao tiếp giữa me và con.[3,7] Thế kỷ XIX, triết học đặc biệt chú ý nghiên cứu vấn để giao tiếp vì lúc nay giao tiếp được đánh giá là có tam quan trọng đặc biệt trong sự hình thành và phát triển bản chất xã hội của con người, Nhà triết học Đức Ph Bach (1804 - 1872) viết “Bản chất con người chỉ thể hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất giữa con người với con người, trong sự 13 thống nhất dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa tôi và bạn”. Ông chủ rằng bản chất của mỗi người chỉ có thể được thể hiện trong giao tiếp thông qua sự thống nhất giữa cái giống nhau và cái khác nhau.[I 1,6] Các tác giả Karl Mark(1811 = 1883), Anghen và Lenin(1870 - 1924) đã xem xét giao tiếp với tư cách là một trong những phạm trù quan trọng nhất của chủ nghĩa duy vật lịch sử biện chứng. Phạm trù này xuất hiện trong các bản thảo kinh tế và triết học của Mark vào năm 1844 và trong tác phẩm “Tinh hình giai cấp công nhãn ở Anh” của Anghen, Ngoài ra Karl Mark còn thấy được vai trò của giao tiếp đối với sự phát triển của mỗi người: “SỰ phát triển của mỗi cá nhân được quy định bởi sự phát triển sự phát triển của tất cả các cá nhân khác mà nó trực tiếp hay gidn tiếp giao tiến" [39,10].
Thông qua giao tiếp với người khác mà mỗi người sẽ nhận thức về bản thần mình rõ hơn để diéu chỉnh và phát triển. “Bat cứ quan hệ nào của con người đối với bản thân mình đều chỉ được thực hiện, biểu hiện trong quan hệ của con người đối với những người khác ”.[43,751 Bầu thế kỷ XX, giao tiếp được các ngành khoa học như Triết học, Tâm lý học, Xã hội học quan tam nghiên cứu. Karl Jaspert (1883 — 1969), nhà Triết học - Tâm lý học người Đức đại diện cho Triết học hiện sinh đã xây dựng lý thuyết giao tiếp hiện sinh, khẳng định giao liếp xuất phát từ nhu cầu của con người và “IA điểu kiện tổng quất cho sự tốn tại của con người ",[39,10] Mactinbabo (1878 - 1965), một đại biểu của Triết học hiện sinh đưa ra nguyên tắc giao tiếp "Tên tai là đối thoại” trong tác phẩm “Tôi và bạn”, coi giao tiếp và cuộc sống là hai mặt không thể tách rời của một vấn để. Trong giao tiếp, "Hai người gặp nhau đối thoại để bổ sung chứ không phải thay thế nhau”.
Thiếu giao tiếp, con người không tổn tại, phát triển được. sau Mactinbabo, các nhà hiện sinh Pháp như J.Sactdrd (1905 — 1961), Manie (1905 — 1950) tiếp tục và phát triển lý thuyết l4 của ông. “Tôi chỉ tin tại chừng nào tôi tổn tại cho người khác” — Manie.[39,10 - II] Giữa thế kỷ XX, một số khoa học mới ra đời như lý thuyết thông tin, lý thuyết hệ thống và nhất là điều khiển học đã có ảnh hưởng lớn lao đến việc phát triển nghiên cứu vấn để giao tiếp. Năm 1956, ba tác giả người Mỹ là RJohnson, L.Schalekamp để cấp tới mối quan hệ giữa kỹ năng giao tiếp và sự tiến bộ của sinh viên trong trường đại học, cách bày tỏ tình cẩm trong giao tiếp khi viết cuốn sách “Giao tiếp”.
Đến năm 1960, Bavelas — nhà tâm lý học người Pháp, đã tiến hành những nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc giao tiép.[39] Những năm 70, vấn dé giao tiếp được chú ý nghiên cứu manh mẽ cả về chiều sâu lẫn chiéu rộng bởi các nhà Tâm lý học, Triết học X6 Viết, Giao tiếp nhanh chóng khẳng định được vị trí là một trong những vấn để cơ bản, thời sự của tầm ly học bằng sự ra đời của một loạt các tác phẩm và công trình nghiên cứu về giao tiếp theo các hướng:[11,8 - 9] - Bản chất, kết cấu và nhiệm vụ của giao tiếp trong các loại môi trường rộng, hẹp khác nhau. Hướng nghiên cứu này có các tác giả sau; G., - Méi quan hé giữa giao tiếp và phương tiện truyền thông đại chúng: I. - Phong cách giao tiếp có các tác phẩm của V. - Mỗi quan hệ giữa giao tiếp và nhãn cách, tiêu biểu A.
Sự kiện nổi bật đáng chú ý là từ năm 1970 — 1973 đã lần lượt diễn ra 3 Hội nghi khoa học; lan | (12/1970) và lan 2 (3/1973) tại Léningrat, lan 3 (5/1973) tại AlmaAta. 15 Sau đó là sự xuất hiện của nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về giao tiếp: năm 1974 có “Tâm lý học giao tiếp” của A.Leontiev, năm 1981 có “Van dé giao tiếp trong tâm lý học” của K.Platonov, năm 1985 có “Những trở ngại tâm lý trong giao tiếp liên nhân cách” của Ph.[39,11] Tám lai: Trong suốt bể dài lịch sử nghiên cứu giao tiếp, các nhà nghiên cứu trên thế giới chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn dé giao tiếp ở các khía cạnh cơ bản sau: - Vai trò của giao tiếp đối với sự hình thành, phát triển con người và xã hội luài người. - Những quan điểm khác nhau về bin chất của giao tiếp. - Các vấn để chung của giao tiếp như kết cấu, nhiệm vụ, phong cách giao tiếp.Các nghiên cứu chung về vấn dé giao tiếp & Việt Nam Từ cuối những năm 1970 trở lại đây, vấn để giao tiếp mới được các nhà khoa học ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu đúng mức.
- Hướng nghiên cứu lý luận: Tác giả Đỗ Long đánh dấu sự tiếp cận một cách hệ thống về cơ sở lý luận của vấn để giao tiếp qua tác phẩm “Karl Mark và pham trù giao tiếp” (1983). Sau đó là sự ra đời của nhiều cuốn sách, bai viết về vấn để giao tiếp ở trẻ em, sinh viên sư phạm (Trần Trọng Thủy, Bài Văn Huệ, Ngô Công Hoàn) ở trẻ mẫu giáo (Nguyễn Anh Tuyết, Nguyễn Thị Ngọc Châu), quan hệ mẹ — con (Nguyễn Khắc Viện, Vũ Thị Chín). Ngoài ra trong các cuốn sách giáo trình, chuyên khảo cũng có chú ý nhiều đến vấn để giao tiếp (Phạm Minh Hac, Pham Hoàng Gia, Nguyễn Quang Uẩn, Đặng Xuân Hoài, Nguyễn Văn Nhận.} - Hướng nghiên cứu thực tiễn: Cũng được đánh dấu bởi nhiễu thành tựu nghiên cứu về vấn để giao tiếp: Ở phía Bắc xin điểm lược một số công trình nghiên cứu có liên quan đến để tai nhữ sau: lồ “Giao tiếp trong sinh viên Đại học sư pham 1" của Phạm Ngọc Tân,1981. "Đặc điểm giao tiếp của học sinh Cao đẳng sư phạm Hà Sơn Binh” của Vương Đăng Diễn,1982.
"Bước đầu tìm hiểu nhu cầu giao tiếp của sinh viên trường Đại học sư phạm Hà Nội I" của Đào Kim Phượng, 1983. “Một số đặc điểm giao tiếp của sinh viên trường Đại học sư phạm Vinh” của Nguyễn Minh Đức, 1983. “Mot số đặc điểm giao tiếp của trẻ em mẫu giáo trong nhóm chơi không cùng độ tuổi” của Lê Xuân Hồng, 1996, “Nghiên cứu tính tích cực giao tiếp của trẻ em mẫu giáo 5- 6 tuổi trong hoạt động vui chơi” của Nguyễn Xuân Thức, 1997. “Vấn để giao tiếp của Bác sĩ Quân y với người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh” của Nguyễn Thị Thanh Hà,2000.
"Đặc điểm giao tiếp của phạm nhân bị kết án phạt tù của các tội phạm ít nghiêm trong” của Hoàng Thị Bích Ngọc, 2002. Phía Nam có để tài luận văn thạc sĩ "Đặc điểm giao tiếp của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm An Giang” của Đỗ Văn Thông, 1999 và một số luận văn tốt nghiệp đại học của sinh viên trường Đại học Sư phạm TP.HCM như: “So sánh một số đặc điểm giao tiếp giữa học sinh thiếu niên sống tại mái ấm và sống tai gia đình ở TP.HCM" của Nguyễn Thị Đỗ Quyên, 2005. Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã để cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn để giao tiếp, đặc biệt là đặc điểm giao tiếp và đối tượng nghiên cứu cũng được mở rộng khá phong phú nhưng nhìn chung vẫn tập trung trên đối tượng học sinh - sinh viên với các đặc điểm giao tiếp hay một số kỹ nang giao tiếp, trở ngại giao tiếp là chủ yếu.2 Các nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp của trẻ tự ky Một điều chắc chấn rằng, rất lâu từ trước khi hội chứng tự kỷ ở trẻ em được Leon Kanner mô tả, đã có nhiều trẻ em mắc hội chứng này trong lịch sử loài người, Vào năm 1797, dân làng vùng Aveyron đã tim thấy một cậu bé hoang dã sống lang thang trong rừng, họ đưa cậu bé về nuôi dưỡng và đặt tên là Victor. Ngày nay khi nhìn lại, có thể thấy rằng Victor đã có hành vi ứng xử của một trẻ bi tự kỷ.
Haslam kể lại câu chuyện về cậu bé bị bệnh sdi năm lên một tuổi và có biểu hiện hành vi như một trẻ tự ky: thường hay lặp lại các từ và những hành vi "xung động” trong quá trình giao tiếp. Hơn một thế kỷ sau, vào năm 1919, nhà Tâm lý học người Mỹ là Lightner Witmer có bài viết về Don, một đứa bé trai hai tuổi bảy tháng với những hành vi điển hình của trẻ tự kỷ. Don được đưa vào trường đặc biệt của Witmer và sau một thời gian đài nhận sự dạy dỗ tích cực, cậu bé đã có những tiến bộ đáng kể. Nhìn chung, các tác giả trên chỉ mé tả từng đối tượng cá biệt mà chưa có sự liên hệ so sánh với những trường hợp khác để rút ra những nhận định khái quát.