Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về bệnh cúm gia cầm Bệnh cúm ở gia cầm (Avian Influenza) thường gọi là bệnh cúm gia cầm hoặc bệnh cúm gà, là một bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus cúm type A thuộc họ Orthomyxoviridae. Bệnh thường xảy ra nặng ở gà, vịt, lợn, một số động vật có vú khác và có thể lây sang người. Biểu hiện của bệnh chủ yếu ở đường tiêu hoá và đường hô hấp.
Theo Tô Long Thành (2005) [20], virus cúm gia cầm là virus ARN phân mảnh có khả năng đột biến mạnh với hai kháng nguyên bề mặt H (từ H1 đến H16) và N (từ N1 đến N9) đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh học và miễn dịch học. Tác giả Lê Văn Năm (2004) [16] cho biết: Đây là bệnh rất nguy hiểm, có tốc độ lây lan nhanh với tỷ lệ chết rất cao trong đàn gia cầm bị nhiễm. Virus gây bệnh cúm gia cầm chủ yếu là loại H5, H7, H9 và có thể trở thành đại dịch. J (1993) [27], tính nguy hiểm của bệnh còn thể hiện ở khả năng biến chủng của virus và khả năng gây bệnh cho cả con người.
Như vậy, bệnh cúm gia cầm đang ngày càng trở nên nguy hiểm. Lịch sử bệnh cúm gia cầm 2. Lịch sử bệnh cúm gia cầm trên thế giới Trong lịch sử, bệnh cúm lần đầu tiên được Hippocrate mô tả vào năm 412 trước công nguyên và ổ dịch giống như dịch cúm từ năm 1173 đã được tác giả Hirsch tổng hợp (Lê Văn Năm, 2004) [16]. Năm 1878 ở Italia đã xảy ra một bệnh gây tỷ lệ tử vong rất cao ở đàn gia cầm, sau đã được đặt tên là bệnh dịch hạch gia cầm.
Đến năm 1901, Centanni và Savunozzi đã đề cập đến ổ dịch này được gây ra bởi virus qua n 4 lọc. Nhưng phải đến năm 1955 mới xác định được virus đã chính là virus cúm type A (H7N1 và H7N7) gây chết nhiều gà, gà tây và các loài khác. Những chủng vius đặc biệt này gây ra dịch cúm gia cầm ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trong cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 như: Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nam Phi, Trung Đông, Viễn đông, Châu Âu, Anh, Liên Xô cũ. Từ sau khi phát hiện ra virus cúm type A, các nhà khoa học đã tích cực nghiên cứu và nhận thấy virus cúm có nhiều ở loài chim hoang dã và gia cầm nuôi ở những vùng khác nhau trên thế giới và thấy rằng bệnh dịch nghiêm trọng nhất xảy ra đối với gia cầm là những chủng gây bệnh cao thuộc phân type H5 và H7, như ở Scotland năm 1959 là H5N1, ở Mỹ năm 1983 -1 984 là H5N2.
Năm 1963, virus type A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do lây từ loài thuỷ cầm di trú vào đàn gà. Cuối thập kỷ 60, phân type H1N1 thấy ở lợn và thấy có liên quan đến những ổ dịch gà tây với biểu hiện đặc trưng là những triệu chứng ở đường hô hấp và giảm đẻ. Sự lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng từ trước năm 1970 nhưng chỉ được công nhận khi xác định tỷ lệ nhiễm virus cúm cao ở một số loài thuỷ cầm di trú (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005) [2]. Năm 1971, Beard đã mô tả khá kỹ virus gây bệnh và đặc điểm bệnh lý lâm sàng trong các ổ dịch cúm gà, gà tây khá lớn xảy ra ở Mỹ mà chủng gây bệnh là H7N1.
Từ năm 1960 - 1979, bệnh được phát hiện ở Canada, Hồng Kông, Nhật Bản, các nước vùng Trung Cận Đông, các nước thuộc liên hiệp Anh và Liên Xô (Đào Yến Khanh, 2005) [11]. Theo Phạm Sỹ Lăng (2004) [13], năm 1983 - 1984 ở Mỹ, dịch cúm gà xảy ra do chủng virus H5N2 ở 3 bang Pensylvania, Virginia, Newtersey làm chết và tiêu hủy hơn 19 triệu gà. Cũng trong thời gian này, tại Ireland người ta n 5 đã phát hiện và tiêu hủy 270 nghìn con vịt tuy không có triệu chứng lâm sàng nhưng đã phân lập được virus cúm chủng độc lực cao (HPAI) để loại trừ bệnh một cách nhanh chóng. Năm 1977 ở Minesota đã phát hiện dịch trên gà tây do chủng H7N7.
Năm 1986 ở Australia dịch cúm đã xảy ra tại bang Victoria do chủng H5N2. Năm 1997 ở Hồng Kông dịch cúm đã xảy ra do virus cúm type A subtype H5N1 làm cho 30 triệu gia cầm phải tiêu hủy, 83 người lây nhiễm và 1 người chết, gây thiệt hại về kinh tế hết sức nghiêm trọng (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [14]. Năm 2003, ở Hà Lan dịch cúm đã xảy ra với quy mô lơn do chủng H7N7. Từ cuối năm 2003 đến năm 2004, dịch cúm gia cầm H5N1 bùng phát ở nhiều nước châu Á, trong đó có Việt Nam, lây lan nhanh chóng.
Đã có 11 nước khu vực Châu Á xuất hiện dịch cúm gia cầm H5N1 gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông, Việt Nam. Ngoài ra, có 7 nước và vùng lãnh thổ có dịch cúm gia cầm nhưng khác chủng gồm: Pakistan, Hoa Kì, Canada, Nam Phi, Ai Cập, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên và Đài Loan (Cục thú y, 2004) [5]. Nguyễn Ngọc Tiến (2013) [26] cho biết tình hình dịch cúm từ năm 2009 tới nay như sau: Năm 2009: Dịch cúm trên gia cầm phát ra tại 17 quốc gia và vùng lãnh thổ bao gồm: Afghanistan, Bangladesh, Camphuchia, Trung Quốc, Đức, Đặc khu hành chính Hồng Kông, Ấn Độ, Nhật Bản, Lào, Mông Cổ, Nepal, Nigeria, Nga, Tây Ban Nha, Thái Lan, Togo, Việt Nam. Năm 2010: Dịch cúm gia cầm phát ra tại 16 quốc gia và vùng lãnh thổ bao gồm: Bangladesh, Bhutan, Bungary, Camphuchia, Trung Quốc, Khu đặc hành chính Hồng Kông, Ấn Độ, Israel, Lào, Mông Cổ, Myanmar, Nepal, Rumani, Nga, Tây Ban Nha và Việt Nam.
n 6 Năm 2011: Dịch cúm gia cầm phát tại 14 quốc gia và vùng lãnh thổ bao gồm: Bangladesh, Camphuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Iral, Israel, Nhật Bản, Mông Cổ, Myanmar, Hàn Quốc, Khu đặc hành chính Hồng Kông và Việt Nam. Năm 2012 tới nay: Dịch cúm gia cầm đã xảy ra tại Ai Cập, Bangladesh, Nepal, Bhutan, Myanmar, Ấn Độ, Khu đặc hành chính Hồng Kông, Trung Quốc, Irael, Indonesia và Việt Nam. Như vậy, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở khắp các châu lục với mức độ ngày càng nguy hiểm hơn đối với các loài gia cầm và sức khỏe của cộng đồng, nó đã thôi thúc Hiệp hội các nhà chăn nuôi gia cầm hội thảo lần đầu tiên tổ chức hội thảo chuyên đề về bệnh cúm gà. Hội thảo lần đầu tiên tổ chức vào năm 1981, lần thứ 2 tại Ailen năm 1987, lần thứ 3 cũng tại Ailen vào năm 1992.
Từ đó đến nay, trong các hội nghị về dịch tễ trên thế giới, bệnh cúm gia cầm luôn là một trong những nội dung được coi trọng (Lê Văn Năm, 2004) [16].2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam Bệnh cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào cuối tháng 12/2003. Sau đó, dịch đã nhanh chóng lây lan ra hầu hết các tỉnh trong cả nước, liên tục tái phát và thường xuất hiện vào lúc chuyển mùa, nhất là vụ Đông - Xuân. Theo số liệu của Cục thú y, tính tới năm 2008 thì có 6 đợt dịch cúm xảy ra tại Việt Nam: * Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 đến 30/3/2004 Dịch cúm gia cầm xuất hiện ở nước ta lần đấu tiên vào cuối tháng 12/2003. Dịch bắt đầu xuất hiện tại tỉnh Hà Tây, Long An, Tiền Giang, sau đó lây lan nhanh chóng với nhiều ổ bệnh xuất hiện cùng một lúc ở nhiều địa phương.
Trong đợt dịch này, giai đoạn cao điểm là từ 1/2/2004 đến 19/2/2004, bình quân mỗi ngày có khoảng 15 - 230 xã, 15 - 20 huyện phát hiện ra ổ dịch mới trong cả nước. Ngày cao điểm nhất có 267 xã, 20 n 7 huyện/thị trấn mới phát sinh ra dịch. Số gia cầm tiêu huỷ là 2 - 3 triệu con/ngày, ngày cao điểm nhất lên tới 4 triệu con. Đợt dịch này đã làm cho gia cầm của 2574 xã/phường thuộc 381 huyện/quận/thị xã của 57 tỉnh thành phố mắc bệnh.
Tổng số gia cầm bị chết do mắc bệnh và tiêu huỷ là hơn 43,9 triệu con, chiếm 16,8% tổng số gia cầm của cả nước. Trong đó, gà là 30,4 triệu con và thuỷ cầm là 13,5 triệu con, ngoài ra còn có 14,76 triệu con chim cút và các loại chim khác bị chết và bị tiêu huỷ (Cục thú y, 2004) [5]. * Đợt dịch thứ hai từ tháng 4/2004 đến tháng 11/2004 Trong đợt dịch này, các ổ bệnh chủ yếu xuất hiện ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Dịch có khuynh hướng xuất hiện ở vùng chăn nuôi nhiều thuỷ cầm.
Bệnh xuất hiện ở 46 xã/phường tại 32 huyện/quận/thị xã thuộc 17 tỉnh. Tổng số gia cầm chết và tiêu huỷ trong giai đoạn này khoảng 84.000 con gà và 8. * Đợt dịch thứ ba từ tháng 12/2004 đến tháng 5/2005 Bệnh xuất hiện ở 670 xã tại 182 huyện thuộc 36 tỉnh thành trong cả nước. Số gia cầm bị chết và tiêu huỷ trong đợt này là hơn 470.000 vịt, ngan và hơn 551.
* Đợt dịch thứ tư từ tháng 10/2005 đến tháng 1/2006 Dịch xảy ra ở cả 3 miền với 24 tỉnh thành trong cả nước, trong đó miền Nam có 3 tỉnh (Bạc Liêu, Đồng Tháp, Long An), Miền Trung có 3 tỉnh (Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Trị) và 18 tỉnh thuộc miền Bắc (Hà Nội, Bắc Giang, Hoà Bình, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Kạn, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Sơn La, Quảng Ninh, Yên Bái, Thái Nguyên, Ninh Bình, Cao Bằng và Hà Giang). Tổng số gia cầm bị chết và bị tiêu huỷ 3.000 con thuỷ cầm và các loài khác. n 8 * Đợt dịch thứ năm từ tháng 12/2006 Sau khoảng hơn 10 tháng khống chế dịch cúm gia cầm thành công thì ngày 6/12/2006 dịch cúm đã bùng phát trở lại nước ta. Ổ dịch đầu tiên xuất hiện ở xã Khánh Hưng huyện Trần Văn Thời tỉnh Cà Mau làm hơn 2.500 gia cầm chết.
Một ngày sau đó tỉnh Bạc Liêu cũng có 3.500 vịt bị chết. Sau đó nhiều ổ dịch mới xảy ra tại các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Theo đánh giá của Cục Thú y, do thời tiết chuyển lạnh là điều kiện thuận lợi cho virus cúm nhân lên và phát tán. Mặt khác, công tác tiêm phòng vaccine phòng cúm gia cầm đợt 2 đã xong nhưng thực tế nhiều đàn gia cầm, chủ yếu là vịt nở trái phép chưa được tiêm.
Đợt dịch này kéo dài và rải rác trong suốt năm 2007. Từ ngày 1/5/2007 đến 23/8/2007, dịch xảy ra ở 167 xã/ phường 10 quận/ huyện thuộc 23 tỉnh trong cả nước.