CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Đặc điểm sinh học của giun kết hạt Oesophagostomum 1. Vị trí của giun kết hạt Oesophagostomum trong hệ thống phân loại động vật học Oesophagostomum dentatum và Oesophagostomum longicaudum thuộc giống Oesophagostomum, là tác nhân gây ra bệnh giun kết hạt (Oesophagostomatosis) ở lợn.
Theo Skrjabin và cs (1963) [44], Phan Thế Việt và cs (1977) [41], giun kết hạt Oesophagostomum ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau: Ngành: Nemathelminthes Shneider, 1873 Phân ngành: Nemathelmintha Shaneider và Schulz, 1940 Lớp: Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp: Secerentea Chitwood, 1933 Bộ: Rhabditida Chitwood, 1933 Phân bộ: Strogylata Railliet, 1916 Họ: Trichonematidae Cram, 1927 Phân họ: Oesophagostomatinae Railliet et Henr, 1913 Giống : Oesophagostomum Molin, 1861 Loài : Oesophagostomum dentatum Rudolphi, 1803 Loài : Oesophagostomum longicaudum Goodey, 1925 n 4 1. Đặc điểm hình thái và cấu tạo giun kết hạt lợn Đề cập đến hình thái và cấu tạo giun kết hạt, Skrjabin và cs (1963) [44] cho biết : Loài O. dentatum : dài từ 7 – 14 mm, đầu được giới hạn với thân rõ rệt bởi ngăn bụng sâu. Bao miệng dài tới thực quản hình đinh ghim.
Con đực có túi đuôi, hai gai giao hợp bằng nhau dài 0,90 – 0,94 mm. Con cái âm hộ nằm gần hậu môn, hậu môn ở cách mút đuôi 0,255 – 0,265 mm. longicaudum : con đực dài 8,8 – 9,6 mm, lái dạng cái xẻng. Con cái dài 8 – 11 mm, đuôi rất dài và thon, nhọn.
Hậu môn nằm cách mút đuôi 0,453 – 0,543 mm. Âm hộ cách đuôi 0,906 – 0,951 mm. Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết : các loài thuộc giống Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là, túi miệng hình ống rất nhỏ, quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ ; phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực có túi đuôi và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn. dentatum ký sinh ở ruột già của lợn, là loài giun tròn nhỏ, không có cánh đầu, có 9 rua ngoài và 18 rua trong.
Túi đầu to, gai cổ ở hai bên chỗ phình to của thực quản. Giun đực dài 8 - 9 mm, rộng 0,14 - 0,37 mm, có túi đuôi, có 2 gai giao hợp bằng nhau dài 1,0 - 1,14 mm. Giun cái dài 8 - 11,2 mm, âm đạo dài 0,1 - 0,15 mm, nằm gần hậu môn, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng. Trứng hình bầu dục, dài 0,060 - 0,088 mm, rộng 0,035 - 0,050 mm.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [19]: giun O. dentatum là loài giun tròn nhỏ, không có cánh đầu. Giun đực có kích thước 7,6 – 8,8 x 0,35 – 0,38mm, có túi đuôi, có hai gai giao hợp dài 0,792 – 1,037 mm. Giun cái dài 7,8 – 12,5 x 0,38 – 0,43 mm ; đuôi dài 0,405 – 0,430 mm.
Âm hộ ở trước hậu môn, cách hậu môn 0,208 – 0,388 mm, dài 0,1 – 1,15 mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng. Trứng hình ovan, kích thước 0,056 – 0,071 x 0,032 – 0,045 mm. Phần đầu cơ thể; 3. Đuôi của con cái; thể cái; 4.
Mút và gốc gai giao phối; 3. Đuôi của con đực; 4. Phần cuối gai 5. Cơ quan điều chỉnh; 6.
Túi đuôi cá giao hợp; 5. Nón sinh dục của thể đực; 7. con đực (Nguồn: Phan Thế Việt và cs, 1977) [41] (Nguồn: Phan Thế Việt và cs, 1977) [41] Hình 1. dentatum (Nguồn: http://courseware_s/kcxxl)[53] (Nguồn:http://cal.
Vòng đời của giun kết hạt lợn Hagsten (1999) [43] cho rằng: thực chất của bất kỳ chương trình khống chế giun sán nào thì việc phá vỡ vòng đời của chúng là cần thiết. Do vậy, hiểu n 6 được chu kỳ (vòng đời) phát triển của giun sán có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòng chống các bệnh giun sán nói chung và bệnh giun kết hạt nói riêng. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12]: toàn bộ quá trình phát triển, thay đổi qua những giai đoạn khác nhau của đời sống ký sinh trùng, kể từ khi nó là mầm sinh vật đầu tiên, cho đến khi nó lại có khả năng sản sinh ra mầm sinh vật mới, tạo ra một thế hệ mới thì toàn bộ quá trình đó được gọi là chu kỳ. Skrjabin và cs (1963) [44] đã mô tả chi tiết về chu kỳ phát triển của giun kết hạt lợn như sau: trứng bài xuất ra ngoài ở giai đoạn phân chia 8 - 16 phôi bào.
Người ta đã xác định được rằng, khi nhiệt độ thích hợp (30oC), ở trong trứng ấu trùng phát triển rất nhanh, chỉ qua 16 - 18 giờ ấu trùng đã nở ra khỏi trứng. Ấu trùng giai đoạn 1 ra khỏi trứng phát triển trong môi trường bên ngoài, đến ngày thứ tư thì lột xác lần thứ nhất. Sau đó 24 giờ ấu trùng lột xác lần thứ 2, tức là tách lớp vỏ và trở thành ấu trùng giai đoạn 2, rồi lột xác lần thứ hai thành ấu trùng giai đoạn 3. Ấu trùng giai đoạn 3 là ấu trùng cảm nhiễm, tức là có khả năng gây bệnh đối với ký chủ.
Tác giả cũng cho biết, khi gây nhiễm thực nghiệm trên lợn bằng ấu trùng cảm nhiễm O. longicaudum, thấy có sự tạo thành các hạt ký sinh trong thành ruột sau hai ngày nhiễm bệnh. Sau 17 ngày, đa số ấu trùng chui ra khỏi hạt, ký sinh trong ống ruột ở giai đoạn phát triển thứ 4. Sau 35 ngày cảm nhiễm thấy có hiện tượng mất các hạt ký sinh, ở chỗ hạt đó chỉ thấy mô niêm mạc dày lên.
longicaudum đạt đến giai đoạn trưởng thành sau 50 ngày cảm nhiễm. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12]: vòng đời giun kết hạt không cần vật chủ trung gian. Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ 25 – 270C, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng, qua hai lần lột xác, sau 7 – 8 ngày thành ấu trùng gây nhiễm. Khi ký chủ nuốt phải ấu trùng này, tới ruột thì ấu n 7 trùng chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén, lột xác lần thứ ba, tới ngày 6 – 8 thành ấu trùng kỳ IV, sau đó rời khỏi niêm mạc ruột và lột xác lần nữa và phát triển thành giun trưởng thành.
Thời gian hoàn thành vòng đời của giun O. longicaudum là 50 ngày, giun O. dentatum là 45 – 60 ngày. Phan Lục (2006) [26] cho biết: ấu trùng O.
dentatum khi vào ruột lợn chui sâu vào niêm mạc ruột già và hình thành hạt (u kén), trong có ấu trùng. Sau 23 ngày, ấu trùng chui ra khỏi kén, vào xoang ruột và phát triển thành giun trưởng thành sau 1,5 – 2 tháng. Tuổi thọ của giun từ 8 – 10 tháng. Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [20]: giun trưởng thành ký sinh trong ruột già lợn, đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài môi trường.
Trứng gặp điều kiện nhiệt độ 25 - 27oC, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng. Ấu trùng I sau 24 giờ, ở nhiệt độ 22 - 24oC phát dục thành ấu trùng II, dài 0,44 – 0,64 mm. Ấu trùng II phát triển được hai ngày thì thành ấu trùng gây nhiễm III. Ấu trùng này lẫn trong thức ăn, nước uống vào cơ thể ký chủ.
Khi tới ruột, ấu trùng chui sâu vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén và phát triển thành giun trưởng thành ở ruột già. Vòng đời giun kết hạt có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau: Phân 25 - 27oC Giun kết hạt trưởng thành Trứng Ấu trùng (Ký sinh ở ruột già lợn) 10 – 17 giờ Qua 2 lần lột xác Rời khỏi Ấu trùng có u kén sức gây nhiễm Ký chủ Lột xác lần 4 Ấu trùng Lột xác lần 3 Ruột nuốt phải kỳ IV Hình 1. Sơ đồ vòng đời giun kết hạt lợn n 8 1. Sự phát triển và sức đề kháng của trứng giun kết hạt lợn ở ngoại cảnh Việc nghiên cứu sự phát triển và sức đề kháng của trứng giun kết hạt ở ngoại cảnh có ý nghĩa quan trọng trong dịch tễ học bệnh giun kết hạt lợn, đồng thời là cơ sở khoa học đề ra những biện pháp phòng trị bệnh giun kết hạt cho lợn.
Theo Skrjabin và cs (1963) [44]: Ở nhiệt độ thích hợp (30oC), trong trứng ấu trùng phát triển rất nhanh, chỉ qua 16 - 18 giờ nở ra và vào môi trường bên ngoài. Ở nhiệt độ cao 45 - 50oC trứng bị chết, còn ở nhiệt độ thấp 3oC trứng không phát triển. Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết: ở nhiệt độ 5 - 9oC trứng ngừng phát triển, nhiệt độ 35oC trứng bị chết, gặp điều kiện thích hợp trứng phát triển thành ấu trùng gây nhiễm sau trên dưới một tuần. Archie (2000) [42] nhận xét: sự phát triển, khả năng sống sót của trứng và ấu trùng cảm nhiễm ở môi trường trước hết phụ thuộc vào khí hậu.
Gặp nhiệt độ và ẩm độ thích hợp, sau 5 - 6 ngày trứng phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm. Khi nhiệt độ thấp trứng giun nở và phát triển chậm hơn. Thí nghiệm ủ xilô phân lợn có nhiễm trứng giun đũa, trứng giun kết hạt và ấu trùng cảm nhiễm L3 của giun kết hạt; kiểm tra sau 7, 14, 28, 56 ngày ủ, kết quả cho thấy: trứng giun đũa không bị tiêu diệt, mặc dù khả năng sống suy giảm; trứng giun kết hạt và ấu trùng cảm nhiễm L3 bị phá huỷ trong 7 - 14 ngày đầu của quá trình ủ xilô. (Caballero-Hernádez A.
Theo Phan Địch Lân và cs (2002) [21], Phan Lục (2006) [26], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [20]: trứng giun kết hạt theo phân ra ngoài môi trường, gặp điều kiện nhiệt độ 25 - 27oC, sau 10 – 17 giờ nở thành ấu trùng. Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm (L3) ở ngoại cảnh Theo Oparin P. n 9 Skrjabin (1963) [44] cho biết: ấu trùng cảm nhiễm Oesophagostomum sống lâu hơn ở môi trường ẩm thấp, súc vật nhiễm bệnh này chủ yếu trên đồng cỏ ẩm ướt và khi uống nước ở những ao, đầm nhỏ cũng như máng nước lâu ngày không cọ rửa. Những ấu trùng cảm nhiễm có sức đề kháng với nhiệt độ cao và nhiệt độ thấp, với sự làm khô và với tác động của các nhân tố hoá học tốt hơn so với ấu trùng của các giai đoạn trước.
Ngoài ra, ấu trùng cảm nhiễm có khả năng di chuyển theo hướng thẳng đứng hay nằm ngang. Nghiên cứu về ấu trùng cảm nhiễm của giun kết hạt, người ta thấy sức đề kháng của nó với nhiệt độ khá cao: ở -15oC, 93% ấu trùng cảm nhiễm sau 24 giờ có khả năng hoạt động trở lại khi đưa về nhiệt độ môi trường xung quanh.