ĐẶT VẤN ĐỀ Qua nghiên cứu tài liệu và tìm hiểu thực tế tại các cơ sở sản xuất nước chấm ở thành phố Hé Chí Minh cho thấy một số đông các cơ sở sản xuất nước chấm bằng phương pháp hoá học: thủy phân protid thực vật và động vật bằng acid mạnh ở nồng độ cao, một số nơi khác quá trình sản xuất được thực hiện bằng phương pháp vi sinh nhưng chỉ ở qui mô truyền thống sử dụng các chủng nấm mốc tự nhiên. Với 2 phương thức này thường cho sản phẩm có chất lượng không ổn định đồng thời chứa các độc tố. Để khắc phục nhược điểm này các nước trên thế giới đã sử dụng giống thuần chủng trong quá trình sản xuất nước chấm lên men. Tuy nhiên ở Việt Nam chưa được áp dụng rộng rãi.
Để phổ biến phương pháp này đến các cơ sở sản xuất nước chấm, một trong những nhiệm vụ đặt ra là chọn được các chủng nấm mốc phù hợp. Giống nấm mốc phù hợp với việc lên men sản xuất nước chấm phải đảm bảo những yêu cẩu: +Có hoạt lực enzyme proteaza cao +Không sản sinh độc tố aflatoxin +Sức phát triển mạnh và chống tạp khuẩn tốt +Có ảnh hưởng tốt đến sự tạo hương thơm cho sản phẩm Trong các đặc điểm trên, họat lực enzyme proteaza là vấn dé đặt lên hàng đầu khi chọn lựa các chủng nấm mốc phù hợp với việc sản xuất nước điểm nêu trên phục vụ cho việc sản xuất nước chấm lên men. Chúng tôi tiến hành để tài : “phân lập tìm hiểu đặc điểm một số chủng nấm mốc sử dụng trong sản xuất nước chấm lên men ” Với các nhiệm vụ chủ yếu sau: * Phân lập các chủng nấm mốc từ các nguyên liệu giàu đạm hay tỉnh bột vì nguyên liệu của quá trình sản xuất nước chấm lên men là những nguyên liệu giàu đạm có bổ sung tinh bột. *Quan sát hình thái đại thể và vi thể để chọn ra những chủng nấm mốc thuộc giống Aspergillus.
*Khảo sát khả năng phân giải một số hợp chất cao phân tư trong nguyên liệu nuôi cấy như protein, tinh bột, cellulose của các chủng phân lập được. *Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt lực enzyme proteaza như: thời gian, nhiệt độ, độ ẩm, pH, độ thoáng,. Nhằm tuyển chọn các chủng nấm mốc, cũng như các diéu kiện nuôi cấy đáp ứng các yêu cầu của một giống dùng cho quá trình lên men sản xuất nước chấm có khả năng cho sản phẩm chất lượng cao. *Sử dụng chủng nấm mốc tuyển chọn được vào nuôi cấy bể mặt (lên Luận Văn TẾ nell aby 6y ig) A NU, “ PHẦN 2 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 - MỘT SỐ HIỂU BIẾT VỀ NƯỚC CHAM LÊN MEN Nước chấm là tên gọi chung chỉ các loại gia vị dạng lỏng chứa chủ yếu acid amin, muối ăn và có hương vị đặc trưng.
Nước chấm lên men được sản xuất từ các nguyên liệu giàu đạm theo 2 phương pháp: vi sinh học và hoá học.1 TIÊU CHUẨN VỀ CHẤT LƯỢNG CỦA NƯỚC CHẤM LÊN MEN Do sự phát triển mạnh mẽ của nước chấm và nhu cẩu của nhân dân, đến nay nước ta đã đưa ra một số tiêu chuẩn về chất lượng nước chấm lên men như sau: 2.1 Tiêu chuẩn cảm quan Bảng 2.1-1 Các yêu cầu về cảm quan của nước chấm lên men Tên chỉ tiêu Yêu cầu Thơm đặc trưng của nước chấm lên men, Ngọt dịu, không có vị lạ Trong, không có váng. Hàm lượng nitơ toàn phần không nhỏ hơn Hàm lượng nitơ amin không nhỏ hơn Hàm lượng nitơ amoniac không lớn hơn Hàm lượng NaCl không nhỏ hơn (g/) PB 2.3 Chi tiêu vi sinh vật và độc tố e - Không có nấm men và nấm mốc. « Tổng số vi khuẩn hiếu khí không lớn hơn 20000 CFU/ml. ® Coliform nhỏ hơn 10 CFU/ml.
e Escherichia coli không được có. perfringen không lớn hơn 2 CFU/ml. se Salmonella không được có. © Staphylococcus aureus không được có.1 Nguyên liệu quá trình sản xuất nước chấm lên men Trên thế giới, nước chấm lên men rất đa dạng và phong phú.
Nguyên liệu chính để sản xuất các sản phẩm này cũng rất đa dạng như các hạt giàu đạm: đậu nành, đậu phộng, khô lạc,. phối hợp với các nguyên liệu giàu tinh bột như bột mì, bột gạo, bột sắn, lúa mach và các gia vị như muối, đường, gừng, tỏi, ớt. Tuy nhiên nước chấm được làm từ đậu nành và bột mì rất giàu dinh dưỡng vì hàm lượng đạm cao, đẩy đủ các chất protid, lipit, gluxit, chất khoáng. ngoài ra còn có các vitamin đặc biệt là vitamin nhóm B, và một năng lượng tương đối cao khoảng 1100 đến 1200 calo/lít.
Thành phần dinh dưỡng của nước chấm lên men từ đậu nành được trình bay trong bảng sau:{ 15] Bảng 2.2-1 Thành phần dinh dưỡng nước chấm từ đậu nành ee — ret | om ee- ——.¬ 300-545 mg % Với đặc điểm trên chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu về thành phần hoá học của của 2 loại nguyên liệu này để làm cơ sở nghiên cứu cho để tài. a- Thành phần hoá học của hạt đậu nành Đậu nành có tên khoa hoc là: Glycine max Merrills Thành phần hoá học chính của hạt đậu nành chủ yếu là protein, lipit và một hàm lượng hydratcacbon. Trong đó protein chiếm một tỉ lệ lớn 40 - 45%. Thanh phan aid amin trong protein đậu nành ngoài 2 thành phan chính methionin và tryptophan còn có các acid amin khác tương đương lượng acid amin trong thịt.{I I ]{ 10] Leuine 2 Treonin Lysine ` Tryptophan Methionin y Valin Cystein : Histidine Hydratcacbon chiếm khoảng 34% hat đậu nành.
gồm 2 loại: loại tan trong nước chiếm 10%, còn lại là loại không tan trong nước. Thành phần hydratcacbon gồm: Bảng 2.2-3 Thành phần hydratcacbon của đậu nành lượng(%) ete [ee Thành phần khoáng chiếm 5% trong lượng khô của hạt đậu nành. Trong đó đáng chú ý là canxi, phospho, mangan, kẽm và sắt.2-4 Thành phần khoáng hạt đậu nành Vẻ thành phẩn vitamin trong đậu nành rất khác nhau, gồm các Bảng 2.2-5 Thành phần vitamin trong hạt đậu nành Loại vitamin Loại vitamin Thiamin 11.9 b-Thành phần hoá học của bột mì Bảng 2.2-6 Thành phần hoá học bột mì Protein của bột mì có 4 loại: anbumin, globulin, prolamin, glutelin. chủ yếu là: prolamin, glutelin.
Bột mì có vai trò không nhỏ trong việc quyết định chất lượng sản phẩm nước chấm lên men. Khi tiến hành lên men có bổ sung bột mì đều có quá trình rang. Quá trình rang bột mì góp phần tạo hương cho nước chấm vì các hợp chất tạo thành do sự xử lý nhiệt gồm nhiều hợp chất guaiacyl như vanilin, vanilic acid, ferulic acid và 4-ethylguiacol, hàm lượng các hợp chất phenol tự do cũng tăng lên, Quá trình rang cũng tạo màu cho sản phẩm .2 Quy trình sản xuất nước chấm lên men lên men nhờ vi sinh vật Đối với phương pháp sản xuất nước chấm lên men, cơ sở khoa học là sử dụng hệ enzymes của vi sinh vật để thủy phân nguyên liệu giàu đạm. Nguồn enzymes có thể tạo ra bằng cách nuôi cấy vi sinh vật trên môi trường riêng rồi đưa vào nguyên liệu giàu đạm hay nuôi trực tiếp trên môi trường giàu đạm.
Gồm các giai đoạn sau: a-Giai đoan làm mốc giống: Trong sản xuất qui mô gia đình theo phương pháp truyền thống giống được sử dụng cho lên men là nấm mốc nhiễm tự nhiên. Trong không gian nhà làm tương bào tử nấm mốc nhiều và người sản xuất chỉ cần cho quan tâm. với mục đích tạo được lượng giống đủ cho sản xuất với lượng bào tử đạt được là cao nhất. Giống mốc được chuẩn bị gồm các bước sau: -Giai đoạn giữ giống: Giống nấm mốc được giữ trong các ốn g thạch nghiêng.
-Nuôi cấy nấm mốc giống trong các bình tam giác: Thường sử dung các bình tam giác 0,25-0,5 lít hoặc | lít. Có thể dùng cơm nấu chín bóp rời thành từng hạt hoặc dùng mảnh ngô, gạo được xay vỡ có bổ sung trấu và nước. Tron đều trong khay để 1-2 giờ rồi bóp thật tơi. Sau đó cho vào các bình tam giác.
Dem khử trùng ở | atm trong vòng 30-45 phút (đối với cơm, cám) và 60 phút (đối với ngô). Cho 5 ml nước cất vào các ống nghiệm giống lắc cho bào tử hoà trong nước rồi cấy truyền sang bình tam giác. Một ống giống có thể cấy truyền sang 2-3 bình có dung tích 1 lít. Tiến hành nuôi trong vòng 5-6 ngày.
b- Nhân giống trên mành sing (nhân giống lớn): Môi trường để nhân giống trong giai đoạn này là ngô mảnh hay gạo ra với lớp dày 1,5-2 cm, sau khi nuôi 34-36 giờ nhiệt độ trong khay bắt đầu giảm dẫn cần điều chỉnh nhiệt độ để duy trì sự hình thành bào tử Sau khi nuôi mốc giống xong có thể sử dụng để sản xuất ngay, nhưng cũng có thể sấy khô tới độ ẩm 8% ở nhiệt độ 40°C trong các bọc nylon để chống ẩm và tránh lây nhiễm của loài khác để bảo quản dùng lâu dai. c-Giai đoan làm nước đâu: Thường trai qua 2 khâu : Rang đâu: Đậu để nguyên hạt rang trên bếp được áp dụng ở các cơ sở sản xuất qui mô nhỏ, hộ gia đình hay sấy 180-200°C trong 45-60 phút ở qui mô công nghiệp. Ngâm đậu: Đậu nành được ngâm trong khoảng 4-8 giờ, lượng nước ngâm thường gấp 2,5 lần lượng đậu. Hoặc có thể bỏ qua giai đoạn ngâm đậu mà thủy phân đậu luôn bằng cách trộn với mốc nuôi.| 17] Đậu sau khi ngâm để cho ráo nước đem hấp chín ở | atm trong | giờ Theo phương pháp truyền thống thì hỗn hợp đậu nguyên hạt và bột mì sau khi hấp chín cho vào các khay nhỏ, cấy mốc nuôi, nuôi ủ 3-4 ngày.
Trong suốt quá trình nuôi thường xuyên đảo trộn bằng các dụng cụ cẩm tay để tránh nhiệt độ quá nóng làm nấm mốc chết. Trong công nghiệp việc nuôi mốc tiến hành trong các phòng nuôi được diéu chỉnh nhiệt độ 30-32°C, các thiết bị nuôi ủ tự động, trộn đảo tự động, kiểm soát nhiệt độ một cách tự động. Sau 16-24 giờ nuôi cấy Riba. ik có thể hạ nhiệt độ xuống 28-30°C.
Thời gian nuôi mốc có thể nhanh gấp hai lần so với phương pháp thủ công. e-Giai đ Nguyên liệu sau khi mọc nấm mốc tốt và đều thì tiến hành ngả tương ngay bằng cách cho vào chum hay vại để chín. Ở qui mô sản xuất công nghiệp nguyên liệu được nghiền nhỏ rồi mới cho vào chum hay vại. Việc ngả tương được tiến hành nhanh để tận dụng thời điểm hoạt động của men amlilaza bằng cách trộn với nước muối theo t lệ 17- 19%.
Nếu néng độ thấp hơn có thể có một số vi sinh vật khác phát triển nếu cao hơn thì làm ức chế hoạt động của enzymes.