Nghiên cứu Đa Dạng Sinh Học Copepoda Nước Ngầm Quảng Nam - Đà Nẵng

Nghiên cứu Copepoda (Giáp xác chân chèo) ở nước ngầm Quảng Nam, Đà Nẵng. Khám phá đa dạng sinh học, phân loại và đặc điểm phân bố loài.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

60
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về đối tƣợng nghiên cứu

1.2. Giới thiệu về Copepoda

1.3. Tổng quan về nƣớc ngầm

1.4. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu

1.5. Tổng quan về khu vực nghiên cứu

1.5.1. Tỉnh Quảng Nam

1.5.2. Thành phố Đà Nẵng

2. CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.2.1. Đánh giá mức độ đa dạng sinh học của phân lớp Copepoda

2.2.2. Đánh giá các thông số môi trƣờng nƣớc ngầm

2.2.3. Đánh giá mối tƣơng quan giữa các thông số môi trƣờng với mức độ đa dạng sinh học Copepoda

2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.3.1. Phƣơng pháp lấy mẫu ngoài thực địa

2.3.2. Phƣơng pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm

2.3.3. Phƣơng pháp phân loại Copepoda

2.3.4. Phƣơng pháp đếm mật độ cá thể

2.3.5. Chỉ số chất lƣợng nƣớc ngầm ( Ground Water Quality Index)

2.3.6. Phƣơng pháp phân tích số liệu

2.3.7. Phƣơng pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử Atomic Absorbtion Spectrometric (AAS)

2.3.8. Chỉ số đa dạng Shannon – Wiener và chỉ số đa dạng sinh học Simpson

3. CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN

3.1. Thành phần Copepoda

3.2. Danh mục thành phần loài Copepoda

3.3. Mối tƣơng đồng giữa sự xuất hiện loài tại các khu vực lấy mẫu

3.4. Chỉ số đa dạng Shannon và Simpson

3.5. Thông số môi trƣờng nƣớc tại các địa điểm nghiên cứu

3.6. Số liệu môi trƣờng

3.7. Tƣơng quan giữa các thông số môi trƣờng

3.8. Chỉ số chất lƣợng nƣớc GWQI

3.9. Mối tƣơng quan giữa chất lƣợng nƣớc GWQI với mật độ loài

3.10. Mối tƣơng quan chất lƣợng môi trƣờng nƣớc đến sự phân bố loài

4. CHƢƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tài liệu tham khảo

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH ẢNH

TÓM TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Về Copepoda Ở Quảng Nam Đà Nẵng

Nghiên cứu về đa dạng sinh học phân lớp giáp xác chân chèo Copepoda trong nước ngầm tại Quảng NamĐà Nẵng đang ngày càng nhận được sự quan tâm. Copepoda là một nhóm động vật giáp xác nhỏ, phân bố rộng rãi trong nhiều môi trường khác nhau, từ nước ngọt đến nước mặn, và thậm chí cả những môi trường khắc nghiệt như nước ngầm. Chúng đóng vai trò quan trọng trong lưới thức ăn của các hệ sinh thái dưới nước, là thức ăn thiết yếu cho nhiều sinh vật biển và tham gia vào việc chuyển tiếp năng lượng từ các bậc dinh dưỡng thấp hơn đến các bậc cao hơn. Tuy nhiên, các nghiên cứu về Copepoda trong nước ngầm ở khu vực miền Trung Việt Nam, đặc biệt là Quảng NamĐà Nẵng, vẫn còn hạn chế, đặc biệt là các nghiên cứu đánh giá mối tương quan giữa đa dạng sinh học và các yếu tố môi trường. Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu đa dạng sinh học phân lớp giáp xác chân chèo Copepoda trong nước ngầm tại khu vực này là rất cần thiết để bổ sung dữ liệu khoa học và làm cơ sở cho các nghiên cứu ứng dụng sau này. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá thành phần loài, phân bốsinh thái học của Copepoda trong môi trường nước ngầm tại Quảng NamĐà Nẵng, từ đó đưa ra những nhận định về chất lượng nguồn nước ngầm và đề xuất các biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học.

1.1. Giới thiệu chung về phân lớp Giáp Xác Chân Chèo Copepoda

Phân lớp Copepoda (chân chèo) thuộc nhóm Crustacea (giáp xác), ngành Arthropoda (chân khớp). Chúng thích nghi cao với môi trường sống trong trầm tích nước ngầm. Có khoảng 2.800 loài sống trong thủy vực nước ngọt (Galassi, 2001). Copepoda có thân hình trụ ngắn hoặc hình dài được chia thành 3 phần là phần đầu, phần ngực và phần bụng. Phần đầu thường được làm tròn và có râu nổi bật, có 5 cặp chân ngực. Chúng sống tự do hoặc sống kí sinh. Thức ăn chủ yếu là thực vật phù du ngoài ra còn có luân trùng và Ciliates. Hầu hết các Copepoda có một mắt ghéo, thường là màu đỏ tươi và ở giữa đầu trong suốt, đối với các loài dưới lòng đất mắt có thể tiêu biến. Chiều dài biến động trong khoảng 0.2 mm nhưng đa phần có chiều dài nhỏ hơn 2.

1.2. Tầm quan trọng của nước ngầm và sự hiện diện của Copepoda

Nước ngầm là một nguồn nước quan trọng, đóng vai trò là nguồn nước chính lưu trữ nước ngọt trong chu trình thủy văn (Mark Louie D. Lopez et al.). Cấu trúc của nước ngầm có thể được xác định bởi một số khía cạnh chẳng hạn như địa mạo, thủy văn, hóa học, thành phần cơ chất, thực phẩm nguồn và quần xã sinh vật (Galassi, 2001). Copepoda là thành phần chính của động vật nước ngầm, chúng có mặt hầu hết các môi trường nước ngầm, trong đó Cyclopoida và Harpacticoida là hai bộ chiếm ưu thế hơn hẳn đối với nước ngầm bởi đặc điểm hình thái của chúng dễ thích nghi với kiểu môi trường này (Galassi, 2001).

II. Tổng Quan Địa Điểm Nghiên Cứu Tại Quảng Nam Và Đà Nẵng

Nghiên cứu tập trung vào nước ngầm tại một số địa điểm thuộc Quảng NamĐà Nẵng, hai tỉnh thành có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đặc biệt. Quảng Nam nằm ở miền Trung Việt Nam, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế nhờ vị trí thuận lợi, hệ thống giao thông đồng bộ và các di sản văn hóa được UNESCO công nhận. Địa hình Quảng Nam đa dạng, từ vùng núi cao phía Tây đến dải đồng bằng ven biển, tạo nên sự phong phú về sinh thái. Đà Nẵng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục của khu vực miền Trung - Tây Nguyên, có địa hình vừa có đồng bằng duyên hải, vừa có đồi núi. Cả Quảng NamĐà Nẵng đều có hệ thống sông ngòi phát triển, cung cấp nguồn nước quan trọng cho sinh hoạt và sản xuất. Tuy nhiên, nguồn nước ngầm tại hai tỉnh thành này đang chịu nhiều áp lực từ các hoạt động kinh tế, xã hội, đòi hỏi cần có những nghiên cứu đánh giá toàn diện để đưa ra các giải pháp quản lý và bảo tồn hiệu quả.

2.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam nằm ở miền Trung của Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 860 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 865 km về phía Nam. Phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng; phía đông giáp biển Đông với trên 125 km bờ biển; phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía tây giáp tỉnh Kon Tum và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Khí hậu Quảng Nam nằm trong vùng nhiệt đới, nhiệt độ trung bình hàng năm là 25.4°C, nhiệt độ cao nhất ở mùa hè không quá 42°C, giờ nắng trung bình hàng năm là 1300 giờ. Lượng mưa trung bình hàng năm 2000mm – 2500mm nhưng phân bố không đều theo thời gian và không gian.

2.2. Đặc điểm địa lý tự nhiên thành phố Đà Nẵng

Thành phố Đà Nẵng trải dài từ 15°15' đến 16°40' Bắc và từ 107°17' đến 108°20' Đông. Phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía tây và nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp biển Đông. Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam, cách kinh đô thời cận đại của Việt Nam là thành phố Huế 108km về hướng Tây Bắc. Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Copepoda Nước Ngầm Ở Quảng Nam Đà Nẵng

Để đánh giá đa dạng sinh học phân lớp giáp xác chân chèo Copepoda trong nước ngầm tại Quảng NamĐà Nẵng, nghiên cứu đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, từ thu mẫu, phân tích mẫu đến xử lý số liệu. Việc thu mẫu được thực hiện tại các giếng nước và khu vực ven sông, suối, đảm bảo tính đại diện cho các khu vực nghiên cứu. Các mẫu động vật phù du được bảo quản cẩn thận để đảm bảo chất lượng cho quá trình phân tích. Trong phòng thí nghiệm, các mẫu được phân loại, định danh và đếm số lượng cá thể để xác định thành phần loài và mật độ. Các thông số môi trường nước ngầm cũng được đo đạc và phân tích để đánh giá chất lượng nguồn nước và mối tương quan với đa dạng sinh học Copepoda. Các phương pháp thống kê và phân tích đa biến được sử dụng để xử lý số liệu và đưa ra những kết luận khoa học.

3.1. Kỹ thuật thu mẫu và bảo quản mẫu Copepoda và nước

Mẫu định tính: Mẫu được thu qua một lưới lọc có kích thước mắt lưới 50µm, đường kính miệng lưới 28cm mẫu sẽ cô đặc tại một ống phanlcon 50ml từ máy bơm 400 lít nước trong thời gian 5 phút. Mẫu định lượng: Tiến hành lọc qua lưới lọc kích thước mắt lưới 50µm, mẫu sẽ được cô đặc tại một ống phanlcon 50ml dưới đáy của lưới lọc từ máy bơm 800 lít nước trong thời gian 10 phút. Các mẫu được bảo quản trong Formaldehyd 5% và cồn 80%, nước được bảo quản lạnh 4°C mang về phòng thí nghiệm phân tích.

3.2. Phương pháp phân tích và định danh Copepoda trong phòng thí nghiệm

Định loại bằng phương pháp so sánh hình thái, tiến hành giải phẫu các phần phụ của mẫu trên kính hiển vi điện tử, sau đó chụp hình trên kính hiển vi có hỗ trợ camera ở vật kính x20, x40 và x100. Định tên loài theo các tài liệu phân loại học chuyên ngành trong và ngoài nước: An annotated checklist and keys to the species of Copepoda Harpacticoida (Crustacea)(Wells, 2007), Thorp and Covich’s Freshwater Invertebrates(Edition et al., 2017) và Freshwater Crustacenan Zooplankton of Europe (Leszek A.Bledzki Jan Lgor Rybak, 2016).

3.3. Các chỉ số thống kê sử dụng để đánh giá đa dạng sinh học

Chỉ số đa dạng Shannon – Wiener được xác định theo công thức : H= ∑ ( ) (W. Shannon, 1948). pi: tỉ lệ tổng số mẫu đại diện loài i. Lấy tổng số lượng mẫu chia cho số lượng từng cá thể của loài i. Chỉ số đa dạng sinh học Simpson được xác định theo công thức D = ∑( ) (W. Shannon, 1948). n: tổng số sinh vật của 1 loài cụ thể N: tổng số sinh vật của các loài

IV. Kết Quả Thành Phần Loài Copepoda Ở Quảng Nam Đà Nẵng

Nghiên cứu đã ghi nhận được 15 loài Copepoda, trong đó 7 loài mới cho khu hệ giáp xác nước ngọt của Việt Nam: Nitokra qadriseta, Nitocra fallaciosa, Themocyclops dybowski, Phyllognathopus camptoides, Diacyclops disjunctus, Elaphoidella cuspidata, Mesocyclops leuckarti. Các loài này thuộc hai bộ Cyclopoida và Harpacticoida, cho thấy sự đa dạng về thành phần loài trong nước ngầm tại khu vực nghiên cứu. Thành phần loài và mật độ của chúng khác nhau giữa các khu vực lấy mẫu, cho thấy sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sự phân bố của Copepoda. Khu vực nước giếng ở Đà Nẵng có sự xuất hiện của nhiều loài và mật độ tương đối cao hơn so với các khu vực khác. Elaphoidella bidens là loài có sự xuất hiện trong cả 4 khu vực lấy mẫu, cho thấy khả năng thích nghi rộng của loài này.

4.1. Danh mục và mô tả một số loài Copepoda mới được ghi nhận

Nitokra quadriseta: Con cái có cơ thể thẳng dài, chiều dài gấp bốn lần chiều rộng. Miệng ngắn, nhọn và hợp nhất với phần đầu ngực. Chạc đuôi rộng. Râu mảnh mai, tám phân đoạn. Nitocra fallaciosa: Con cái. Cơ thể thon dần về phía sau. Đỉnh đầu nhỏ, kéo dài gần đạt đến rìa xa của đối đầu tiên râu 1, với cặp giác quan ở dưới. Râu 1: 8 đốt, bề mặt đốt trơn nhẵn ngoài trừ có hàng gai trên thân đốt đầu tiên. Thermocyclops dybowski: Râu 1 dài đến đốt thứ 2 phần đầu ngực. Chân 4 gồm 5-6 gai lớn và không vượt ra ngoài rìa xa, đốt 3 nhánh trong có chiều dài gấp 2.5 chiều rộng, gai đỉnh trong có chiều dài khoảng 1,2 lần so với gai đỉnh giữa.

4.2. Phân bố và mật độ Copepoda tại các địa điểm nghiên cứu

Thông qua bảng danh mục thành phần loài và mật độ của các loài thì phát hiện được 15 loài của 4 họ là Cyclopidae, Phyllognathopodidae , Ameiridae, Canthocamp của 2 bộ là Cyclopoida và Harpacticoida. Trong 4 khu vực nghiên cứu là nước giếng Đà Nẵng, Quảng Nam, sinh cảnh cát Đà Nẵng, Quảng Nam thì khu vực nước giếng Đà Nẵng có sự xuất hiện của nhiều loài với mật độ tương đối nhiều hơn các khu vực khác. Trong đó có 2 loài xuất hiện nhiều là Elaphoidella intermedia và Phyllognathopus camptoides.

V. Yếu Tố Môi Trường Ảnh Hưởng Đến Copepoda Ở Quảng Nam Đà Nẵng

Các thông số môi trường như nhiệt độ, pH, độ đục, oxy hòa tan, độ mặn, nồng độ các chất dinh dưỡng (Nitrat, Amoni, Photphat) có ảnh hưởng đến sự phân bố và mật độ của Copepoda trong nước ngầm. Kết quả phân tích cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các thông số môi trường ở khu vực nước giếng và sinh cảnh cát, cho thấy sự đa dạng về môi trường sống và sự thích nghi của Copepoda với các điều kiện khác nhau. Độ sâu của giếng, độ dẫn điện, tổng chất rắn hòa tan, nồng độ Clorua có mối tương quan với sự xuất hiện của một số loài Copepoda. Chỉ số chất lượng nước ngầm (GWQI) được sử dụng để đánh giá chất lượng nguồn nước và mối tương quan với mật độ Copepoda.

5.1. Sự biến động của các thông số môi trường nước ngầm

Qua phân tích thông số môi trường nước tại các khu vực lấy mẫu cho thấy sự biến động rõ rệt về các thông số môi trường. Có sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 khu vực nước giếng và sinh cảnh cát ở cả 2 tỉnh đối với các thông số nhiệt độ, pH, độ đục, DO, Nitrat, Amoni. Còn đối với các thông số còn lại thì không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các thông số môi trường giữa 2 khu vực lấy mẫu là nước giếng và sinh cảnh cát.

5.2. Tương quan giữa các thông số môi trường và sự phân bố Copepoda

Kết quả phân tích tương quan cho thấy sự ảnh hưởng giữa các thông số môi trường với nhau tại 2 khu vực là nước giếng và sinh cảnh cát. Trong đó thì ở khu vực nước giếng thì các thông số môi trường tương quan với nhau nhiều hơn so với ở khu vực sinh cảnh cát. Trong khu vực nước giếng thì độ sâu của giếng có tương quan thuận với nhiệt độ (với hệ số tương quan đạt 0.01) đồng thời cũng tương quan nghịch với hàm lượng photphat và pH.

VI. Kết Luận Và Kiến Nghị Về Bảo Tồn Copepoda Nước Ngầm

Nghiên cứu đã góp phần bổ sung dữ liệu về đa dạng sinh học phân lớp giáp xác chân chèo Copepoda trong nước ngầm tại Quảng NamĐà Nẵng, đồng thời cung cấp thông tin về các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự phân bố của chúng. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý và bảo tồn nguồn nước ngầmđa dạng sinh học tại khu vực. Cần tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu hơn về Copepoda trong nước ngầm, đặc biệt là về sinh thái học, đa dạng di truyền và vai trò của chúng trong hệ sinh thái nước ngầm. Đồng thời, cần có các biện pháp bảo vệ môi trường nước ngầm để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Copepoda và các sinh vật khác.

6.1. Tổng kết các phát hiện chính của nghiên cứu

Nghiên cứu đã ghi nhận được 15 loài Copepoda, trong đó 7 loài mới cho khu hệ giáp xác nước ngọt của Việt Nam. Các thông số môi trường có ảnh hưởng đến sự phân bố và mật độ của Copepoda. Có sự khác biệt về đa dạng sinh học và các thông số môi trường giữa khu vực nước giếng và sinh cảnh cát.

6.2. Đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo và biện pháp bảo tồn

Cần tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu hơn về Copepoda trong nước ngầm, đặc biệt là về sinh thái học, đa dạng di truyền và vai trò của chúng trong hệ sinh thái nước ngầm. Cần có các biện pháp bảo vệ môi trường nước ngầm để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Copepoda và các sinh vật khác.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trên thế giới những nghiên cứu về động vật phù du đã phát triển rất sớm vì đây là một mắc xích thức ăn vô cùng quan trọng trong các hệ sinh thái dƣới nƣớc. Một nhóm sinh vật trong số đó đƣợc các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý bởi sự phổ biến của chúng trong các thủy vực đó là phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda). Copepoda là một nhóm động vật giáp xác kích thƣớc nhỏ phân bố rộng ở hầu hết các môi trƣờng khác nhau từ nƣớc ngọt đến nƣớc mặn, kể cả những môi trƣờng khắc nghiệt nhƣ nƣớc ngầm, suối nƣớc nóng hay vùng nƣớc băng tan (Pierre Marmonier et al.

Copepoda đƣợc biết đến là một thành phần quan trọng của lƣới thức ăn trong hệ sinh thái dƣới nƣớc từ vùng nƣớc ngọt đến vùng nƣớc mặn (Bostock, 2010). Copepoda là thức ăn thiết yếu đối với con non của nhiều sinh vật biển, Copepoda đóng vai trò chuyển tiếp năng lƣợng từ các bậc thức ăn thấp hơn (thực vật, mùn bã hữu cơ) đến mắt xích thức ăn cao hơn trong hệ sinh thái. Ngoài ra Copepoda còn đƣợc sử dụng làm sinh vật chỉ thị môi trƣờng khá hiệu quả (Wojciech Piasecki1 et al. Hiện nay trên thế giới đã có khoảng 24.400 giống và 210 họ đã đƣợc mô tả, trong đó có khoảng 2.800 loài sống ở các thủy vực nƣớc ngọt.

Với hơn 900 loài đƣợc biết đến từ các tầng nƣớc ngầm lục địa (Galassi, 2001). Nƣớc ngầm là nguồn nƣớc quan trọng đóng vai trò là nguồn nƣớc chính lƣu trữ nƣớc ngọt trong chu trình thủy văn (Mark Louie D. Lopez et al. Cấu trúc của nƣớc ngầm có thể đƣợc xác định bởi một số khía cạnh chẳng hạn nhƣ địa mạo,thủy văn, hóa học, thành phần cơ chất, thực phẩm nguồn và quần xã sinh vật (Galassi, 2001).

Copepoda là thành phần chính của động vật nƣớc ngầm, chúng có mặt hầu hết các môi trƣờng nƣớc ngầm, trong đó Cyclopoida và Harpacticoida là hai bộ chiếm ƣu thế hơn hẳn đối với nƣớc ngầm bởi đặc điểm hình thái của chúng dễ thích nghi với kiểu môi trƣờng này (Galassi, 2001). Trong đó bộ Cyclopoida đã ghi nhận đƣợc 12 họ, 80 chi và 450 loài còn đối với bộ Harpacticoida đã ghi nhận đƣợc 54 họ, 460 chi và 3. Các nghiên cứu về đa dạng sinh học phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) cũng nhƣ mối tƣơng quan giữa đa dạng sinh học này với các yếu tố môi trƣờng ở trên thế giới cũng bắt đầu xuất hiện nhiều hơn. Các nghiên cứu này bắt đầu rất sớm, hiện nay đã đƣợc lan rộng ra nhiều khu vực và đạt đƣợc nhiều thành tựu khi phát hiện ra nhiều loài mới, cùng với đó là phát triển các nghiên cứu ứng dụng Copepoda đặc biệt là trong sản xuất thức ăn thủy sản.

Ở khu vực Jura của Pháp năm 2009 thì đã phát hiện ra 62 loài, trong đó chủ yếu là thuộc Cladocera, Cyclopoida, Harpacticoida, Ostracoda, Amphipoda, Isopoda 1 và Bathynellacea đồng thời đánh giá đƣợc các thông số môi trƣờng nhƣ pH, DO, Mg2+,Cl-,… tƣơng quan với đa dạng sinh học (Marie-Jose´ et al. Một nghiên cứu mới hơn vào năm 2017 ở Philippines đã phát hiện 21 loài gồm Cladocera và Copepoda và họ cho rằng sự phân bố của động vật giáp xác bị ảnh hƣởng bởi nhiệt độ, oxy hòa tan và độ cao (Mark Louie D. Lopez et al. Ở Việt Nam thì nghiên cứu đa dạng sinh học phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) đã đƣợc quan tâm nhiều hơn so với trƣớc đây nhƣng chỉ tập trung nghiên cứu về đa dạng sinh học chứ vẫn chƣa có nghiên cứu đánh giá mối tƣơng quan giữa đa dạng sinh học và các yếu tố môi trƣờng.

Tiến sĩ Trần Đức Lƣơng là ngƣời có nhiều nghiên cứu về đa dạng trong lĩnh vực này. Các nghiên cứu của Ông đa phần tập trung ở khu vực Bắc Trung Bộ, đối với nƣớc ngầm ông đã có những nghiên cứu và phát hiện đƣợc loài Hadodiaptomus dumonti n. thuộc bộ Calanoida ở khu vực núi đá vôi Quảng Bình (Trần Đức Lƣơng, 2013). Nƣớc ngầm từ các giếng và nƣớc ngầm dƣới các lớp cát ven bờ sông, suối hầu nhƣ chƣa đƣợc quan tâm, các nghiên cứu về Copepoda trong các hệ sinh thái này tại Việt Nam đang bị thiếu hụt.

Vì vậy, chúng tôi tiến hành chọn đề tài “Nghiên cứu đa dạng sinh học phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) trong nước ngầm thuộc một số địa điểm của tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng”. Đề tài này sẽ bổ sung dữ liệu về đa dạng sinh học Copepoda trong nƣớc ngầm ở khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng và khu hệ giáp xác Việt Nam nói chung. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng sẽ là nghiên cứu nền tảng cho các nghiên cứu ứng dụng sau này. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá đa dạng sinh học của phân lớp Copepoda trong nƣớc ngầm tại một số địa điểm ở Quảng Nam và Đà Nẵng.

- Đánh giá đƣợc chất lƣợng nƣớc ngầm tại một số huyện của tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. - Đánh giá đƣợc mối tƣơng quan giữa đa dạng sinh học các loài Copepoda và các thông số môi trƣờng nƣớc ngầm tại khu vực. Ý nghĩa của đề tài - Đề tài sẽ góp phần vào công tác điều tra, quản lý bảo tồn đa dạng sinh học trong nƣớc ngầm cho khu vực Quảng Nam và Đà Nẵng đồng thời hỗ trợ công cụ đánh giá trong quan trắc giám sát môi trƣờng. - Bổ sung dữ liệu khoa học cho phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) cho Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.

Nội dung nghiên cứu - Đánh giá mức độ đa dạng sinh học của phân lớp Copepoda - Đánh giá các thông số môi trƣờng nƣớc ngầm - Đánh giá mối tƣơng quan giữa các thông số môi trƣờng với mức độ đa dạng sinh học Copepoda 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về đối tƣợng nghiên cứu: 1. Giới thiệu về Copepoda 5. Phân lớp Copepoda (chân chèo) thuộc nhóm Crustacea (giáp xác), ngành Arthropoda (chân khớp).

Phân lớp Copepoda phân chia thành 3 bộ: Bộ Calanoida, bộ Cyclopoida và bộ Harparticoida sống tự do (Hình 1. Phân lớp Copepoda chia thành hai bộ là EuCopepoda và Branchiura trong đó có 6 bộ phụ là Caligoida, Lernaeopodoida, Arguloida (sống ký sinh) và Calanoida, Cyclopoida, Harpacticoida (sống tự do) (Dƣơng Trí Dũng, 2001) 7. Copepoda thích nghi cao với môi trƣờng sống trong trầm tích nƣớc ngầm, hiện có khoảng 2.800 loài sống trong thủy vực nƣớc ngọt (Galassi, 2001) Bộ Cyclopoida Bộ Harpacticoida Bộ Calanoida Hình 1.1: Ba bộ của phân lớp giáp xác chân chèo Các bộ sẽ có các đặc điểm hình thái và thích nghi với các dạng môi trƣờng sống khác nhau đƣợc thể hiện trong bảng 1. 1: Đặc điểm phân biệt các bộ sống tự do của Copepoda Đặc điểm Bộ Calanoida Bộ Cyclopoida Bộ Harpacticoida Cơ thể Phần trƣớc cơ thể dài Phần trƣớc cơ thể dài Phần trƣớc wor thể chỉ hơi hơn phần sau cơ thể hơn phần sau cơ thể dài hơn phần sau cơ thể rất nhiều rất nhiều Vị trí điểm Giữa đốt sinh dục và Giữa đốt ngực IV và Điểm co thắt không rõ ràng 4 co thắt đốt ngực V đốt ngực V giữa đốt ngực IV và đốt ngực V Túi trứng Có một túi trứng Có hai túi trứng mang Thƣờng chỉ có một túi mang ở giữa hai bên trứng mang ở giữa Râu A1 Dài từ 23 -25 đốt, có Ngắn, từ 6 – 17 đốt, Rất ngắn, từ 5 -9 đốt dài từ thể dài từ cuối ngực dài từ đốt ngực thứ 3 đốt đầu thứ 5 đến cuối đầu đến cuối chạc đuôi đến cuối ngực Cặp chân Giống các cặp chân Chân ngực V tiêu Chân ngực V tiêu giảm ngực thứ 5 ngực khác giảm Khu vực Sống nổi, hiếm thấy ở Sống ở vùng triều, chỉ Sống ở vùng triều, trên sống vùng triều một ít sống nổi thực vật lớn và cả nền đáy.

Copepoda có thân hình trụ ngắn hoặc hình dài đƣợc chia thành 3 phần là phần đầu, phần ngực và phần bụng. Phần đầu thƣờng đƣợc làm tròn và có râu nổi bật, có 5 cặp chân ngực. Chúng sống tự do hoặc sống kí sinh 10. Thức ăn chủ yếu là thực vật phù du ngoài ra còn có luân trùng và Ciliates 11.

Hầu hết các Copepoda có một mắt ghéo, thƣờng là màu đỏ tƣơi và ở giữa đầu trong suốt, đối với các loài dƣới lòng đất mắt có thể tiêu biến. Chiều dài biến động trong khoảng 0.2 mm nhƣng đa phần có chiều dài nhỏ hơn 2. Cơ thể có màu nâu hay hơi xám, những loài sống ở vùng triều có màu sáng hơn, cơ thể có màu tím hay đỏ. Vùng ngực có 7 đốt nhƣng đốt thứ 1 và có thể đốt thứ 2 kết hợp với phần đầu nằm trong vỏ giáp.

Có thể hai đôi chân ngực thứ 4 và thứ 5 hay thứ 5 và thứ 6 hợp lại thành 1 đốt. Phần bụng có từ 3-5 đốt, thƣờng thì có 4 đốt. Đốt ngực cuối và đốt bụng đầu tiên dính lại với nhau bằng một vòng mềm dẻo và ngắn. Khớp nối làm con vật cử động dễ dàng là khớp phân biệt giữa phần đầu và thân.

Phần thân gồm các đốt bụng và đốt ngực thứ 7 (có khi là đốt thứ 6). Phần đầu thật sự có 5 đôi phụ bộ đó là: Râu A1(antennules), râu A2 (antennae), hàm trên (maxillae) 1 và hàm trên 2, hàm dƣới (mandibles). Đốt ngực đầu tiên dính với đầu có một đôi chân hàm (maxillipeds) và từng đốt ngực còn lại mang một đôi chân hàm (maxillipeds) và từng đốt ngực còn lại mang 5 một đôi chân bơi. Trong một vài loài ở đốt ngực thứ 7 tiêu giảm và đốt này không còn phần phụ (Dƣơng Trí Dũng, 2001).

Phần phụ đầu: rất biến đổi tùy theo chức năng. Râu A1 dài và chỉ có một nhánh, đây là cơ quan cảm giác nhƣng cũng có thể dùng để vận động. Cả hai râu A1 con đực của Cyclopoida và Harpacticoida là cơ quan sinh dục dùng trong lúc bắt cặp. Riêng Calanoida chỉ có râu A1 bên phải làm nhiệm vụ sinh dục.

Râu A2 ngắn hơn, có 2 hay 1 nhánh có vai trò quan trọng trong việc cảm giác, riêng ở Harpacticoida các râu này có thể dùng để nắm bắt đƣợc. Các đôi hàm biến đổi để lấy thức ăn (Dƣơng Trí Dũng, 2001). Phần phụ ngực: các đôi chân ngực biến đổi từ lúc bắt đầu cho đến hai đôi chân cuối. Nhóm sống tự do đôi chân thứ 6 luôn thiếu ở con cái hay biến đổi chỉ còn dạng sơ khai (ở con đực).

Đôi chân số 5 giảm hay tiêu giảm ở nhóm Cyclopoida và Harpacticoida, nhƣng ở Calanoida thì đôi chân này phát triển cân đối ở con cái và bất đối xứng ở con đực, khi đó nó biến đổi thành cái móc (Dƣơng Trí Dũng, 2001). Chạc đuôi: đốt cuối cùng chẻ hai tạo ra hai nhánh đuôi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ