ĐẶT VẤN ĐỀ Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và do sự khác biệt về khí hậu từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên tính đa dạng sinh học cao của Việt Nam. Việt Nam đƣợc quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới, với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô. tạo nên môi trƣờng sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới. Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã (WWF) công nhận Việt Nam có 3 trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu; Tổ chức bảo tồn chim quốc tế (Birdlife) công nhận là một trong 5 vùng chim đặc hữu; Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) công nhận có 6 trung tâm đa dạng về thực vật.Hệ sinh thái cũng rất phong phú, bao gồm 11.458 loài động vật, hơn 21.000 loài thực vật và khoảng 3.000 loài vi sinh vật, trong đó có rất nhiều loài đƣợc sử dụng để cung cấp vật liệu di truyền.
Không chỉ đa dạng về động thực vật, côn trùng ở Việt Nam cũng vô cùng phong phú với nhiều loài có hình dáng kì lạ, đặc biệt là loài bƣớm. Theo quan niệm của nhà nông thì bƣớm là loài côn trùng có hại. Tuy nhiên trên thực tế, các loài bƣớm còn là những loài côn trùng có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái tự nhiên. Bƣớm có vai trò thụ phấn cho cây trồng rất tích cực và hiệu quả.
Bƣớm là loài sinh vật chỉ thị môi trƣờng cũng nhƣ làm đẹp cảnh quan tại nơi chúng xuất hiện. Nghiên cứu về bƣớm (bộ Cánh vảy- Lepidoptera) ở Việt Nam đã đƣợc thực hiện trƣớc những năm 1945 (Đặng Thị Đáp, 2004). Theo kết quả nghiên cứu gần đây nhất của Vũ Văn Liên (2010), tổng số loài bƣớm của Việt Nam là 1010 loài. Hiện nay, các nhà khoa học nói chung và các nhà côn trùng học nói riêng đang tiến hành nghiên cứu về đa dạng côn trùng tại các vƣờn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên.
VQG Ba Vì có đa dạng sinh học cao, có nhiều loài côn trùng quí hiếm và đặc hữu đã đƣợc phát hiện. Theo kết quả điều tra chuyên đề của Vƣờn quốc gia về côn trùng, đã phát hiện đƣợc 552 loài côn trùng thuộc 364 giống, 65 họ, 14 bộ. Trong đó có 5 loài thuộc bộ cánh vẩy đƣợc ghi trong sách đỏ Việt Nam nhƣ 1 Bƣớm khế (Attacus atlas), Ngài mặt trăng (Actias selene), Bƣớm rồng đuôi trắng (Lamproptera curius), Bƣớm phƣợng (Troides helena) ,Bƣớm đuôi kiếm (Graphium antiphates) (Phạm Thị Mai,2012). Để đánh giá đƣợc cụ thể và hệ thống hơn tính đa dạng của loài bƣớm ngày tôi đã lựa chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp là “Nghiên cứu tính đa dạng sinh học, sinh thái các loài bướm ngày thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) và đề xuất một số biện pháp quản lý tại khu vực Vườn Quốc Gia Ba Vì - thành phố Hà Nội”.
Với mục đích xác định thành phần loài, sự đa dạng và đặc điểm sinh học của các loài côn trùng Cánh vẩy, đồng thời cung cấp thêm thông tin về một số loài cánh vẩy quý hiếm tại VQG và đánh giá đƣợc hiện trạng công tác bảo tồn, từ đó đề ra các biện pháp quản lý côn trùng Cánh vẩy tại VQG Ba Vì có hiệu quả. 2 PHẦN I LƢỢC SỬ NGHIÊN CỨU Côn trùng là một trong những nhóm sinh vật đa dạng nhất và có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông lâm nghiệp và đời sống của con ngƣời.000 loài động vật mà con ngƣời đã biết thì côn trùng chiếm hơn 1. Việc nghiên cứu về loài sinh vật nhỏ bé này đang đƣợc chú trọng trong nhiều năm trở lại đây.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Aristoteles (384-322 trƣớc Công nguyên) là ngƣời có những nghiên cứu đầu tiên về côn trùng. Lần đầu tiên ông đã mô tả và sắp xếp thế giới động vật thành 2 nhóm: nhóm có máu và nhóm không có máu.
Ở nhóm thứ hai cơ thể phân đốt, chia thành đầu - ngực - bụng. Thuộc nhóm này có côn trùng và ông ghép thêm cả đa túc, nhện, một phần giáp xác thấp và một số giun đốt. Giai đoạn đầu những năm đầu thế kỉ 20, nghiên cứu về Bộ cánh vảy (Lepidoptera) có công trình của J.de Joannis mang tên “ Lepidopetes du Tonkin” xuất bản ở Paris năm 1930. Tác giả đã thống kê đƣợc 1.798 loài thuộc 746 giống và 45 họ.
Theo Wilson (1988) tổng số loài sinh vật đã đƣợc biết đến trên Trái đất là 1.000 loài, trong đó côn trùng có tổng số là 751.000 loài chiếm 53,15% các loài và chiếm 70,66% trên tổng số động vật. Các nhà phân loài học dự đoán có thể từ 5 triệu đến 30 triệu loài sinh vật trên trái đất và chiếm phần lớn là vi sinh vật và côn trùng. Cho đến nay, ngƣời ta dự đoán còn khoảng 3 - 4 triệu loài hoặc hơn nữa chƣa đƣợc con ngƣời biết đến, chủ yếu là những loài côn trùng ở vùng nhiệt đới. Năm 1920 - 1940 các nhà thu thập mẫu côn trùng nghiệp dƣ đã xuất bản một tập tài liệu phân loại bƣớm gồm 33 tập ở Niedejrland.
Có rất nhiều nhà khoa học trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu về côn trùng nói chung và bƣớm nói riêng. Trong khu vực Châu Á phải kể đến các nghiên cứu của Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore, Indonesia, Myanma. 3 Năm 1932 một tập thể tác giả ở Ấn Độ mà đại diện là W.Erans đã xuất bản “ Sự nhận biết các loài bƣớm ở Ấn Độ” trong đó có 19 họ bƣớm và các khóa phân loại của một số giống chủ yếu của họ. Manferd_Koch, 1953, 1978 đã xuất bản “Phân loại bƣớm và ngài”.
Gottfried Amann, 1959 có cuốn “Các loài côn trùng”.Borror và Richar D.White đã xuất bản cuốn sách “Hƣớng dẫn côn trùng” ở Bắc Mỹ thuộc Mexico trong đó cũng đề cập đến phân loại bộ cánh vẩy Lepidoptera. Năm 1987, một số nghiên cứu của các chuyên gia Trung Quốc nhƣ Thái Bàng Hoa, Cao Thu Lâm đã công bố công trình phân loại côn trùng rừng Vân Nam. Năm 1999, Lichunlong đã đề cập đến tính đa dạng sinh học của các loài Bƣớm ngày của Vân Nam. Tài liệu dùng để phân loại bƣớm ngày có quyển “Bƣớm đảo Hải Nam” của Cố Mậu Thìn và Trần Phƣợng Trân giới thiệu trên 500 loài bƣớm ngày khác nhau.
Theo Bei Brienko (1966) bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) có từ 150. Đối vói loài Bƣớm ngày (Rhopalocera) đến cuối thế kỷ XX các nhà nghiên cứu mới quan tâm nhiều và đƣa đến một số kết quả nhƣ công trình của A.2 Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Những nghiên cứu về bƣớm đầu tiên của nƣớc ta chủ yếu là do các chuyên gia nƣớc ngoài, các công trình của nhà Bách khoa toàn thƣ nhƣ Linnaeus, Fabricius, Latreil. các công trình phân loại chủ yếu xuất bản cho Thái Lan ( Pinratana, 1979 - 1922 ), Malaysia (Corbert và Fendlebury, 1992) và khu Phƣơng Đông (D Abrare, 1982 - 1986). Các nghiên cứu khoa học nhƣ: Evas (1932,1949), Lee (1982,1984,Satyridea), Aoki và Yamaguchi (1984; Satyridea), Shirozu và Yata (1973,Pieridea) cũng đã có một số báo cáo chi tiết về côn trùng Cánh vẩy.
Công tác nghiên cứu các loài bƣớm ở Việt Nam cũng đã bƣớc đầu đạt đƣợc một số thành tựu nhất định. Trong những cố gắng ban đầu lập ra một danh 4 sách tổng hợp về các loài trong họ Lepidoptera đƣợc xuất bản năm 1919 (Dubois và Vatalis de Salvaza, 1919) bao gồm 579 loài bƣớm thu nhập ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Việc thu thập này chủ yếu vào giữa thế kỷ XX và một danh sách kiểm kê của 455 loài bƣớm ở Việt Nam đƣợc xuất bản năm 1957. Năm 1930 có công trình J.de Joanis xuất bản ở Paris đã thống kê đƣợc 1788 loài thuộc 75 giống trong 45 họ, trong đó có 9 giống và 142 loài mới.
Năm 1954 đến nay các nhà khoa học đã nghiên cứu để phân loại côn trùng nói chung và bộ Cánh vẩy nói riêng đƣợc thể hiện trong giáo trình “Côn trùng Lâm nghiệp” 1965 của Phạm Ngọc Anh, “Côn trùng rừng” của Trần Công Lanh và Nguyễn Thế Nhã. Năm 1988, nhà côn trùng học ngƣời Nga - V.Kuznhetxov - thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô cũ, đã công bố khu hệ bƣớm ở miền Bắc Việt Nam tại các địa điểm Hà Nội, Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Thái nguyên,. Các cuộc nghiên cứu toàn miền Bắc Việt Nam do một số ngƣời khác tiến hành nhƣ: Monastyrkii, Đặng Thị Đáp, Lê Văn Triển, 1995; Monastyrkii và Đặng Thị Đáp, 1996; Hill và Monastyrkii in prep; Devyatkin, 1996, 1997, 1998, 2000, 2001, 2002, 2003. đã xác định đƣợc thành phần loài côn trùng Cánh vẩy và một số đặc điểm sinh thái của chúng.
Trong những năm gần đây có một số công trình của các tác giả quốc tế và Việt Nam đã đi sâu nghiên cứu đặc điểm và giá trị thẩm mĩ của côn trùng Cánh vẩy nhƣ : Trung tâm nhiệt đới Việt - Nga tại sinh cảnh núi đá vôi Phong Nha - Kẻ Bàng, A.Monastyrkii, Vũ Văn Liên, Bùi Xuân Phƣơng (2000) khu hệ Bƣớm Vƣờn quốc gia Tam Đảo, Trung tâm nhiệt đới Việt - Nga. Khuất Đăng Long (1999) nghiên cứu đa dạng sinh học của một số nhóm côn trùng và giải pháp bảo tồn chúng ở VQG Tam Đảo ( Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật ). Bùi Công Hiến, Nguyễn Anh Diệp ( 1999) kết quả nghiên cứu bƣớc đầu về đa dạng sinh học côn trùng của VQG Tam Đảo. Một số công trình nghiên cứu của TS.Đặng Thị Đáp ở VQG Tam Đảo.
Nghiên cứu của Trần Công Loanh (1999) xác định thành phần loài ở VQG Cát Bà - Hải Phòng. 5 Những kết quả nghiên cứu về Bƣớm ở nƣớc ta cho thấy nơi có nhiều bƣớm quí nhất là Bảo Lộc - Lâm Đồng và VQG Tam Đảo - Vĩnh Phúc. Các công trình nghiên cứu về bƣớm còn hạn chế nhƣng ngày nay con ngƣời đã phần nào hiểu đƣợc giá trị thẩm mỹ và lợi ích kinh tế của chúng; trong nƣớc đã có một số hộ gia đình nuôi bƣớm hay dùng bƣớm để ghép tranh. Ba Vì là VQG đƣợc thành lập năm 1991, đã có nhiều cơ quan nghiên cứu, tổ chức quốc tế, trƣờng Đại học điều tra côn trùng ở đây.
Theo kết quả điều tra chuyên đề của Vƣờn, đã phát hiện đƣợc 552 loài côn trùng thuộc 364 giống, 65 họ, 14 bộ và 5 loài thuộc bộ Cánh vẩy đƣợc ghi trong sách đỏ Việt Nam. Ngoài ra gần đây còn có nghiên cứu côn trùng của Đình Đức Hữu (2002) và một số khóa luận tốt nghiệp của sinh viên nghiên cứu về bƣớm.