ĐẶT VẤN ĐỀ Bộ Cánh giống (Cánh đều Homoptera) là một trong những bộ có số lƣợng loài tƣơng đối lớn của lớp côn trùng (Insecta). Chúng bao gồm 2 phân bộ là: phân bộ Rệp (Stenorrhyncha) và phân bộ ve - rầy (Auchenorrhyncha). Ve - rầy sống trên các cây gỗ, cây bụi ở nhiều vùng khác nhau từ rừng núi, tới các hàng cây, vƣờn cây trong khu dân cƣ, kể cả thành phố. Riêng đối các loài Ve sầu thƣờng vào đầu hè khi ve sầu trƣởng thành xuất hiện, con đực phát ra âm thanh để dẫn dụ con cái.
Ấu trùng ve sầu, sống ở dƣới đất và lột xác thành ve sầu trƣởng thành trên thân cây. Từ xa xƣa, con ngƣời đã biết dùng xác ve - vỏ lột của ve sầu làm thuốc chữa bệnh. Các danh y Việt Nam nhƣ Hải Thƣợng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh đều ghi chép những phƣơng thức dùng xác vỏ lột của Ve sầu làm vị thuốc chữa một số bệnh nhƣ: mờ mắt, đau đầu, chóng mặt, sởi đậu bị hãm. Năm 1977, trong cuốn sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi có vị thuốc “thuyền thoái” hay vỏ lột xác loài Ve sầu Cryptotympana pustulata Fabricius với tác dụng chữa sốt, chữa kinh giật kinh phong co quắp chân tay của trẻ em, ho cảm mất tiếng, viêm tai giữa [10].
Năm 2003, cuốn “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” của Viện Dƣợc Liệu có ghi nhận vỏ lột xác của Ve sầu có công dụng chữa sốt, cảm, ho, mất tiếng, viêm tai giữa. Tuy nhiên, việc xác định chính xác thuyền thuế là của loài ve sầu nào thì chƣa đƣợc nghiên cứu. Cho đến nay trên thế giới đã ghi nhận hơn 42.000 loài thuộc 4 liên họ, phân bộ ve-rầy (Auchenorrhyncha). Ở Việt Nam cho đến nay mới chỉ ghi nhận đƣợc khoảng 500 loài, trong khi số lƣợng loài ƣớc tính có mặt ở Việt Nam là hơn 2.
So với một số nhóm côn trùng khác, bộ Cánh giống (Homoptera) còn ít đƣợc nghiên cứu: Số loài phát hiện đƣợc chƣa nhiều; một số loài mới chỉ biết tên khoa học là chủ yếu, các dẫn liệu khoa học cần thiết khác hầu nhƣ chƣa có hoặc còn phân tán, tản mạn… Vƣờn Quốc gia (VQG) Cúc Phƣơng nằm trên địa phận ranh giới 3 khu vực Tây Bắc, châu thổ sông Hồng và Bắc Trung Bộ thuộc ba tỉnh: Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa. VQG Cúc Phƣơng có hệ động, thực vật phong phú đa dạng mang đặc trƣng rừng mƣa nhiệt đới. Trong đó , thế giới côn trùng ở VQG Cúc Phƣơng lại càng c 2 phong phú. Trong các nghiên cứu về côn trùng ở VQG Cúc Phƣơng nói chung và nghiên cứu về phân bộ ve - rầy nói riêng, cũng đã có một số công bố của các tác giả trong và ngoài nƣớc.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu tổng hợp tất cả các họ thuộc phân bộ này thì chƣa có tài liệu nào đề cập. Nhằm mục đích xác định đƣợc thành phần loài và tính đa dạng của phân bô ̣ ve - rầ y (Homoptera: Auchenorrhyncha) từ đó làm cơ sở khoa học đề đề xuất một số biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học chúng ở VQG Cúc Phƣơng, đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng của phân bộ v e-rầ y (Homoptera: Auchenorrhyncha) và đề xuất một số biện pháp quản lý ở Vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình” đƣợc thực hiện. c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Khái quát chung về các loài của phân bộ ve - rầy Bộ Cánh giống Homoptera gồm hai phân bộ là phân bộ ve-rầy Auchenorrhyncha và phân bộ rệp - Sternorrhyncha.
Mặc dù các loài thuộc phân bộ ve - rầy Auchenorrhyncha có hình thái rất đa dạng, nhƣng chúng đều có các đặc điểm chung sau: (1) Miệng phát sinh từ phía sau của đầu (trái ngƣợc với Heteroptera: phát sinh từ phía trƣớc của đầu và Sternorrhyncha: phát sinh từ khu vực giữa chân trƣớc); (2) râu đầu tƣơng đối ngắn và dựng lên; và (3) cá thể trƣởng thành gồm có 3 đốt bàn chân (trong khi đó tất cả các con trƣởng thành của các loài thuộc phân bộ Sternorrhyncha và một số thuộc phân bộ Heteroptera chỉ có 2 đốt bàn chân) (Kramer, S. Gần nhƣ tất cả các loài thuộc phân bộ ve - rầy Auchenorrhyncha sử dụng miệng để chích hút dịch cây. Ngoài ra, một số loài ăn nấm hoặc rêu. Một số loài là dịch hại cây trồng và gây ra thiệt hại nghiêm trọng thông qua hút nhựa cây, lây truyền tác nhân gây bệnh.
Ngoài các đặc điểm hình thái đƣợc liệt kê ở trên, các loài thuộc phân bộ ve - rầy Auchenorrhyncha có một hệ thống cơ quan phát ra âm thanh để tiếp nhận thông tin, thêm vào đó là nhiều loài có khả năng nhảy rất tốt. Trong số các nhóm loài khác nhau thì ve sầu là một ví dụ điển hình cho việc dùng âm thanh để thông tin, liên lạc giữa cá thể đực với cá thể cái. Cơ quan phát ra âm thanh dạng màng trống đƣợc gọi là tymbals. Các loài thuộc phân bộ ve - rầy Auchenorrhyncha phân bố ở tất cả các vùng địa lý động vật trên thế giới (trừ khu vực Nam Cực).
Đặc biệt chúng phân bố rất nhiều và phong phú ở vùng nhiệt đới. Tất cả các loài thuộc phân bộ ve - rầy đều chích hút nhựa cây, nhiều loài còn là véctơ truyền bệnh cho thực vật. Tình hình nghiên cứu về phân bộ ve - rầy ở trên thế giới Các loài thuộc nhóm ve - rầy Auchenorrhyncha đƣợc chú ý nghiên cứu từ rất sớm. Ngay từ những thập niên cuối thế kỷ XVIII, nhiều loài đã đƣợc Linné (1758) và Fabricius (1794) đặt tên khoa học và những tên này còn đƣợc dùng cho tới nay (Linnaeus, C.
c 4 Sang thế kỷ XIX, nhóm này đƣợc chú ý nhiều hơn. Thành phần loài của nhiều nƣớc đã đƣợc các tác giả công bố trên tạp trí khoa học tự nhiên nhƣ công trình của Walker, 1850, 1851 với catalog gồm 3 tập mô tả và ghi nhận vùng phân bố của các loài thuộc họ Cicadidae, Fulgoridae, Membracidae, Cercopidae và Cicadellidae (Walker, F. Từ năm 1946-1968, Metcalf đã công bố liên tục catalogues các họ ve-rầy thuộc bộ Homoptera. Các catalogues này đã tổng hợp đầy đủ các taxa đã đƣợc công bố từ trƣớc đến thời điểm đó (Metcalf, Z.
Theo thông tin trong cơ sở dữ liệu Metcalf (www.edu/specialcollections/ digital/metcalf/index.html) thì phân bộ ve - rầy (Auchenorrhyncha) gồm các nhóm: Ve sầu, Rầy lá, Rầy thân, Ve sầu nhảy (Ve sầu bọt) và Rầy cây. Tổng họ Ve sầu Cicadoidea bao gồm 2 họ, 4 họ phụ, 41 tộc, 413 giống và hơn 2900 loài đƣợc mô tả. Ngoại trừ 2 loài của Australia thuộc họ Tettigarctidae, tất cả các loài Ve sầu hiện có thuộc họ Cicadidae. Các nhà phân loại cho rằng vẫn còn hàng trăm loài chƣa đƣợc phát hiện và mô tả, đặc biệt là các loài ở châu Úc và châu Phi.
Nhóm rầy lá là nhóm côn trùng phổ biến và phong phú nhất trên trái đất. Hiện nay, nhóm này đƣợc xếp vào 2 họ: Myerslopiidae (chỉ có 2 giống) và họ Cicadellidae (họ Rầy xanh) là họ lớn với hơn 22000 loài đƣợc mô tả của 2600 giống, thuộc vào 10 họ côn trùng lớn nhất. Thực sự thì một loạt các họ rầy lá trƣớc đây (bao gồm các họ Eurymelidae, Hylicidae, Ledridae và Ulopidae) nay đƣợc xếp vào trong họ Cicadellidae. Rất nhiều loài rầy lá đƣợc xem là dịch hại cây trồng và là vec-tơ truyền bệnh hại thực vật gây ra những tổn thất vô cùng to lớn cho các cây trồng nông nghiệp.
Nhóm rầy thân tạo lên tổng họ Fulgoroidea rất lớn và đa dạng với 12000 loài thuộc 20 họ đƣợc mô tả (Acanaloniidae, Achilidae, Caliscelidae, Cixiidae (gồm cả họ Achilixiidae), Delphacidae (họ Rầy nâu), Derbidae, Dictyopharidae (họ Rầy đầu dài), Eurybrachidae, Flatidae, Fulgoridae (họ Ve sầu đầu dài), Gengidae, Hypochthonellidae, Issidae, Kinnaridae, Lophopidae, Meenoplidae, Nogodinidae, Ricaniidae (họ Ve sầu bƣớm xám), Tettigometridae, và c 5 Tropiduchidae). Các họ có số loài lớn gồm Delphacidae, Derbidae, Cixiidae, Flatidae (họ Ve sầu bƣớm) và họ Fulgoridae. Nhóm ve sầu nhảy (Ve sầu bọt) thuộc tổng họ Cercopoidea có 5 họ là Aphrophoridae (một số tác giả cho là họ phụ của Cercopidae), Cercopidae (Ve sầu bọt), Clastopteridae, Epipygidae, và Machaerotidae (một số tác giả cho là họ phụ của Clastopteridae). Tổng họ này bao gồm khoảng 2500 loài đƣợc mô tả thuộc 330 giống.
Tên thƣờng gọi “Ve sầu bọt” vì ấu trùng của chúng tạo đám bọt bao bọc cơ thể khi chúng sinh trƣởng để ngụy trang với các loài bắt mồi và chống cơ thể bị mất nƣớc. Rầy cây là tên thƣờng gọi của nhóm côn trùng thuộc 3 họ Aetalionidae, Melizoderidae và Membracidae (Ve sầu sừng) với tổng số loài của cả 3 họ đƣợc miêu tả là 3270. Rầy cây đƣợc biết đến do tính đa dạng hình thể và tập tính của chúng. Họ Membracidae là họ Rầy cây lớn nhất (trên 400 giống và 3200 loài), tiếp theo là họ Aetalionidae (6 giống và 42 loài), cuối cùng là họ Melizoderidae (2 giống và 8 loài).
Từ những năm đầu của thế kỷ XX đã bắt đầu có những tập sách chuyên khảo về một số họ thuộc bộ Homoptera của các khu vực địa lý gồm nhiều nƣớc trên thế giới. Các tập sách chuyên khảo đã đƣợc xuất bản đầu tiên phải kể đến là công trình của Distant trong những năm 1906 - 1918 với cuốn “The Faunal of British India” bao gồm 7 tập. Trong đó nhóm ve - rầy Auchenorrhyncha đƣợc tác giả đƣa ra khóa định loại tới giống và mô tả đặc điểm của các loài ghi nhận, chi tiết trong tập 3 và đƣợc bổ sung thêm ở tập 6 và 7 (Distant, W. Tập sách này là một trong những tài liệu quan trọng phục vụ công tác phân loại của các nhà khoa học nghiên cứu về bộ Homoptera.
Bên cạnh những công trình chuyên khảo, trên các tạp chí về côn trùng, kết quả nghiên cứu về phân loại và khu hệ học vẫn tiếp tục đƣợc công bố nhƣ: Ishihara (1956), Esaki và Ito (1954), Delong (1948), Oman (1949), Beirne (1956). Về khu hệ của các họ ve - rầy ở các khu vực khác nhau trên thế giới cũng đã đƣợc nhiều tác giả tiến hành: khu vực nhƣ Nam Phi có các công bố khu hệ ve- rầy c 6 của Distant, 1899 [49]; ở Trung Mỹ có các công trình nghiên cứu của Fowler, 1896 với tập sách chuyên khảo tập trung vào Homoptera [59]. Riêng ở khu vực Đông Nam Á, ngoài các công trình chuyên khảo của Distant W. nhƣ đã kể trên, khu hệ ve - rầy còn đƣợc các tác giả khác công bố nhƣ: ở Philippin, Malaixia có các công trình của Baker (1914a, 1915a, 1924a, 1927a) [36], [37], [38], [39].