Chương 1 TONG QUAN 1. Tong quan vé Cordyceps 1. Đặc điểm hình thái và phân loại Cordyceps Cordyceps với đa phần là các giống nam ky sinh trên côn trùng ngành chân khớp thuộc bộ Hypocreales; Lớp Sordariomycetes; Nganh Ascomycota; Giới Fungi. Theo Tran Văn Năm và Lê Thị Diệu Trang (2014), Đông trùng hạ thảo (Chinese caterpillar fungus), còn gọi là trùng thảo, hạ thảo đông trùng hay đông trùng thảo, là một loại đông được quý có bản chất là dang ký sinh của loài nam O.
Sinensis (thuộc nhóm Ascomycetes) trên cơ thé sâu Hepialus fabricius. Phần được tinh của đông trùng hạ thảo đã được chứng minh là do các chất chiết xuất từ nắm Ó. Theo Dai Duy Ban va Luu Tham Muu (2009), hiện nay đã phát hiện được nhiều loài Cordyceps, trong đó O. Sinensis được chú ý hơn ca về mặt hình thái sinh học va phân loại.
Ophiocordyceps sinensis (hay còn gọi O. sinensis có nam dạng quả thé mọc trên xác sâu bướm thuộc giống Hepialus ở độ cao trên 3800 m ở Tây Tạng, các tỉnh Tây Nam Trung Quốc, Nepal và trên các đồng cỏ ở cao nguyên thuộc Himalaya. sinensisco gốc gắn với đầu của sâu, đầu có hình chùy (giống Cordyceps xuất phát từ tiếng Latinh, Cord = chùy, ceps = dau). Nam dạng quả thé có mau nâu đen hoặc màu đen, dài khoảng 4 -11 cm, trọng lượng khoảng 0,06 g.
Sâu khi còn tươi có dạng con tằm, có màu vàng đến màu nâu, đầu màu đỏ nhạt, dai khoảng 3-5 cm. Sâu có 8 đôi chân, 4 đôi chân giữa than sâu là trông rõ nhất. khi nắm đạt đến độ thành thục nhất tiêu thụ đến 99% chất dinh dưỡng từ thân sâu và biến thành xác khô. Nắm quả thê thành thục sẽ phát tán các bào tử ra xung quanh khoảng vài em, nếu gặp gió có thê phát tán xa hơn.
Một số loài sâu của giống Hepialus bị nhiễm bởi các bao tử nam O. Sinensis thuộc vào loại nam phát triển hàng năm. Trên các đồng cỏ của Tây Nam Trung Quốc hoặc cao nguyên Himalaya, người ta thu hoạch O. Sinensis vào tháng 4 đến tháng 8 hàng năm.
Cơ chế xâm nhiễm của nắm O. Sinensis và sâu đến nay vẫn chưa biết rõ. Vào mùa đông sâu bị nhiễm bao tử nắm qua ăn phải bào tử nắm hoặc qua hơi thở của sâu. Nắm phát triển bằng chất dinh dưỡng của sâu, khi sử dụng hết chất dinh dưỡng của sâu làm sâu chết khô.
Đến mùa hè, nắm phát triển thành cây mọc ra từ đầu sâu vươn ra khỏi mặt đất. Thời gian dé nam phát triển thành dạng quả thé kéo dai trong cơ thê sâu cả các tháng mùa đông đến cuối xuân đầu hè. Cũng từ việc quan sát thực tế đặc điểm của Cordyceps khi vào mùa đông thì giống con sâu (côn trùng), còn vào mùa hè thì giống một loài thực vật (thảo mộc) mà tên gọi “Đông trùng hạ thảo” được hình thành. “Đông trùng hạ thao” được ghi chép là vị thuốc xuất hiện lần đầu tiên trong cuốn “Bản thảo cương mục” vào đời nhà Minh của danh y thời Lý Trần (năm 1575), Đông Trùng Hạ Thảo được xếp ngang với nhân sâm về công năng chữa bệnh — thuộc vào loại toàn diện nhất (Tran Van Nam va Lé Thi Diéu Trang, 2014).
Trong sự phát triển của nam hiện nay cũng có tranh cãi là nam ky sinh hay nắm cộng sinh. Hiện có 2 quan điểm. Theo nhà bệnh lý côn trùng Weiser và Jayaraj (1965) thì Cordyceps là ký sinh vì trong đó có nhiều loài của Beauveria, Metarhizium, lsaria và ngay cả Cordyceps cũng gây bệnh côn trùng và được sử dụng trong phòng trừ sâu hại. Ngày nay, các giống nam trên được gọi là đồng danh, cùng loài có tên khác nhau hay dị hình thái.
Một số nhà sinh học khác coi là nắm cộng sinh (Suh và ctv, 2001). Sở dĩ như vậy là khi nuôi trồng O. sinensis nhân tạo phát hiện thấy giai đoạn phát triển di hình thái dang nấm men đã tìm thay trong cơ thể côn trùng, cũng như có lợi cho đời sống côn trùng đó. Ở ngành nắm, phần lớn là sợi (mycelium), 6 dang này nấm thường tồn tại lâu hơn dang qua thé và bền vững hơn.
Dạng quả thé chịu tác động của nhiều yếu tố: nóng, lạnh và nguồn dinh dưỡng. Một khi các yếu tô này đáp ứng thì mới thành dạng quả thể. Điều này thấy rõ trong việc nuôi trồng nam O. sinensis, ở dạng cấy nam hay dạng sợi tùy theo điều kiện nuôi cấy được đảm bảo đầy đủ (Đái Duy Ban và Lưu Tham Mưu, 2009).
Sỉ S1 Gi630189)2sb74g/ua5x. sinensis và ký chủ; (Nguồn: Guo và ctv, 2016) Trong lịch sử thuật ngữ “Cordyceps” hay còn gọi “Đông trùng hạ thảo” thường được dùng để chỉ loài O. Tuy nhiên, trong vai năm gần đây “Cordyceps” được sử dụng dé chỉ các loài trong chỉ Cordyceps có quan hệ gần với O. Chi Cordyceps được ghi nhận với hon 680 loài (John Holliday va Matt Cleaver, 2008).
Theo Kobayasi (1941, 1982) va Mains (1958), Ban đầu chi Ophiocordyceps được phan loại là một chi con của chi Cordyceps. Nam 2007, một họ mới được thành lập là ho Ophiocordycipitaceae (Sung va ctv, 2007), bao gồm chi Ophiocordyceps, dựa trên các phân tích hình thai học và sinh hoc phân tử thông qua xây dựng cây phat sinh loài. Việc phân biệt chỉ Ophiocordyceps với chi Cordyceps được thê hiện qua phần quả thé có sam màu, có cấu trúc mềm déo, nhăn hoặc san sùi và dai của chi Ophiocordyceps so với sắc tố sáng của quả thé ở chi Cordyceps. Cac qua thé có thé dai, nhăn, xơ hoặc mềm.
túi bao tử dang chai (Perithecia) có thé từ bề ngoài đến hoàn toàn chìm, xiên hoặc sắp xếp có thứ tự. Các loài Ophiocordyceps spp. có khả năng gây bệnh trên nhiều loại côn trùng. Ky chủ chủ của các loài Ophiocordyceps spp.
là âu trùng của bộ Coleoptera va Lepidoptera cũng như con trưởng thành của bộ Araneae, Diptera, Hemiptera, Hymenoptera, Odonata và Orthoptera (J. Luangsa-ard va ctv, 2018; Thuan Duc Lao va ctv, 2021). Mô tả hình thái một số loài nam thuộc chi Cordyceps ( Liu va ctv, 2011) Loai Au tring Qua the Phan cơ thé ấu trùng giống Quả thé hình trụ mảnh, 4 - 7 ¬ như nhộng tằm, có chiều dài cm chiều dài và khoảng 3 ĐH ESPEEED từ 3 - 5 cm, đường kính từ 3- mm, với đỉnh nhọn 8 mm, màu vàng đậm tới vàng nâu Phần cơ thé ấu trùng giống Quả thê hình trụ, mập và thô, như nhộng tằm, dai từ 3 — 6 chiều đài 4 - 12 cm, đường C. gunnii cm, đường kính 3 — 10 mm, kính 4 mm, với phần đầu vàng nâu đên nâu phinh ra ở đỉnh quả thé Cơ thé ấu trùng giống như một Qua thể như soi chi, 2 - 3 cm con tằm, mảnh, chiều dài 2-4 chiều dài và khoảng 2 mm C.
gracilis cm va đường kính 2 - 5 mm; đường kính, với phan phinh ra màu vàng nâu, tím, nâu hoặc ở đỉnh, có hình câu. Quả thê nâu đỏ. bám không chắc Cơ thé ấu trùng cong hình Chi có 1 qua thé, mảnh va C. barnesii thận, ngắn, 1,5 - 2 cm chiều cong, 2 - 6 em chiều dải và dài, đầu nhỏ, với một cặp răng.
khoảng 2 mm đường kính Cơ thé ấu trùng giông con tăm, Quả thé dang soi, phan dày, chiều dai 3 cm - 6 cm, nhánh hoặc không phân €.liangshanensis đường kính 6 mm - 10 mm; Bề nhánh, 10 em - 30 em chiều mặt bên ngoài với màu nâu để dai và đường kính 1 mm - 2 màng mau nâu sâm. Môi trường chat dinh dưỡng Qua thé có kích thước to đều C. militaris không có cơ thê ấu trùng từ trên xuống dưới, hơi cong, chiều dài khoảng 5 cm, màu vàng cam đến màu đỏ da cam. ÏIIllllll RHE Hà 0 lem 2 3 E Hình 1.
sinensisva các loài cùng chi Cordyceps. Dựa trên thông tin về bang đồ phân bố nam Ophiocordyceps sp. Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà Tinh Lâm đồng (Phạm Thị Hà Nguyên, 2021) thì hai loài Cordyceps phân bố pho biến trong khu vực Bidoup Núi Bà là O. Các tài liệu tham khảo sẽ được san lọc và tập trung vào hai nhóm loài Cordyceps O.
BAN ĐÒ PHAN BO NÁMOphiocordycepssp. VƯỜN QUOC GIA BIDOUP, NÚI BA, TINH LAM BONG 1082200"E 108°300"E 108°40'0"E 108°S0'0"E Epa HN TU ( POSITION OF RESEARCH AREA INLAMDONG PROVINCE, VIETNAM 12°0"N °st vig 4 F. S2 \ Š + 4 + a Dae DAK LAK DAK LAK , ® fy Đáp 433 = = 8 oer b Dam Ron, Ni0M,fA,43 xã 4 Đà Lạt Lâm Hà 2 a By Bao Lim Don Dương A› Cat Tiên Hàng wil ite Trọng j Da Teh Bảo Lắc Di Linh Da Huoai KHANH HOA z - 5 CHU GIAI = a = ——. Ranh giới khu ——- vực nghiên ién cứu —- Ranh giới tinh cú 12°0"N ——--—- Ranh giới huyện eee Ranh giới xã Đường bình độ ~——— Sông suối Đường giao thông ĐI s \ Phân vùng chức năng VQG H LAM DONG 8m Ts HEB ku vue bio ve S lia Ề Ỳ = Khu vực hệ sinh thái a Lâm Hà 1 Khu vực dịch vụ Phân bố nắm Ophiocordyceps sp.
12°0'"N a = Ophiocordyceps nutans 0 3 6 12 4 — Ophiocordyceps sphecocephala a 1<: 1089200"E 108°300"E 108°400"E 108°500"E Hình 1. Ban đồ phân bố loài nắm Vườn Quốc Gia Bidoup Núi Bà, tỉnh Lam Đồng (Nguồn: Pham Thị Hà Nguyên, 2021) 1. Mô tả đặc điểm hình thái của O. nutans Giới Fungi; Ngành Ascomycota; Lớp Sordariomycetes; Bộ Hypocreales; Họ Ophiocordycipitaceae; Chi Ophiocordyceps; Loài O.
Sung, Hywel-Jones & Spatafora (2007); Tên cũ: Cordyceps nutans (Pat, 1887); Đồng danh: Cordyceps bicephala subsp.) Moureau, Mémoires de l'Institut Royal Colonial Belge 7: 47 (1949) [MB#352017] ; Tên ở dạng sinh sản vô tính: Hymenostilbe nutans (Samson & H. a-b qua thể phát sinh từ vật chủ; c mặt cắt ngang cua dau sinh sản cho thấy quả thé dang chai (Perithecia); d các sợi bào tử (asci); e sợi bào tử trưởng thành, ƒ sợi bào tử chưa trưởng thành; g-h bào tử ban phan; i-j cum sợi nam mọc trên trên môi trường PDA. Scale bar = 1 cm trong hình a-c, iÿ, = 5 um trong hình d-h (Nguồn Janet Jennifer Luangsa-ard và ctv, 2008) Theo mô ta của Luangsa-ard va ctv (2008), thi các mau vat được tìm thay trong lớp lá mục hoặc vùi trong đất. Vật chủ là bọ xít bộ Bộ cánh nửa.
Nhánh đơn độc trên các ký chủ nhỏ, các nhánh nhiều mọc trên các ký chủ lớn hơn (kích thước cơ thé 20-30 mm), dai 50-90 mm, ngang 400 - 800 um, phần thân nhánh màu đen hoặc nâu đen, có màu đỏ kích thước 8 - 12 mm dưới phần đầu sinh sản màu đỏ, màu hồng giống màu thịt cá hồi hoặc vàng cam kích thước 6 - 17 x 3 - 5 mm. Perithecia chìm, thành hyalin dạng xiên với cổ cong, kích thước 550-800 x 130-200 pm. Miệng thé quả có thé nhìn thấy trên bề mặt.