Tổng quan nghiên cứu
Khu di tích Mỹ Sơn tại tỉnh Quảng Nam là Di sản Văn hóa Thế giới được UNESCO công nhận từ năm 1999 với hơn 70 công trình đền tháp Champa cổ kính. Không gian di sản này nằm trọn trong một thung lũng khép kín có diện tích quy hoạch tổng thể đạt 1.158,00 ha theo Quyết định số 1915/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Nhiều thập kỷ qua, các hoạt động nghiên cứu bảo tồn chủ yếu tập trung vào việc gia cố, trùng tu các di tích gạch đá gốc mà chưa chú trọng đúng mức đến cảnh quan thiên nhiên và các hệ sinh thái bao quanh. Sự thiếu hụt các dữ liệu sinh thái học toàn diện đã tạo ra khoảng trống lớn trong công tác quy hoạch bảo tồn đồng bộ giữa văn hóa và thiên nhiên.
Mục tiêu cốt lõi của đề tài là phân loại và đánh giá chi tiết hiện trạng đa dạng hệ sinh thái tại khu di tích, xác định các nhóm dịch vụ sinh thái chủ lực, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp bảo vệ môi trường gắn liền với phát triển bền vững. Nghiên cứu được triển khai trong giai đoạn từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 12 năm 2018 tại thung lũng Mỹ Sơn, tọa độ địa lý 15°515' vĩ độ Bắc và 108°573' kinh độ Đông thuộc địa bàn xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn thể hiện qua việc cung cấp bộ chỉ số đa dạng loài với 238 loài thực vật bậc cao cùng hàng trăm loài động vật hoang dã, đóng vai trò làm thước đo định lượng cho việc hoạch định chính sách lâm nghiệp, kiểm soát 100% diện tích rừng đặc dụng và cải thiện sinh kế bền vững cho hơn 300 hộ dân vùng đệm di sản.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết hệ sinh thái kinh điển của Arthur Tansley thiết lập năm 1935 và Eugene Odum năm 1971, khẳng định hệ sinh thái là một đơn vị cấu trúc chức năng hoàn chỉnh gồm quần xã sinh vật và sinh cảnh vô sinh tương tác qua các dòng năng lượng và chu trình sinh địa hóa. Cơ sở phân loại thảm thực vật rừng dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh của Thái Văn Trừng năm 1978 và hệ thống phân chia 9 kiểu hệ sinh thái cạn, 17 kiểu hệ sinh thái nước tại Việt Nam do Mai Đình Yên đề xuất năm 1994.
Về mặt giá trị tài nguyên, đề tài ứng dụng khung đánh giá dịch vụ sinh thái của Liên Hợp Quốc theo báo cáo Đánh giá Hệ sinh thái Thiên niên kỷ ban hành năm 2005. Khung lý thuyết này chia nhỏ các giá trị thành 4 nhóm chính: dịch vụ cung cấp, dịch vụ điều tiết, dịch vụ hỗ trợ và dịch vụ văn hóa - xã hội. Luận văn cũng tích hợp mô hình tam giác phát triển bền vững của Ngân hàng Thế giới nhằm cân bằng đồng thời 3 trụ cột: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được kế thừa từ đề tài khoa học công nghệ cấp Quốc gia mang mã số ĐTĐL.CN-11/16, kết hợp dữ liệu điều tra thực địa đợt 1 từ ngày 22 tháng 8 năm 2016 đến ngày 10 tháng 9 năm 2016 và các đợt khảo sát bổ sung đến năm 2018.
Phương pháp chọn mẫu điều tra xã hội học áp dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng với cỡ mẫu 301 phiếu khảo sát trực tiếp người dân tại 3 thôn lân cận gồm thôn Mỹ Sơn (112 phiếu), thôn Bàn Sơn (98 phiếu) và thôn Trung Sơn (91 phiếu). Cỡ mẫu này đảm bảo độ tin cậy thống kê trên 95% nhằm đánh giá nhận thức cộng đồng về bảo tồn di sản. Dữ liệu định lượng được xử lý qua phần mềm Microsoft Excel 2013.
Để phân loại và thành lập bản đồ hiện trạng các hệ sinh thái tỷ lệ 1:5.000, nghiên cứu sử dụng phần mềm GIS MapInfo phiên bản 10.0, tích hợp ảnh vệ tinh viễn thám cùng bản đồ kiểm kê rừng năm 2016 theo đúng quy chuẩn tại Thông tư số 34/2009/BNNPTNT và Thông tư số 23/2016/BNNPTNT. Việc kết hợp hệ thống thông tin địa lý và phương pháp chuyên gia cho phép bóc tách ranh giới các hệ sinh thái với độ chính xác không gian cao.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, luận văn đã phân định và lập bản đồ 5 hệ sinh thái đặc trưng trên tổng diện tích 1.158,00 ha của khu di tích. Trong đó, hệ sinh thái rừng phục hồi thường xanh chiếm ưu thế tuyệt đối với diện tích 684,85 ha (tương đương 59,14%), tiếp theo là hệ sinh thái rừng trồng chiếm 339,78 ha (29,34%), hệ sinh thái trảng cỏ cây bụi chiếm 114,45 ha (9,88%), hệ sinh thái dân cư và công trình chiếm 15,13 ha (1,31%), cuối cùng là hệ sinh thái suối Khe Thẻ chiếm 3,79 ha (0,33%).
Thứ hai, mức độ đa dạng sinh học tại khu vực ghi nhận thành phần loài phong phú. Cụ thể có 238 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 168 chi và 82 họ (ngành Ngọc lan chiếm ưu thế với 81,55%); 23 loài rêu; 30 loài nấm; 179 loài côn trùng cạn; 97 loài bò sát; 62 loài chim; 43 loài cá; 43 loài lưỡng cư; 36 loài thú và 205 loài động vật đáy thủy vực.
Thứ ba, nghiên cứu ghi nhận nhiều nguồn gen đặc biệt nguy cấp có tên trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Danh lục Đỏ IUCN năm 2017. Nổi bật là loài Chò đen (Parashorea stellata) ở mức Rất nguy cấp (CR), Giền trắng (Xylopia pierrei) ở mức Sẽ nguy cấp (VU), Cu li lớn (Nycticebus bengalensis) thuộc nhóm IB và Tê tê Java (Manis javanica) ở mức Cực kỳ nguy cấp (CR).
Thứ tư, cơ cấu kinh tế xã Duy Phú có sự chuyển biến mạnh khi thu nhập bình quân đầu người tăng từ 9,5 triệu đồng năm 2012 lên 20,39 triệu đồng năm 2017. Tỷ trọng khối ngành dịch vụ du lịch chiếm từ 46% đến 54% tổng thu nhập toàn xã, trong khi nông - lâm nghiệp giảm từ 40% xuống còn 25%.
Thảo luận kết quả
Các phát hiện được trực quan hóa thông qua biểu đồ cơ cấu diện tích và bảng ma trận đánh giá dịch vụ sinh thái cho điểm từ 0 đến 3 điểm. Kết quả cho thấy hệ sinh thái rừng phục hồi thường xanh đạt điểm số dịch vụ điều tiết và phòng hộ đầu nguồn cao nhất (3 điểm), giữ vai trò điều hòa dòng chảy cho suối Khe Thẻ và ngăn chặn ngập lụt tại các chân đền tháp có cao trình 37,7m - 37,8m. Sự phục hồi tích cực của thảm thực vật bản địa bắt nguồn từ các quy chế bảo vệ nghiêm ngặt vùng lõi sau khi Mỹ Sơn đón nhận danh hiệu di sản quốc tế.
So sánh với các nghiên cứu tại Vườn Quốc gia Côn Đảo hay Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà, hệ sinh thái Mỹ Sơn mang tính đặc thù khi đóng vai trò là "tấm lá chắn xanh" bao bọc các công trình kiến trúc cổ kính. Tuy nhiên, khu vực đang đối mặt với sự phân mảnh cảnh quan khi có đến 339,78 ha rừng keo lai ngoại lai đơn loài ở sườn phía Nam núi Hòn Đền. Thêm vào đó, khảo sát 301 người dân cho thấy 27,9% ý kiến xác nhận vẫn còn hiện tượng lén lút khai thác động vật rừng, đòi hỏi phải có sự can thiệp quản lý kịp thời.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên phân tích hiện trạng sinh thái và kinh tế - xã hội, luận văn đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Thiết lập vành đai bảo vệ nghiêm ngặt 684,85 ha rừng phục hồi thường xanh: Ban Quản lý Di tích Mỹ Sơn chủ trì phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm huyện Duy Xuyên tổ chức tối thiểu 4 đợt tuần tra/tháng, lắp đặt hệ thống biển báo ranh giới nhằm triệt tiêu 100% các vụ vi phạm khai thác gỗ và săn bắt động vật hoang dã trái phép trong giai đoạn 2019–2022.
- Chuyển đổi và làm giàu 339,78 ha diện tích rừng trồng kinh tế: Ủy ban nhân dân xã Duy Phú phối hợp các chủ rừng xây dựng lộ trình thay thế 30% diện tích keo lai bằng các loài cây bản địa có giá trị cao như Sao đen, Giền trắng, Dẻ đỏ, Kháo nước trước năm 2025 nhằm gia tăng tính đa dạng sinh thái.
- Phục hồi sinh cảnh trên 114,45 ha trảng cỏ và cây bụi: Triển khai các biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng dặm cây tiên phong bản địa, phấn đấu nâng độ che phủ tán rừng thêm 15% trong khung thời gian từ 2020 đến 2023.
- Quy chuẩn hóa 15,13 ha hệ sinh thái dân cư và dịch vụ: Ban Quản lý Di tích tiến hành chỉnh trang, thay thế 670 m² công trình bán kiên cố và 540 m² nhà tạm bằng các vật liệu thân thiện môi trường, thiết kế đồng điệu với kiến trúc Champa cổ vào năm 2024.
- Thực thi mô hình du lịch sinh thái chia sẻ lợi nhuận cộng đồng: Ban Quản lý Di tích trích từ 5% đến 10% doanh thu phí tham quan để hỗ trợ vốn, cây con giống cho 46 hộ nghèo tại thôn Bàn Sơn và các thôn lân cận, tạo sinh kế thay thế bền vững trước năm 2025.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cán bộ quản lý di sản và kiểm lâm địa phương: Cung cấp khung cơ sở dữ liệu địa lý GIS và bản đồ phân bố sinh thái chi tiết để phục vụ công tác tuần tra, cắm mốc ranh giới và phòng chống cháy rừng vùng đệm di tích.
- Nhà khoa học, giảng viên và học viên chuyên ngành Sinh thái học: Tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp điều tra đa dạng loài, viễn thám bản đồ tỷ lệ 1:5.000 và khung lượng giá dịch vụ sinh thái theo chuẩn MEA 2005.
- Chuyên gia quy hoạch môi trường và kiến trúc cảnh quan: Ứng dụng các phân tích cấu trúc hạ tầng 15,13 ha đất công trình để quy hoạch không gian du lịch bền vững mà không phá vỡ nét tôn nghiêm của di sản.
- Các tổ chức bảo tồn đa dạng sinh học trong và ngoài nước: Khai thác dữ liệu phân bố của các loài quý hiếm như Tê tê Java, Cu li lớn, Rùa Trung bộ làm tiền đề tài trợ các dự án bảo tồn nguồn gen nguy cấp tại miền Trung Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Hệ sinh thái nào chiếm diện tích lớn nhất tại Khu di tích Mỹ Sơn?
Hệ sinh thái rừng phục hồi thường xanh chiếm diện tích lớn nhất với 684,85 ha, chiếm 59,14% tổng diện tích 1.158,00 ha của khu di tích. Đây là khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ đất, điều tiết dòng nước cho suối Khe Thẻ và bảo vệ các khu đền tháp.
Có bao nhiêu loài sinh vật quý hiếm được ghi nhận trong nghiên cứu?
Nghiên cứu ghi nhận nhiều loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN, tiêu biểu như 1 loài thực vật Rất nguy cấp là Chò đen (Parashorea stellata), 2 loài thú quý hiếm gồm Tê tê Java (Manis javanica - mức CR) và Cu li lớn (Nycticebus bengalensis - mức VU), cùng nhiều loài rùa nước ngọt quý hiếm.
Cộng đồng địa phương có thái độ như thế nào đối với việc bảo tồn rừng di sản?
Khảo sát 301 phiếu tại 3 thôn phụ cận cho thấy nhận thức cộng đồng rất tích cực: 91,36% người dân hiểu rõ vai trò của di tích, 96,68% (291 người) ủng hộ việc bảo tồn rừng tự nhiên và 79,73% (240 người) khẳng định sẵn sàng tự nguyện tham gia các hoạt động bảo vệ rừng dù không có thù lao.
Tại sao cần chuyển đổi diện tích rừng trồng keo lai tại khu vực này?
Rừng trồng keo lai chiếm tới 339,78 ha (29,34% diện tích) là rừng ngoại lai thuần loại, có độ đa dạng loài rất thấp và khả năng giữ nước kém vào mùa khô. Việc thay thế bằng cây bản địa giúp tăng cường tính liên tục sinh cảnh, nâng cao chất lượng môi trường và phòng chống xói mòn sườn dốc Hòn Đền.
Mô hình nghiên cứu nào được ứng dụng để định hướng phát triển bền vững?
Luận văn kết hợp mô hình phát triển bền vững hình tam giác của Ngân hàng Thế giới cùng khung lượng giá dịch vụ sinh thái của Liên Hợp Quốc (MEA 2005), đánh giá đồng thời 4 nhóm dịch vụ sinh thái nhằm bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng du lịch và giữ gìn di sản thiên nhiên.
Kết luận
- Phân loại và thành lập bản đồ hiện trạng thành công cho 5 kiểu hệ sinh thái đặc trưng trên quy mô diện tích 1.158,00 ha tại thung lũng Mỹ Sơn.
- Thống kê chi tiết danh mục đa dạng sinh học phong phú gồm 238 loài thực vật bậc cao có mạch, 205 loài động vật đáy, 179 loài côn trùng cạn và nhiều lớp động vật hoang dã.
- Khẳng định giá trị vượt trội của 684,85 ha rừng phục hồi thường xanh trong việc cung cấp dịch vụ điều tiết nguồn nước và bảo vệ an toàn cho hệ thống đền tháp Champa cổ.
- Đánh giá chính xác thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã Duy Phú với tỷ trọng dịch vụ đạt 46-54% và ghi nhận sự đồng thuận bảo tồn cao từ 301 người dân địa phương.
- Đề xuất lộ trình 5 giải pháp khả thi giai đoạn 2019–2025, tập trung làm giàu rừng bản địa, quản lý kiến trúc cảnh quan và chia sẻ quyền lợi du lịch cho cộng đồng.
Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý quan tâm có thể khai thác toàn bộ số liệu chi tiết trong luận văn để ứng dụng vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch di sản bền vững.