Nghiên Cứu Đa Dạng Hệ Sinh Thái Tại Khu Di Tích Mỹ Sơn, Tỉnh Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích nghiên cứu đa dạng hệ sinh thái tại khu di tích mỹ sơn tỉnh quảng nam và đề xuất một số giải pháp, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sinh thái học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2018

89
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu hệ sinh thái

0.2. Một số khái niệm về hệ sinh thái

0.3. Cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái

0.4. Các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái và vai trò của chúng

0.5. Dịch vụ sinh thái (Ecosystem services)

0.6. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đa dạng hệ sinh thái trên thế giới và ở Việt Nam

0.7. Bảo tồn và phát triển bền vững

1. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu

1.2. Thời gian nghiên cứu

1.3. Địa điểm nghiên cứu

1.4. Đối tượng nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.5.1. Phương pháp hồi cứu

1.5.2. Phương pháp khảo sát thực địa

1.5.3. Phương pháp phỏng vấn

1.5.4. Phương pháp xử lý số liệu

1.5.5. Phương pháp phân loại hệ sinh thái

1.5.6. Phương pháp thành lập bản đồ

1.5.7. Phương pháp đánh giá dịch vụ sinh thái của các HST

1.5.8. Phương pháp chuyên gia

2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

2.1.1. Vị trí địa lý

2.1.2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên

2.1.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.2. Hiện trạng đa dạng sinh học tại Khu di tích Mỹ Sơn

2.2.1. Hiện trạng đa dạng loài

2.2.2. Hiện trạng đa dạng hệ sinh thái

2.2.3. Bản đồ phân bố các hệ sinh thái

2.3. Đánh giá các dịch vụ sinh thái của các hệ sinh thái ở Khu di tích Mỹ Sơn

2.4. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn Khu di tích Mỹ Sơn gắn với phát triển bền vững

2.4.1. Giải pháp bảo tồn chung

2.4.2. Giải pháp đối với từng hệ sinh thái

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Đa Dạng Hệ Sinh Thái Mỹ Sơn 55 ký tự

Khu di tích Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới năm 1999. Giá trị của khu di tích Mỹ Sơn không chỉ nằm ở kiến trúc đền tháp mà còn ở không gian văn hóa và tự nhiên xung quanh. Các cánh rừng tự nhiên và dòng suối tạo nên cảnh quan đặc biệt. Nghiên cứu về đa dạng hệ sinh thái Mỹ Sơn còn hạn chế, đặc biệt là về cảnh quan thiên nhiên. Cần có nghiên cứu tổng hợp để bảo tồn và phát huy giá trị di sản, đảm bảo hài hòa giữa phát triển và gìn giữ văn hóa Champa. Quyết định số 1915/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/12/2008 đã phê duyệt dự án quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị Khu di tích Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2008 - 2020, quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị Khu di tích Mỹ Sơn bao gồm toàn bộ thung lũng Mỹ Sơn giới hạn bằng các đỉnh núi bao quanh thung lũng nhƣ đỉnh núi Văn Chỉ, đỉnh núi Hòn Ngang, đỉnh núi Đá Bèo, đỉnh núi Kỳ Vĩ, đỉnh núi Mật Mã.

1.1. Mục Tiêu Nghiên Cứu Đa Dạng Sinh Học Mỹ Sơn

Nghiên cứu tập trung đánh giá đa dạng sinh học Mỹ Sơn, tầm quan trọng của dịch vụ sinh thái (DVST) mà các hệ sinh thái mang lại, và đề xuất giải pháp bảo tồn gắn với phát triển bền vững. Đề tài sử dụng số liệu từ đề tài độc lập cấp Quốc gia: “Nghiên cứu, đề xuất và xây dựng mô hình ứng dụng giải pháp sinh thái, thủy lợi nhằm bảo tồn gắn với phát triển bền vững Khu di tích Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam” (mã số: ĐTĐL.CN-11/16). Cụ thể là kế thừa số liệu về hiện trạng đa dạng sinh học, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; ngoài ra, học viên đã tham gia khảo sát thực địa, thực hiện một số chuyên đề của đề tài cấp Quốc gia.

1.2. Khái Niệm Cơ Bản Về Hệ Sinh Thái Rừng Mỹ Sơn

Khái niệm hệ sinh thái (HST) được A. Tansley đưa ra năm 1935. Theo Odum (1971), sinh vật và thế giới vô sinh có quan hệ khăng khít. Mai Đình Yên (1990) định nghĩa HST là hệ thống bao gồm sinh vật và môi trường tác động lên nhau. Dương Hữu Thời (1998) xem HST là đơn vị chức năng và cấu trúc cơ sở. Vũ Trung Tạng (2000) định nghĩa HST là tổ hợp của quần xã sinh vật với môi trường vật lý. HST có thể có quy mô khác nhau, từ nhỏ đến lớn (Lê Vũ Khôi, 2017).

II. Cách Xác Định Cấu Trúc và Chức Năng Hệ Sinh Thái Mỹ Sơn 59 ký tự

Mỗi hệ sinh thái (HST) gồm thành phần vô sinh (ánh sáng, khí hậu, đất, nước) và hữu sinh (quần xã sinh vật). Thành phần cấu trúc đa dạng, tổ chức theo thứ bậc chặt chẽ. HST được xem là đơn vị cấu trúc hoàn chỉnh của tự nhiên. HST có các thuộc tính cơ bản như không gian, thời gian, và mối quan hệ tương tác. Một HST điển hình gồm: sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ, sinh vật phân hủy, chất hữu cơ, chất vô cơ, và yếu tố khí hậu. Ba thành phần đầu là quần xã sinh vật, ba thành phần sau là môi trường vật lý và hóa học.

2.1. Vai Trò Sinh Vật Sản Xuất Trong Hệ Sinh Thái Mỹ Sơn

Sinh vật sản xuất (Producer - P) là sinh vật tự dưỡng (autotrophy), gồm thực vật xanh, nấm, vi khuẩn có khả năng quang hợp hoặc hóa tổng hợp. Chúng tạo ra nguồn thức ăn ban đầu. Sinh vật sản xuất là thành phần không thể thiếu trong bất kỳ HST hoàn chỉnh nào. Nhờ hoạt động quang hợp và hóa tổng hợp của chúng mà nguồn thức ăn ban đầu đƣợc tạo thành để nuôi sống, trƣớc tiên chính những sinh vật sản xuất sau đó, nuôi sống cả thế giới sinh vật còn lại, trong đó kể cả con ngƣời.

2.2. Phân Loại Sinh Vật Tiêu Thụ Tại Khu Di Tích Mỹ Sơn

Sinh vật tiêu thụ (Consumer - C) là sinh vật dị dưỡng (heterotrophy), bao gồm động vật và vi sinh vật không có khả năng quang hợp. Chúng tồn tại dựa vào nguồn thức ăn do sinh vật tự dưỡng tạo ra. Sinh vật tiêu thụ bậc 1 (C1) ăn thực vật. Sinh vật tiêu thụ bậc 2 (C2) ăn thịt, sử dụng sinh vật tiêu thụ bậc 1 làm thức ăn. Sinh vật tiêu thụ bậc 3 và bậc 4 (C3 và C4) có thể là sinh vật ăn thịt, ký sinh trùng, hoặc động vật ăn xác chết.

2.3. Chức Năng Của Sinh Vật Phân Hủy Trong Hệ Sinh Thái

Sinh vật phân hủy (Decomposer - D) là vi sinh vật dị dưỡng, sống hoại sinh (saprophy). Chúng phân hủy chất hữu cơ, giải phóng khoáng chất đơn giản. Trong tự nhiên, HST không tồn tại độc lập mà liên hệ mật thiết với các hệ khác. HST là hệ động lực mở và có khả năng tự điều chỉnh. Theo Odum (1971), Ngoài cấu trúc theo kiểu thành phần, HST còn có kiểu cấu trúc theo chức năng 44, cấu trúc của HST bao gồm: - Quá trình chuyển hóa năng lƣợng của hệ; - Xích thức ăn trong hệ; - Các chu trình sinh địa hóa diễn ra trong hệ; - Sự phân hóa trong không gian và theo thời gian; - Các quá trình phát triển và tiến hóa của hệ; - Các quá trình tự điều chỉnh.

III. Đánh Giá Đa Dạng Sinh Vật Trong Hệ Sinh Thái Mỹ Sơn 58 ký tự

Quần thể sinh vật là dạng tồn tại của loài trong hệ sinh thái. Quần thể là nhóm cá thể của một loài, có khả năng giao phối tự do. Quần xã sinh vật là tổ hợp các quần thể phân bố trong lãnh thổ xác định. Các mối quan hệ tương tác giữa sinh vật và môi trường làm cho HST phong phú. Cấu trúc khu hệ sinh vật của quần xã sinh vật được phân loại theo dạng dinh dưỡng và sinh vật dị dưỡng. Các nhóm sinh vật này thiết lập mối quan hệ dinh dưỡng.

3.1. Vai Trò Sinh Vật Tự Dưỡng Trong Chuỗi Thức Ăn

Sinh vật tự dưỡng (sinh vật sản xuất) bao gồm cây xanh, tảo, vi khuẩn. Chúng tạo ra vật liệu hữu cơ từ chất vô cơ. Sinh vật quang tự dưỡng tiếp nhận ánh sáng mặt trời để tổng hợp chất hữu cơ. Thực vật xanh là nguồn cung cấp thức ăn, nơi ở cho nhiều sinh vật khác. Thảm thực vật là tổ hợp thực vật của một vùng, đặc trưng cho quần xã sinh vật.

3.2. Đặc Điểm Sinh Vật Dị Dưỡng và Bậc Dinh Dưỡng

Sinh vật dị dưỡng (sinh vật tiêu thụ) thu nhận thức ăn từ sinh vật khác. Chúng bao gồm động vật ăn thực vật, động vật ăn thịt, động vật ăn tạp. Sinh vật dị dưỡng chiếm giữ các bậc dinh dưỡng khác nhau. Sinh vật ăn thực vật là sinh vật tiêu thụ sơ cấp. Sinh vật ăn động vật ăn thực vật là sinh vật tiêu thụ bậc 2. Động vật ăn tạp ăn cả động vật và thực vật.

3.3. Quá Trình Phân Hủy Của Sinh Vật Phân Hủy

Sinh vật phân hủy (sinh vật ăn mùn bã) phân hủy chất hữu cơ chết. Quá trình phân giải gồm 3 giai đoạn: phá vụn, mùn hóa, và vô cơ hóa. Sinh vật tự dưỡng tạo ra vật liệu hữu cơ, sinh vật tiêu thụ ăn chúng, sinh vật phân hủy phân hủy chất hữu cơ chết. Đánh giá đa dạng hệ sinh thái có thể dựa trên bản chất của quần xã.

IV. Hiện Trạng Đa Dạng Sinh Học Tại Khu Di Tích Mỹ Sơn 57 ký tự

Khu di tích Mỹ Sơnđa dạng sinh học phong phú, bao gồm nhiều loài thực vật và động vật. Các hệ sinh thái chính bao gồm rừng, suối, và trảng cỏ. Tuy nhiên, đa dạng sinh học đang chịu tác động từ các hoạt động của con người, như xây dựng và du lịch. Cần có các biện pháp bảo tồn để duy trì đa dạng sinh học tại khu di tích.

4.1. Thảm Thực Vật Rừng Tại Khu Di Tích Mỹ Sơn

Thảm thực vật rừng tại Mỹ Sơn bao gồm nhiều loài cây gỗ, cây bụi, và cây cỏ. Rừng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất, điều hòa khí hậu, và cung cấp nơi ở cho động vật. Các loài cây đặc trưng bao gồm lim xanh, gõ đỏ, và trắc. Cần có các biện pháp bảo vệ rừng để duy trì đa dạng sinh học.

4.2. Động Vật Hoang Dã Tại Khu Di Tích Mỹ Sơn

Động vật hoang dã tại Mỹ Sơn bao gồm nhiều loài chim, thú, bò sát, và lưỡng cư. Các loài động vật có vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái. Các loài động vật quý hiếm bao gồm voọc chà vá chân xám, gà lôi trắng, và trăn đất. Cần có các biện pháp bảo vệ động vật hoang dã để duy trì đa dạng sinh học.

4.3. Hệ Sinh Thái Suối Tại Khu Di Tích Mỹ Sơn

Hệ sinh thái suối tại Mỹ Sơn có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước, điều hòa khí hậu, và là nơi sinh sống của nhiều loài động vật thủy sinh. Các loài động vật thủy sinh bao gồm cá, tôm, cua, và ốc. Cần có các biện pháp bảo vệ hệ sinh thái suối để duy trì đa dạng sinh học.

V. Giải Pháp Bảo Tồn Hệ Sinh Thái Mỹ Sơn Bền Vững 56 ký tự

Để bảo tồn hệ sinh thái Mỹ Sơn gắn với phát triển bền vững, cần có các giải pháp tổng thể và cụ thể. Các giải pháp tổng thể bao gồm tăng cường quản lý, nâng cao nhận thức cộng đồng, và phát triển du lịch sinh thái. Các giải pháp cụ thể bao gồm bảo vệ rừng, bảo vệ động vật hoang dã, và bảo vệ hệ sinh thái suối.

5.1. Tăng Cường Quản Lý Khu Di Tích Mỹ Sơn

Cần tăng cường quản lý khu di tích Mỹ Sơn để ngăn chặn các hoạt động phá hoại hệ sinh thái. Các hoạt động quản lý bao gồm kiểm soát xây dựng, kiểm soát du lịch, và kiểm soát khai thác tài nguyên. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng để quản lý hiệu quả khu di tích.

5.2. Nâng Cao Nhận Thức Cộng Đồng Về Bảo Tồn

Cần nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo tồn hệ sinh thái Mỹ Sơn. Các hoạt động nâng cao nhận thức bao gồm tuyên truyền, giáo dục, và tổ chức các hoạt động cộng đồng. Cần có sự tham gia của cộng đồng địa phương vào công tác bảo tồn.

5.3. Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Tại Mỹ Sơn

Phát triển du lịch sinh thái là một giải pháp quan trọng để bảo tồn hệ sinh thái Mỹ Sơn. Du lịch sinh thái giúp tạo ra nguồn thu nhập cho cộng đồng địa phương, đồng thời nâng cao nhận thức về bảo tồn. Cần có quy hoạch phát triển du lịch sinh thái hợp lý để đảm bảo không gây ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái.

VI. Tương Lai Nghiên Cứu và Bảo Tồn Hệ Sinh Thái Mỹ Sơn 59 ký tự

Nghiên cứu và bảo tồn hệ sinh thái Mỹ Sơn cần tiếp tục được đẩy mạnh trong tương lai. Cần có các nghiên cứu chuyên sâu về đa dạng sinh học, dịch vụ sinh thái, và tác động của biến đổi khí hậu. Cần có các giải pháp bảo tồn sáng tạo và hiệu quả để bảo vệ hệ sinh thái Mỹ Sơn cho các thế hệ tương lai.

6.1. Nghiên Cứu Chuyên Sâu Về Đa Dạng Sinh Học

Cần có các nghiên cứu chuyên sâu về đa dạng sinh học tại Mỹ Sơn để hiểu rõ hơn về các loài thực vật và động vật, cũng như các mối quan hệ giữa chúng. Các nghiên cứu này sẽ giúp đưa ra các giải pháp bảo tồn hiệu quả hơn.

6.2. Đánh Giá Dịch Vụ Sinh Thái Tại Khu Di Tích

Cần đánh giá dịch vụ sinh tháihệ sinh thái Mỹ Sơn cung cấp, như cung cấp nước, điều hòa khí hậu, và bảo vệ đất. Đánh giá này sẽ giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hệ sinh thái và khuyến khích các hoạt động bảo tồn.

6.3. Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Tại Mỹ Sơn

Biến đổi khí hậu đang gây ra những tác động tiêu cực đến hệ sinh thái Mỹ Sơn. Cần có các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, như trồng rừng, bảo vệ nguồn nước, và giảm thiểu khí thải. Các giải pháp này sẽ giúp bảo vệ hệ sinh thái Mỹ Sơn trước những tác động của biến đổi khí hậu.

08/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Khu di tích Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam đƣợc UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới năm 1999 với những giá trị nổi bật về kiến trúc, văn hóa đặc trƣng và chiều dày lịch sử. Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng hẹp có núi rừng bao quanh, phía Nam là núi Hòn Đền hay Núi Chùa là ngọn núi thiêng của ngƣời dân Champa cổ. Từ ngọn núi này, khởi nguồn của dòng suối Khe Thẻ chảy qua giữa thung lũng rồi theo hƣớng Bắc đổ ra sông Thu Bồn. Giá trị Khu di tích Mỹ Sơn không chỉ nằm ở khu vực trung tâm với khoảng 70 ngôi đền tháp mà giá trị đó còn gắn liền với một không gian văn hóa và tự nhiên xung quanh.

Những cánh rừng tự nhiên và những dòng suối đã tạo nên cảnh quan đặc biệt cho Khu di tích Mỹ Sơn. Theo Quyết định số 1915/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ ngày 30/12/2008 về Phê duyệt dự án quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị Khu di tích Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2008 - 2020, quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị Khu di tích Mỹ Sơn bao gồm toàn bộ thung lũng Mỹ Sơn giới hạn bằng các đỉnh núi bao quanh thung lũng nhƣ đỉnh núi Văn Chỉ, đỉnh núi Hòn Ngang, đỉnh núi Đá Bèo, đỉnh núi Kỳ Vĩ, đỉnh núi Mật Mã. Trong đó, phạm vi nghiên cứu quy hoạch là toàn bộ Khu di tích Mỹ Sơn, các cánh rừng trên sƣờn núi phía trong thung lũng Mỹ Sơn, khu vực xây dựng các công trình quản lý và dịch vụ thuộc khu Mỹ Sơn - Thạch Bàn, có tổng diện tích phạm vi nghiên cứu quy hoạch là 11. Hiện nay, các nghiên cứu về bảo tồn chủ yếu tập trung vào khu vực đền tháp nhằm tôn tạo, ngăn chặn quá trình hủy hoại của toàn bộ các di tích hiện còn ở Mỹ Sơn, đặc biệt là các di tích gốc; các công trình nghiên cứu chƣa chú trọng đến bảo tồn cảnh quan thiên nhiên tại thung lũng Mỹ Sơn.

Ngoài bảo tồn khu vực đền tháp, việc bảo tồn khu vực quanh khu di tích cũng rất quan trọng. Tuy nhiên, cho đến nay, tại khu di tích này vẫn chƣa có công trình nghiên cứu tổng hợp nào liên quan đến cảnh quan thiên nhiên và hệ sinh thái quanh khu di tích. Vì vậy, rất cần những nghiên cứu về hệ sinh thái ở Khu di tích Mỹ Sơn, từ đó giúp cho địa phƣơng và các nhà nghiên cứu có biện pháp bảo tồn phù hợp góp phần duy trì và phát huy giá trị di sản nhƣng vẫn đảm bảo hài hòa giữa phát triển và gìn giữ nét văn hóa, lịch sử của ngƣời Champa. 1 c Trƣớc những thực tế nhƣ trên, đề tài: “Nghiên cứu đa dạng hệ sinh thái tại Khu di tích Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam và đề xuất một số giải pháp bảo tồn gắn với phát triển bền vững” đƣợc thực hiện với mục tiêu: - Đánh giá đa dạng HST tại Khu di tích Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam; - Đánh giá tầm quan trọng của DVST mà các HST mang lại; - Đề xuất một số giải pháp bảo tồn Khu di tích Mỹ Sơn gắn với phát triển bền vững.

Để thực hiện đƣợc những mục tiêu trên, đề tài đƣợc hỗ trợ và sử dụng số liệu của đề tài độc lập cấp Quốc gia: “Nghiên cứu, đề xuất và xây dựng mô hình ứng dụng giải pháp sinh thái, thủy lợi nhằm bảo tồn gắn với phát triển bền vững Khu di tích Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam” (mã số: ĐTĐL.CN-11/16), cụ thể là kế thừa số liệu về hiện trạng đa dạng sinh học, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; ngoài ra, học viên đã tham gia khảo sát thực địa, thực hiện một số chuyên đề của đề tài cấp Quốc gia. Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu hệ sinh thái 1. Một số khái niệm về hệ sinh thái Khái niệm HST đƣợc ra đời ở cuối thế kỷ thứ XIX dƣới các tên gọi khác nhau nhƣ “Sinh vật quần lạc” (Dakuchaev, 1846, 1903; Mobius, 1877). Thuật ngữ “Hệ sinh thái” (Ecosystem) đƣợc A.

Tansley nêu ra vào năm 1935 và trở thành phổ biến, đƣợc sử dụng rộng rãi nhất vì nó không chỉ bao hàm các HST tự nhiên mà cả các HST nhân tạo, kể cả con tàu vũ trụ. Thuật ngữ hệ sinh thái của A. Tansley còn chỉ ra những hệ cực bé (Microecosystem), đến các hệ lớn nhƣ một khu rừng, cánh đồng rêu (Tundra), biển, đại dƣơng và hệ cực lớn nhƣ sinh quyển 41. Theo Odum (1971), sinh vật và thế giới vô sinh ở xung quanh có quan hệ khăng khít với nhau và thƣờng xuyên có tác động qua lại.

Đơn vị bất kỳ nào bao gồm tất cả các sinh vật (có nghĩa là quần xã) của một khu vực nhất định đều tác động qua lại với môi trƣờng vật lý bằng các dòng năng lƣợng tạo nên cấu trúc dinh dƣỡng xác định, sự đa dạng về loài và chu trình tuần hoàn vật chất (tức là trao đổi giữa các phần tử vô sinh và hữu sinh) trong mạng lƣới đƣợc gọi là hệ thống sinh thái hoặc HST 44. Năm 1990, Mai Đình Yên định nghĩa ngắn gọn về HST, đó là hệ thống bao gồm sinh vật và môi trƣờng tác động lên nhau mà ở đó thực hiện vòng tuần hoàn vật chất và dòng năng lƣợng 32. Theo Dƣơng Hữu Thời (1998), HST là một đơn vị chức năng và cấu trúc cơ sở. Nó gồm 2 thành phần chính: sinh vật và môi trƣờng mà trong đó sinh vật hoạt động sống 24.

Năm 2000, Vũ Trung Tạng đã đƣa ra khái niệm HST là tổ hợp của một quần xã sinh vật với môi trƣờng vật lý mà quần xã đó tồn tại, trong đó các sinh vật tƣơng tác với nhau và với môi trƣờng để tại nên chu trình vật chất và sự chuyển hóa của năng lƣợng. HST lại trở lại thành một bộ phận cấu trúc của một HST duy nhất toàn cầu hay còn gọi là sinh quyển (biosphere) 20. 3 c Khái niệm HST đã phát triển từ quần lạc sinh vật đến tổ hợp của quần xã sinh vật với môi trƣờng sống và bao gồm cả mối quan hệ giữa chúng. Theo Lê Vũ Khôi (2017), HST có thể có quy mô khác nhau: HST nhỏ (ví dụ nhƣ một chậu hoa cảnh), HST vừa (ví dụ nhƣ một hồ chứa nƣớc, một thảm rừng), HST lớn (ví dụ nhƣ một đại dƣơng, một khu rừng) 9.

Cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái Mỗi HST gồm các thành phần cấu trúc là thành phần vô sinh và thành phần hữu sinh. Thành phần vô sinh (sinh cảnh) bao gồm các yếu tố nhƣ ánh sáng, khí hậu, đất, nƣớc… Thành phần hữu sinh là các quần xã sinh vật. Thành phần cấu trúc của HST rất đa dạng, đƣợc tổ chức theo thứ bậc chặt chẽ, cùng với các mối quan hệ và thông tin, trên cơ sở đó, hệ thực hiện trọn vẹn chu kỳ sinh học của mình. Bởi vậy, HST đƣợc xem là một đơn vị cấu trúc rất hoàn chỉnh của tự nhiên.

Không những thế, HST còn có những thuộc tính rất cơ bản khác quyết định đến thành phần cấu trúc và hoạt động, chức năng của nó nhƣ không gian, thời gian và các mối quan hệ tƣơng tác với các HST khác 20. Nếu xét theo cấu trúc thành phần thì một HST điển hình đƣợc cấu trúc bởi các thành phần sau đây 20: - Sinh vật sản xuất; - Sinh vật tiêu thụ; - Sinh vật phân hủy; - Các chất hữu cơ; - Các chất vô cơ; - Các yếu tố khí hậu. Thực chất ba thành phần đầu chính là quần xã sinh vật, còn ba thành phần sau là môi trƣờng vật lý và hóa học mà quần xã đó sử dụng để tồn tại và phát triển. Sinh vật sản xuất (Producer - P) là những sinh vật tự dƣỡng (autotrophy), gồm các loài thực vật có màu xanh và một số nấm, vi khuẩn có khả năng quang hợp hoặc hóa tổng hợp.

Chúng là thành phần không thể thiếu đƣợc trong bất kỳ HST hoàn chỉnh nào. Nhờ hoạt động quang hợp và hóa tổng hợp của chúng mà nguồn thức ăn ban đầu đƣợc tạo thành để nuôi sống, trƣớc tiên chính những sinh vật sản xuất sau đó, nuôi sống cả thế giới sinh vật còn lại, trong đó kể cả con ngƣời. 4 c Sinh vật tiêu thụ (Consumer - C) là những sinh vật dị dƣỡng (heterotrophy) bao gồm tất cả các loài động vật và những vi sinh vật không có khả năng quang hợp và hóa tổng hợp, nói một cách khác, chúng tồn tại đƣợc là dựa vào nguồn thức ăn ban đầu do các sinh vật tự dƣỡng tạo ra. Tuỳ theo đặc điểm tiêu thụ của chúng, đƣợc chia ra: - Sinh vật tiêu thụ bậc 1 (C1): bao gồm những loài động vật ăn thực vật.

- Sinh vật tiêu thụ bậc 2 (C2): Bao gồm sinh vật ăn thịt, sử dụng sinh vật tiêu thụ bậc 1 làm thức ăn. - Sinh vật tiêu thụ bậc 3 và bậc 4 (C3 và C4) có thể là sinh vật ăn thịt, sử dụng sinh vật tiêu thụ bậc 2 làm thức ăn. Cũng có thể là ký sinh trùng sống ký sinh trên sinh vật tiêu thụ bậc 1 hoặc bậc 2 hoặc động vật ăn xác chết. Sinh vật phân hủy (Decomposer - D) là tất cả các vi sinh vật dị dƣỡng, sống hoại sinh (saprophy).

Trong quá trình phân hủy các chất, chúng tiếp nhận nguồn lƣợng hóa học để tồn tại và phát triển, đồng thời giải phóng các chất từ các hợp chất hữu cơ phức tạp ra môi trƣờng dƣới dạng những khoáng chất đơn giản hoặc các nguyên tố hóa học ban đầu tham gia vào chu trình (nhƣ CO2, O2, N2. Trong tự nhiên, HST không tồn tại độc lập mà còn liên hệ mật thiết với các hệ khác bằng các hệ chuyển tiếp. HST là một hệ động lực mở và có khả năng tự điều chỉnh. Theo Odum (1971), Ngoài cấu trúc theo kiểu thành phần, HST còn có kiểu cấu trúc theo chức năng 44, cấu trúc của HST bao gồm: - Quá trình chuyển hóa năng lƣợng của hệ; - Xích thức ăn trong hệ; - Các chu trình sinh địa hóa diễn ra trong hệ; - Sự phân hóa trong không gian và theo thời gian; - Các quá trình phát triển và tiến hóa của hệ; - Các quá trình tự điều chỉnh.

Một HST cân bằng là một hệ trong đó 4 quá trình đầu tiên đạt đƣợc trạng thái cân bằng động tƣơng đối với nhau. Sự cân bằng của tự nhiên, nghĩa là mối quan hệ của quần xã sinh vật với môi trƣờng vật lý mà quần xã đó tồn tại đƣợc xác lập và 5 c ít thay đổi từ năm này đến năm khác, chính là kết quả cân bằng của 4 chức năng nêu trên trong các HST lớn 46.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đa Dạng Hệ Sinh Thái Tại Khu Di Tích Mỹ Sơn, Quảng Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng sinh học trong khu vực di tích nổi tiếng này. Nghiên cứu không chỉ phân tích các loài thực vật và động vật mà còn đánh giá vai trò của chúng trong hệ sinh thái địa phương. Những thông tin này rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và những ai quan tâm đến bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các khía cạnh liên quan đến hệ sinh thái và bảo tồn, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Đánh giá tính đa dạng sinh học thực vật hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh, nơi cung cấp thông tin về sự đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái rừng ngập mặn. Ngoài ra, tài liệu Giải pháp quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng khu BTTN Ngọc Linh tỉnh Quảng Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chiến lược bảo tồn tài nguyên rừng. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu đa dạng cây thuốc ở khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ sẽ mang đến cái nhìn về giá trị của cây thuốc trong hệ sinh thái. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sự đa dạng sinh học và các biện pháp bảo tồn cần thiết.