Mở đầu Giới thiệu cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu, phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Giới thiệu cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, sự hài lòng trong công việc và sự gắn kết với tổ chức, cơ sở thực tiễn về CSR, các nghiên cứu liên quan, mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với sự hài lòng và sự gắn kết với tổ chức của người lao động, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu. Chƣơng 3: Thiết kế nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, phương pháp phân tích và xử lý số liệu. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả kiểm định thang đo, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết đưa ra của mô hình. Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý quản trị Tóm tắt kết quả nghiên cứu đạt được, hàm ý quản trị, trình bày những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo.
Tài liệu tham khảo Phụ lục TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày: (1) Cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, sự hài lòng trong công việc và sự gắn kết với tổ chức, (2) Cơ sở thực tiễn về CSR, (3) Các nghiên cứu liên quan, (4) Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã của doanh nghiệp với sự hài lòng trong công việc, (5) Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với sự gắn kết với tổ chức, (6) Mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc với sự gắn kết với tổ chức, (7) Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, sự hài lòng trong công việc và sự gắn kết với tổ chức. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”. CSR là một hiện tượng phức tạp như là một trong những quan niệm chính trong nghiên cứu về quan hệ kinh doanh và xã hội.
Sự phức tạp của nó ban đầu bắt nguồn từ sự khác biệt về bối cảnh quốc gia, văn hoá và xã hội cũng như là các loại hình doanh nghiêp khác nhau (Midttun, 2007). Theo nghĩa rộng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ mô tả các nhiệm vụ của các doanh nghiệp đối với xã hội, trong đó nhấn mạnh những vấn đề về tự nguyện và vượt xa sự tuân thủ. Do đó, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể được hiểu là "làm nhiều hơn mức bắt buộc phải làm theo quy định của luật pháp và các quy định về môi trường, an toàn và sức khoẻ lao động và các lợi ích cộng đồng" (Portney, 2008). Theo quan điểm của các đối thủ cạnh tranh, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chỉ là chiến lược quan hệ công chúng với mục đích "đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhận được sự công nhận trong cộng đồng và đánh giá doanh nghiệp họ là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 doanh nghiệp có trách nhiệm với cộng đồng " (Frankental, 2001).
Điều này được minh chứng bằng việc công nhận CSR như là một phương tiện để nâng cao hình ảnh và vị thế của một doanh nghiệp trên thị trường mà theo quan điểm của các nhà phê bình thì không nhất thiết phải mang lại những tác động tích cực lâu dài cho xã hội. Tất nhiên, có thể lập luận rằng động lực để tham gia vào CSR có thể được giải thích bởi mục đích quản lý danh tiếng, nhưng điều này đúng hơn là một vấn đề đối với các tổ chức lớn vì chúng ta thường có thể thấy được sự ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của các doanh nghiệp lớn hiện nay phát sinh từ những hành động tiêu cực của doanh nghiệp đối với môi trường và xã hội (O'Riordan và Fairbrass, 2008). Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có các nguồn lực để quản lý hình ảnh thương hiệu. Vì vậy, CSR không chỉ có lợi cho doanh nghiệp mà nó còn mang đến nhiều lợi ích cho các đối tượng hữu quan của doanh nghiệp.
Một trong những cách tiếp cận quan trọng đối với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có nguồn gốc từ lý thuyết của các bên liên quan đã được trình bày trong khuôn khổ các lý thuyết tổ chức (Freeman, 1984) và trong khuôn khổ đạo đức kinh doanh (Carroll, 1991). Đề xuất chính của các bên liên quan cho rằng giá trị lâu dài của một doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào kiến thức, năng lực và cam kết của nhân viên, mối quan hệ với các nhà đầu tư, khách hàng và các bên liên quan khác (Wheeler và Sillanpää, 1997). Nói cách khác, các bên liên quan đóng vai trò là người giữ gìn các nguồn lực mà các doanh nghiệp cần. Ví dụ, khách hàng quyết định có nên mua sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp hay không, cộng đồng địa phương quyết định có nên để doanh nghiệp tiếp tục các hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa phương hay không, và người lao động quyết định có chia sẻ những ý tưởng sáng tạo của họ với người sử dụng lao động.
Do đó, chất lượng mối quan hệ của doanh nghiệp với các bên liên quan có thể được coi là một chỉ báo về khả năng tiếp cận các nguồn lực có giá trị của tổ chức (Wheeler và cộng sự , 2001). Theo Carroll (1979) “CSR có thể được định nghĩa là đối xử với các đối tượng hữu quan của doanh nghiệp một cách có đạo đức hoặc theo một cách có trách nhiệm”. Theo Carroll (1991) “CSR là sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 đạo đức và lòng từ thiện của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Mô hình gồm bốn thành phần của CSR: Trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm từ thiện”.
Trách nhiệm kinh tế được định nghĩa là trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà xã hội muốn. Trách nhiệm pháp lý là đề cập đến các quy định của luật pháp mà doanh nghiệp cần tuân thủ trong quá trình hoạt động kinh doanh. Trách nhiệm đạo đức liên quan đến kỳ vọng xã hội hơn và trên những gì pháp luật yêu cầu. Trách nhiệm từ thiện là trách nhiệm của doanh nghiệp vượt xa sự mong đợi của xã hội.
Các thành phần trên tạo thành một mô hình kim tự tháp thể hiện qua hình 2.1 Mô hình kim tự tháp CSR của Carroll (Nguồn : Theo Carroll, 1991) Các tổ chức tham gia vào các hoạt động CSR được nhìn nhận tốt hơn các tổ chức không có CSR hoặc các chương trình CSR (Bhattacharya và cộng sự, 2009). Các hoạt động CSR có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Carroll & Shabana, 2010, Carroll, 2012, Calabrese và cộng sự, 2013). Ngày càng có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ của CSR với nhân viên và kết quả làm việc, thái độ / hành vi của họ (Valentine & Fleischman, 2008; Mueller và cộng sự, 2012; Hofman & Newman, 2014). Các hoạt động CSR đóng vai trò quan TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 trọng không kém đối với tổ chức bên ngoài (xã hội) và bên liên quan nội bộ (nhân viên).
Nhiều tổ chức tham gia vào các hoạt động CSR để cải thiện hình ảnh của họ trong xã hội trong khi nhiều tổ chức coi đây là một cách quan trọng để thu hút và giữ chân nhân viên giỏi (Bhattacharya và cộng sự, 2009). Họ lấy nhân viên làm khách hàng nội bộ và tin rằng sự thành công của tổ chức phụ thuộc vào động cơ và sự giữ chân nhân viên tài năng của họ. Tầm quan trọng của CSR đối với doanh nghiệp Theo nghiên cứu của Fang-Mei Tai và Shu-Hao Chuang cho thấy rằng “61% người tiêu dùng sẽ mua sản phẩm từ một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội hoặc sẽ chuyển đổi nhà cung cấp nếu chi phí và chất lượng bằng nhau ". CSR khi được định nghĩa trong một bối cảnh toàn diện, nhận thức của cổ đông sẽ được lượng hóa bên ngoài doanh nghiệp hoặc lợi tức đầu tư của nhà đầu tư “Trách nhiệm xã hội được định nghĩa là một khuôn khổ có thể đo lường được các chính sách và thủ tục của doanh nghiệp và kết quả được tạo ra để mang lại lợi ích cho người lao động, tổ chức và cộng đồng…”.
Do đó, CSR là quan trọng nhất khi góp phần tạo ra năng suất cao hơn và sự sáng tạo hơn. Nhiều người tin rằng cam kết của doanh nghiệp để trở thành doanh nghiệp toàn cầu được công nhận trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, khi đó sẽ bù đắp một số chi phí gây tổn hại cho doanh nghiệp. Niềm tin về lợi ích thực hiện CSR xuất phát từ người tiêu dùng liên quan đến khả năng mua hàng nhiều hơn và trung thành hơn với doanh nghiệp thực hiện tốt CSR. Điều quan trọng là không phải các doanh nghiệp đều có những sáng kiến về CSR như nhau.
Một thương hiệu định vị tốt CSR là tích hợp chiến lược CSR với chiến lược kinh doanh sẽ thành công hơn các thương hiệu chỉ tham gia vào CSR để gặt hái nhiều lợi ích cụ thể của CSR trong cảm nhận của người tiêu dùng. Hiện nay, các doanh nghiệp đang sử dụng CSR làm chiến lược tiếp thị để cải thiện sự hài lòng của khách hàng. Người tiêu dùng đang thực hiện hành vi mua hàng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 dựa trên danh tiếng xã hội và bảo vệ môi trường của doanh nghiệp. CSR đã thu hút sự chú ý của người tiêu dùng và nhận được nhiều cảm nhận tốt từ người tiêu dùng.
Theo Rana và các cộng sự, 2009, thông qua nghiên cứu CSR tại các doanh nghiệp chế biến thực phẩm đã chỉ ra rằng CSR là công cụ và phương thức hướng đến sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp. Chỉ số trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSRI) 2. Tổng quan về chỉ số trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSRI) Chỉ số trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSRI) nhằm đánh giá mức độ mà một doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm đối với xã hội.