Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Downloaded by vu hi (vuchinhhp6@gmail.com) lOMoARcPSD|22494228 7 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Chương này nhằm mục đích cung cấp những kiến thức quan trọng về TTCK, giá cổ phiếu, các lý thuyết nền tảng liên quan đến nội dung nghiên cứu và những nghiên cứu trước đây về tác động của đại dịch Covid-19 đến giá cổ phiếu.1 Các khái niệm về các nội dung nghiên cứu 1.1 Thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là thị trường mua bán, trao đổi các loại chứng khoán. Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển đổi vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.2 Cổ phiếu và giá cổ phiếu Cổ phiếu Theo thông tư 01/TT-UBCK ngày 13/01/1998 của Ủy ban chứng khoán Nhà nước: Cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần. Giá cổ phiếu Mệnh giá Theo Tiến sĩ Bạch Đức Hiển thì mệnh giá cổ phiếu thường hay còn gọi là giá trị danh nghĩa là giá trị mà công ty cổ phần ấn định cho một cổ phiếu và được ghi trên cổ phiếu.
Mệnh giá cổ phiếu chỉ có ý nghĩa quan trọng vào thời điểm công ty phát hành cổ phiếu thường, việc xác định mệnh giá của cổ phiếu thường dựa vào việc lấy vốn điều lệ của công ty chia cho số cổ phần đăng ký phát hành. Chính vì vậy mệnh giá cổ phiếu không có giá trị thực tế đối với nhà đầu tư, nên nó không liên quan đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Giá phát hành Downloaded by vu hi (vuchinhhp6@gmail.com) lOMoARcPSD|22494228 8 Khi công ty phát hành cổ phiếu (trên thị trường sơ cấp), công ty ấn định giá phát hành, hoặc tổ chức đấu giá. Giá phát hành có thể cao hơn hoặc bằng mệnh giá.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp do công ty làm ăn khó khăn, tình hình tài chính không tốt hoặc do kinh tế suy thoái, thì công ty có thể phát hành cổ phiếu thấp hơn mệnh giá. Thị giá Thị giá là giá trị thị trường của cổ phiếu, thị giá thay đổi hàng ngày. Giá thị trường được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường. Giá thị trường của cổ phiếu phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố vì vậy nó thường xuyên biến động.
Thư giá Thư giá (BVPS-Book value per share) hay còn gọi là giá trị sổ sách của cổ phiếu là giá trị của cổ phiếu được xác định dựa trên cơ sở số liệu của sổ sách kế toán của công ty. Giá trị thực (giá trị nội tại) Giá trị nội tại là khái niệm được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính. Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này. Giá trị nội tại có thể được hiểu là giá trị thực của một loại chứng khoán, khác với giá trị thị trường hay giá trị ghi sổ của loại chứng khoán đó.
Giá trị nội tại gồm các biến số khác như nhãn hiệu, thương hiệu, bản quyền…mà các biến số này rất khó tính toán, định lượng, đôi khi không được phản ánh một cách chính xác qua giá thị trường. Giá trị nội tại không có hình thức riêng để tự thể hiện như mệnh giá hay thị giá. Giá trị nội tại tồn tại một cách khách quan, không ai có thể áp đặt, kể cả người sở hữu nó. Cơ sở khách quan của giá trị nội tại là toàn bộ giá trị tài sản hữu hình và vô hình đang phát huy tác dụng của công ty phát hành.
Do đó, giá trị nội tại còn phản ánh tiềm lực của doanh nghiệp và là cơ sở kinh tế của thị giá. Thị giá tuy luôn biến động nhưng thường xoay quanh giá trị nội tại, không thể thoát ly quá xa, quá lâu giá trị nội tại.3 Vốn hóa thị trường Vốn hóa thị trường (Market Capitalization) là thước đo quy mô của doanh nghiệp, là tổng giá trị thị trường của doanh nghiệp, được xác định bằng số tiền bỏ ra để mua lại toàn bộ doanh nghiệp này trong điều kiện hiện tại. Giá trị vốn hóa thị trường Downloaded by vu hi (vuchinhhp6@gmail.com) lOMoARcPSD|22494228 9 tương đương với giá thị trường của cổ phiếu nhân với số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành. Chưa có một chuẩn mực nào cho việc phân loại doanh nghiệp theo giá trị vốn hóa thị trường, ở Mỹ người ta phân ra thành 6 nhóm sau: Mega Cap: trên 200 tỷ USD; Big/Large Cap: 10 đến 200 tỷ USD; Mid Cap: 2 đến 10 tỷ USD; Small Cap: 300 triệu đến 2 tỷ USD; Micro Cap: 50 triệu đến 300 triệu USD; Nano Cap: dưới 50 triệu USD.
Thông thường tại Việt Nam sẽ được chia thành 3 nhóm: Nhóm vốn hóa lớn (Largecap) có giá trị vốn hóa thị trường lớn hơn 10.000 tỷ đồng; nhóm vốn hóa vừa (Midcap) có giá trị vốn hóa thị trường từ 1.000 tỷ đồng đến 10.000 tỷ đồng; nhóm vốn hóa nhỏ (Smallcap) có giá trị vốn hóa thị trường từ 100 tỷ đồng đến 1.2 Các lý thuyết nền tảng 1.1 Lý thuyết tài chính hành vi Sayed Rasol Masomi và Sara Ghayekhloo (2010) cho rằng, tài chính hành vi là một lĩnh vực khoa học tập trung nhiều vào việc giải thích cảm tính và những sai lệch trong nhận thức của nhà đầu tư ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Lý thuyết tài chính hành vi là một lĩnh vực thuộc kinh tế học hành vi, đề xuất các lý thuyết dựa trên tâm lý học để giải thích sự kiện bất thường trên thị trường chứng khoán, chẳng hạn như sự tăng hoặc giảm giá cổ phiếu. Mục đích của tài chính hành vi là xác định và tìm hiểu lý do tại sao mọi người lại đưa ra lựa chọn tài chính nào đó. Tài chính hành vi giả định rằng, cấu trúc thông tin và đặc điểm của những người tham gia thị trường ảnh hưởng một cách có hệ thống đến các quyết định đầu tư cũng như kết quả thị trường.
Lý thuyết về “ Tài chính hành vi” được hình thành và phát triển bởi hai nhà tâm lý học người Mỹ là Kahneman và Tversky (1979). Theo nghiên cứu cho thấy, hành vi của nhà đầu tư được tiếp cận dựa trên các yếu tố: (1) Kinh nghiệm: Nhà đầu tư có thể đánh giá xác suất xảy ra một cách nhanh chóng những sự kiện trong tương lai. Tuy nhiên, trong một số trường hợp khó dự đoán và môi trường bên ngoài thay đổi thường xuyên thì nhà đầu tư sẽ đưa ra quyết định dựa vào những quy tắc, thường là những quy tắc đơn giản, dễ nhớ. (2) Sự lệch lạc về hành vi: Trong nghiên cứu của tác giả đã trình bày 4 nguyên nhân sau: - Nhà đầu tư quá tự tin khi đưa ra các quyết định do sự thiếu hiểu biết về mặt nhận thức.
Chính vì sự quá tự tin có khả năng dự đoán thị trường tốt nên nhà đầu tư không Downloaded by vu hi (vuchinhhp6@gmail.com) lOMoARcPSD|22494228 10 quan tâm đến việc đa dạng hóa danh mục đầu tư. Do đó, họ dễ bị ảnh hưởng bởi các biến động của thị trường. - Nhà đầu tư sẽ đầu tư dựa vào kinh nghiệm chứ không dựa trên sự phân tích kỹ thuật một cách thận trọng. - Các nhà đầu tư thường đầu tư dựa trên yếu tố cảm xúc.
Chỉ những nhà đầu tư nào làm chủ được cảm xúc của mình thì mới thành công vì lúc đó họ mới đưa ra được các quyết định phù hợp. - Các nhà đầu tư đầu tư dựa trên sự tương tác xã hội. Việc nhà đầu tư thực hiện đầu tư theo hành động của nhà đầu tư khác thay vì cần phải theo nguồn thông tin và chiến lược đầu tư của mình. Nhiệm vụ chính của tài chính hành vi là giải thích những hành vi bất thường của các nhà đầu tư tham dự thị trường.
Hành vi bất thường là những phản ứng của nhà đầu tư đối với các thông tin được cập nhật lên thị trường nhưng không theo những gì mà tài chính truyền thống đã lý giải. Lin (2010) cho rằng, tài chính hành vi giải thích tại sao nhà đầu tư tham dự thị trường lại mắc các lỗi hệ thống bất hợp lý, trái ngược với giả định nhà đầu tư tham dự thị trường là hợp lý.2 Lý thuyết kỳ vọng Đặng Văn Dân (2016) cho rằng, nhà đầu tư (NĐT) chứng khoán có khuynh hướng xem trọng khả năng bù đắp một khoản lỗ hơn là kiếm được nhiều lợi nhuận. Trong trường hợp khoản đầu tư có khả năng mang lại lợi nhuận, họ thích nắm chắc ngay khoản lợi nhuận hiện tại hơn là cố gắng tiếp tục đầu tư để thu được nhiều lợi nhuận hơn trong tương lai. Trong trường hợp ngược lại, khi khoản đầu tư có nguy cơ thua lỗ thì họ lại cố gắng duy trì với hy vọng tình hình sẽ khá hơn và có thể sinh lời trong tương lai bất chấp rủi ro thua lỗ nhiều hơn là rất lớn.
Căn cứ vào thông tin chiều hướng tích cực trên thị trường, các nhà đầu tư mua cổ phiếu và sẽ nhanh chóng tiến hành bán cổ phiếu đó khi giá tăng và đạt được lợi nhuận mong muốn mà không phân tích khả năng tăng thêm lợi nhuận. Bởi lẽ, họ tin rằng giá cổ phiếu hiện đã phản ánh đầy đủ thông tin kỳ vọng.3 Lý thuyết nhận thức rui ro Jacoby và Kaplan (1972) nhận thức rủi ro như là tổng của các nhận thức bất định bởi người tiêu dùng trong một tình huống mua hàng cụ thể, ông đã phân loại nhận thức rủi ro của người tiêu dùng thành 5 loại rủi ro là vật lý (physical), tâm lý (psychological), xã hội (social), tài chính (financial), thực hiện (performance) như sau: Bảng 1. Phân loại rui ro theo Jacob Jacoby và Leon B. Kaplan Các loại rủi ro Định nghĩa Downloaded by vu hi (vuchinhhp6@gmail.com) lOMoARcPSD|22494228 11 Tài chính Rủi ro mà sản phẩm không đáng giá tài chính Rủi ro mà sản phẩm sẽ có chất lượng/ hình ảnh thấp hơn Tâm lý mong đợi/ hình dung của khách hàng Rủi ro về sự an toàn của người mua hàng hay những Vật lý người khác trong việc sử dụng sản phẩm Thực hiện Rủi ro mà sản phẩm sẽ không thực hiện như kỳ vọng Rủi ro mà một sự lựa chọn sản phẩm có thể mang lại kết Xã hội quả bối rối trước bạn bè/ gia đình/ đồng nghiệp.