CHƯƠNG I: TỔNG QUAN I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA VIỆT NAM Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái Bình Dương, có một mạng lưới sông ngòi dày đặc. Nằm trong vùng nhiệt đới quanh năm có nhiệt độ cao và độ ẩm lớn, Việt Nam có nhiều loài thủy sản quý hiếm, nhiều loài có giá trị kinh tế cao. Mặt khác, lợi thế địa lý gần những thị trường tiêu thụ thủy sản lớn, có khả năng giao lưu hàng hóa bằng đường bộ, đường thủy, đường không rất thuận lợi đã tạo cho ngành thủy sản Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển.
NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM[6] I. Nguồn lợi thủy sản Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.260 km, phía Bắc có vịnh Bắc Bộ, phía Nam giáp vịnh Thái Lan và cả một vùng thềm lục địa rộng lớn khoảng hơn 1 triệu Km2. Điều kiện địa lý vùng biển và các mặt nước nội địa của Việt Nam đã tạo nên những vùng sinh thái khác nhau đối với các loài thủy sinh vật. Có thể chia thành 4 dạng môi trường sống cơ bản đối với các loài thủy sinh vật: Vùng nước mặn xa bờ, vùng nước mặn gần bờ, vùng nước lợ và vùng nước nội địa (vùng nước ngọt).
Theo các nghiên cứu khoa học, nguồn lợi hải sản Việt Nam có: 75 loài tôm, 25 loài mực, 7 loài bạch tuộc, 653 loài rong biển, trong đó rong kinh tế chiếm 14% (90 loài), san hô (loài san hô cứng) tạo rạn có 298 loài, thuộc 76 giống, 16 họ và trên 10 loài san hô sừng.100 loài, trong đó hơn 100 loài có giá trị kinh tế. Vùng nước mặn xa bờ Đây là vùng nước ngoài khơi thuộc vùng biển đặc quyền kinh tế. Mặc dù khu vực này chưa có nhiều nghiên cứu về nguồn lợi, nhưng những năm gần đây, hoạt động khai thác thủy sản đã diễn ra rất mạnh ở nhiều khu vực thuộc cả 5 vùng biển 3 khơi: Vịnh Bắc Bộ, Duyên hải Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và vịnh Thái Lan. Trên cơ sỡ tài liệu đã có kết hợp với phân tích thực tiễn khai thác các vùng khơi những năm gần đây có thể thấy rằng, nguồn lợi hải sản vùng xa bờ của Việt Nam nhìn chung không giàu, mức phong phú trung bình, độ sâu càng lớn, mật độ càng giảm và nguồn lợi hải sản cũng ít phong phú.
+ Các loài hải sản có giá trị kinh tế cao chỉ chiếm số lượng và tỉ lệ thấp. + Thành phần cá có giá trị kinh tế thấp (cá tạp) chiếm tỉ lệ cao. Thực tế đánh bắt cho thấy, ở miền Bắc lượng cá có thể xuất khẩu trong sản lượng khai thác xa bờ chỉ chiếm khoảng 5 – 15% sản lượng. Ở vùng biển miền Trung chỉ có một số loài cá lớn và mực có thể xuất khẩu.
Tại khu vực Đông và Tây Nam Bộ, lượng cá xuất khẩu được trong tổng sản lượng cũng chỉ chiếm 20% - 30%. Tỉ lệ cá có thể dùng trực tiếp làm thực phẩm cho nhu cầu trong nước chỉ đạt khoảng 50% sản lượng đối với vùng biển Bắc và Trung Bộ và 40% đối với biển Đông và Tây Nam Bộ. Lượng cá tạp trung bình thường chiếm khoảng 40%. Tổng hợp khả năng nguồn lợi biển Việt Nam bảng 1.
Vùng nước mặn gần bờ Là vùng sinh thái quan trọng nhất đối với các loài thủy sinh vật. Vùng này có nguồn thức ăn dồi dào do phù sa và các loại chất vô cơ cũng như hữu cơ hòa tan từ các cửa sông lạch đổ ra. Đó là nguồn thức ăn rất tốt cho các loài vi sinh vật bậc thấp và đến lượt mình chúng lại trở thành thức ăn cho tôm, cá. Vì vậy, vùng này là bãi sinh sản, cư trú, phát triển của nhiều loài thủy sản.
+ Vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nam Bộ là vùng sinh thái có sản lượng khai thác cao nhất, có thể chiếm tới 67% tổng lượng hải sản khai thác của Việt Nam. 4 + Vịnh Bắc Bộ với hàng nghìn hòn đảo tạo nên nhiều bãi triều quanh đảo, có thể nuôi các loài nhuyễn thể có giá trị như trai ngọc, vẹm xanh, vẹm nâu, hàu sông, hàu biển, bào ngư, sò huyết, sò long, ngao dầu, ngao mật,… Vùng nước gần bờ từ 30 mét nước sâu trở vào đối với Vịnh Bắc Bộ và vùng biển Đông, Tây Nam Bộ và từ 50 mét nước sâu trở vào đối với vùng biển Trung Bộ là vùng khai thác chủ yếu của nghề cá Việt Nam. Mặc dù vùng nước này chỉ chiếm diện tích gần 17% tổng diện tích thềm lục địa, nhưng đã phải chịu áp lực khai thác rất cao (chiếm 70% lượng hải sản khai thác toàn vùng biển). Vùng nước lợ Vùng nước lợ là vùng nước cửa sông, ven biển và vùng rừng ngập mặn, đầm, phá.
Nơi đây có sự pha trộn giữ nước biển và nước ngọt từ các dòng sông đổ ra. Do được hình thành từ hai nguồn nước nên diện tích vùng nước lợ phụ thuộc vào mùa (mưa hoặc khô) và thủy triều. Nồng độ muối vùng này luôn thay đổi. Đây là vùng giàu chất dinh dưỡng cho động, thực vật thủy sinh có khả năng thích nghi với điều kiện nồng độ muối luôn thay đổi, là nơi cư trú, sinh sản, sinh trường của tôm he, tôm nương, tôm rảo, tôm vàng, cá đối, cá vược, cá tráp, cá trai, cá bớp, cua biển,… Tổng diện tích mặt nước lợ có khả năng đưa vào nuôi trồng thủy sản khoảng 965.000 ha bao gồm vùng triều 873.000 ha, eo vịnh 92.
Đây là vùng môi trường sống cho nhiều loài thủy đặc sản có giá trị như tôm, rong câu, các loài cua, cá mặn lơ. Đặc biệt, rừng ngập mặn là bộ phận quan trọng của vùng sinh thái nước lợ, nơi hình thành nguồn thức ăn quan trọng từ thảm thực vật cho các loài động vật thủy sinh và nơi nuôi dưỡng chính cho ấu trùng giống hải sản. Vùng nước lợ vừa có ý nghĩa sản xuất, vừa có ý nghĩa không thay thế được trong việc bảo vệ và tái tạo nguồn lợi. Ở Đông Nam Á trong vùng rừng ngập mặn đã thống kê được có 230 loài giáp xác, 211 loài thân mềm, hàng trăm loài cá và động vật không xương sống khác.
Diện tích rừng ngập mặn ven biển Việt Nam giảm từ 400. Những năm gần đây, việc phá rừng ngập mặn làm ao tôm và lấy củi 5 đun đã làm mất đi hàng trăm hecta. Hiện diện tích rừng ngập mặn trong cả nước chỉ còn trên dưới 100. Ngoài ra, còn một số diện tích đất cát có thể sử dụng cho nuôi thủy sản, khoảng 20.000 ha, và một số vùng nước ven đảo và bãi ngang.
Các vùng nước lợ đang được huy động vào mục đích phát triển nuôi trồng thủy hải sản nhất là nuôi tôm và các loại cá có giá trị cao phục vụ xuất khẩu. Vùng nước ngọt Nước ta có những thủy vực tự nhiên rất rộng lớn thuộc hệ thống sông ngòi, có 2.360 con sông dài trên 10 Km, chảy theo hai hướng chính là Tây Bắc – Đông Nam và vòng cung và các kênh rạch chằng chịt, hệ thống hồ chứa tự nhiên và hồ chứa nhân tạo, hệ thống ao đầm nhỏ và ruộng trũng. Khí hậu nhiệt đới mưa nhiều luôn bổ sung nguồn nước cho các thủy vực. Khí hậu ấm áp làm cho các giống loài sinh vật có thể phát triển quanh năm.
Tuy nhiên, cho tới nay mới chỉ có 80% diện tích các ao, hồ nhỏ đã phát triển nuôi theo mô hình VAC, còn các mặt nước lớn như các dòng sông, các hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo, các vùng đất ngập nước, ruộng trũng chưa được sử dụng nhiều. Một số nơi đã bắt đầu khai thác những mặt nước này rất hiệu quả như hồ Trị An, vùng sông Tiền và sông Hậu của An Giang để nuôi những loài cá có giá trị cao cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa như cá basa, bống tượng…Điều đó cho thấy, tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản trong các thủy vực nước ngọt còn rất lớn. ĐẶC ĐIỂM THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG CỦA MỘT SỐ NHÓM THỨC ĂN GIA SÚC I. Thức ăn thủy sản[10] Gồm tất cả các sản phẩm chế biến từ nguyên liệu thủy sản như bột cá, bột đầu tôm,…Hầu hết thức ăn động vật đều giàu protein có chất lượng cao, có đủ các axitamin không thay thế, các nguyên tố khoáng cần thiết và một số vitamin quan trọng như B12, D, E…Tỷ lệ tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng trong thức ăn động vật rất cao.
Bột cá[2] Các dạng bột cá thường dùng được gọi tên theo mức đạm thô: Bột cá 40% đạm, bột cá 45% đạm, bột cá 60% đạm,…Gọi tắt là bột cá 40, bột cá 45 hay bột cá 60,…Dựa trên hàm lượng muối, bột cá được chia làm 2 loại: Bột cá mặn và bột cá lạt. Bột cá lạt là những loại có hàm lượng muối dưới 5% và đạm phải khoảng 50% trở lên. Bột cá tốt là nguồn cung cấp tuyệt hảo các protein cân đối nhưng thường giá cao so với các thực liệu khác nên thường chỉ được sử dụng trong các khẩu phần của heo, gà nhỏ khi cần nhiều protein chất lượng cao. Thông thường bột cá dùng cho gia súc được chế biến từ các loại cá thứ phẩm hoặc những phần bỏ của nhà máy chế biến thủy sản cho người.
Trên thế giới các nước sản xuất nhiều bột cá chất lượng cao là Peru, Chile, Ecuador, Mỹ, Nam Phi. Những loại cá thường được dùng sản xuất bột cá là cá trích, cá mòi, cá cơm. Ở Việt Nam sản xuất cũng chỉ đạt khoảng 55% đạm. Cùng với hàm lượng và chất lượng protein cao, bột cá còn là nguồn cung cấp rất tốt các chất khoáng (canci, phospho và khoáng vi lượng) và vitamin.
Bột cá cũng tạo độ ngon miệng cao cho thức ăn heo, gà. Các mô cơ của cá có nhiều amin tự do nên có mùi đặc trưng của cá. Khi sử dụng nhiều bột cá trong thức ăn heo, gà giai đoạn sắp xuất thịt sẽ tạo mùi cá. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra cho trứng gia cầm khi sử dụng thức ăn có nhiều bột cá.
Với thú nhai lại, bột cá được quan tâm sử dụng như một nguồn protein. Ngoài ra cá còn là một nguồn dinh dưỡng tốt cho con người do có nhiều acid béo omega-3. Một vài tác giả (Hulan và ctv, 1988, 1989) cho rằng sử dụng bột cá trong khẩu phần gia cầm có thể làm tăng đáng kể lượng acid béo omega-3 trong thịt hoặc trứng của gia cầm. Một vấn đề cần quan tâm khi sử dụng bột cá trong thức ăn là khả năng nhiễm vi sinh vật gây bệnh (Salmonnella, E.coli), hoặc nồng độ muối cao trong các loại bột cá mặn có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thú, nhất là thú non.