MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển nuôi trồng thủy sản. Bờ biển dài hơn 3.260 km, với 112 cửa sông, lạch là điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản nước lợ, nước mặn. Hệ thống sông ngòi, kênh rạch của nước ta rất đa dạng và chằng chịt, có tới 15 con sông có diện tích lưu vực từ 300 km2 trở lên.
Ngoài ra, còn hàng nghìn đảo lớn nhỏ nằm rải rác dọc theo đường biển là những khu vực có thể phát triển nuôi trồng thủy sản quanh năm. Trong vùng biển nước ta, có 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có những đảo lớn có dân cư như Vân Đồn, Cát Bà, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, có nhiều vịnh, vũng, eo ngách, các dòng hải lưu, vừa là ngư trường khai thác hải sản thuận lợi, vừa là nơi có nhiều điều kiện tự nhiên để phát triển nuôi trồng thủy sản biển và xây dựng các khu căn cứ hậu cần nghề cá. Bên cạnh điều kiện tự nhiên vùng biển, Việt Nam còn có nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt ở trong 2.860 con sông lớn nhỏ, nhiều triệu hecta đất ngập nước, ao hồ, ruộng trũng, rừng ngập mặn, đặc biệt là ở lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long (Theo Tổng cục thống kê ngành thủy sản năm 2022). Nuôi trồng thuỷ sản từ chỗ là một nghề sản xuất phụ, mang tính chất tự cấp tự túc đã trở thành một ngành sản xuất hàng hoá tập trung với trình độ kỹ thuật tiên tiến, phát triển ở tất cả các thuỷ vực nước ngọt, nước lợ, nước mặn theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường, hài hoà với các ngành kinh tế khác.
Với tổng diện tích có tiềm năng nuôi biển ở nước ta khoảng 500.000 ha, trong đó vùng bãi triều 153.300 ha; vùng vũng vịnh, eo ngách và ven đảo là 79.790 ha và vùng biển xa bờ gần 167.000 ha, diện tích còn lại là các hình thức nuôi khác. Giai đoạn 2010 - 2019, nuôi biển đã có những bước phát triển đáng kể, diện tích và sản lượng đã không ngừng tăng. Cụ thể, tổng diện tích nuôi biển năm 2010 đạt 38.800 ha, đến năm 2019 đạt trên 256.000 ha với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 23,3%/năm. Năm 2010, sản lượng nuôi biển chỉ đạt hơn 156.000 tấn, đến năm 2020 đạt gần 670.000 tấn (cá biển đạt 58.000 tấn, nhuyễn thể đạt 375.000 tấn, tôm hùm đạt 2.100 tấn, còn lại là các đối tượng khác), với tốc độ tăng trưởng bình quân 16%/năm [56].
Điều này giải quyết được vấn đề nguồn lợi và trữ lượng khai thác cá biển ngày càng giảm sút, đồng thời thể hiện vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi từ khai thác tài nguyên thiên nhiên sang nuôi trồng nói chung và nuôi biển nói riêng, góp phần tạo nguồn 10 nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu, làm tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu chung của ngành Thủy sản. Cá mú dẹt (cá song dẹt) (Epinephelus bleekeri) là một trong những loài thuộc họ Serranidae phân bố rộng các vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới. Được nuôi rộng rãi ở nhiều nước châu Á, như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Malaysia [52]. Ở Việt Nam cá mú dẹt phân bố từ vịnh Bắc Bộ đến vùng biển Khánh Hòa, sống chủ yếu ở vùng biển cạn, nơi có bờ đá và rạn san, độ mặn cao và ổn định.
Cá mú dẹt là một trong những đối tượng nuôi tiềm năng và rất quan trọng về mặt giá trị dinh dưỡng, giá cả thị trường và lợi ích kinh tế, là loại thực phẩm có giá trị kinh tế (250.000 vnđ/kg), chất lượng thịt cao kể cả mặt hàng tươi sống và đông lạnh. Cá mú dẹt có một số đặc điểm ưu việt như rộng muối, rộng nhiệt, phổ thức ăn rộng, có khả năng sinh trưởng tốt, thích nghi cao với sự biến động môi trường, đặc biệt nhiệt độ và độ mặn. Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ cá mú dẹt trên thị trường rất lớn dẫn đến tình trạng khai thác quá mức nguồn lợi tự nhiên. Sự suy giảm quần đàn ngoài tự nhiên và giá cả thị trường ngày càng cao dẫn đến nhu cầu nuôi cá mú dẹt ngày càng tăng.
Con giống sử dụng trong nuôi thương phẩm hiện nay chủ yếu khai thác ngoài tự nhiên và sản xuất giống nhân tạo. Tuy nhiên, nguồn giống khai thác ngoài tự nhiên đã dần cạn kiệt do việc khai thác quá mức, trong khi đó nguồn giống từ sản xuất nhân tạo còn chưa ổn định về số lượng do công nghệ còn chưa hoàn thiện. Chính vì vậy, năm 2005 Tổ chức Bảo tồn tự nhiên thế giới (IUCN) đã đưa cá mú dẹt vào Sách Đỏ nhằm bảo tồn và phát triển nguồn gen loài cá này. Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng thức ăn và chất bổ sung lên sinh trưởng, tỉ lệ sống và tỷ lệ dị hình của cá mú dẹt (Epinephelus bleekeri Vaillant, 1878)”.
Mục tiêu nghiên cứu Xác định được loại thức ăn và chất bổ sung phù hợp trong ương nuôi cá mú dẹt, góp phần từng bước hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá mú dẹt. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - Ý nghĩa khoa học Đề tài bổ sung một số kiến thức cơ bản về kỹ thuật ương nuôi cá mú dẹt làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu những đối tượng mới có đặc điểm tương đồng. 11 Đồng thời, kết quả của đề tài còn là nguồn thông tin khoa học quan trọng có thể được sử dụng trong giảng dạy và nghiên cứu. - Ý nghĩa thực tiễn Đề tài cung cấp một số thông tin kỹ thuật quan trọng trong ương nuôi cá mú dẹt từ giai đoạn cá hương lên cá giống, góp phần từng bước hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá mú dẹt.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Vị trí phân loại và một số đặc điểm sinh học, sinh thái của cá mú dẹt 1. Vị trí phân loại của cá mú dẹt Ngành: Chordata Lớp: Actinopterygii Bộ: Perciformes Họ: Epinephelidae Giống: Epinephelus Loài: Epinephelus bleekeri (Vaillant, 1878) Tên tiếng anh: Duskytail grouper Tên tiếng Việt: Cá song dẹt (miền Bắc), cá mú dẹt, cá mú tiêu (miền Nam) Hình 1.1: Cá mú dẹt Epinephelus bleekeri (Vaillant, 1878) 1. Đặc điểm hình thái Cá mú dẹt có thân thon dài, chiều cao của thân bằng 3,0 đến 3,5 lần chiều dài tiêu chuẩn (đối với cá có chiều dài tiêu chuẩn từ 11-52 cm).
Chiều dài đầu bằng 2,4 đến 2,7 lần chiều dài tiêu chuẩn. Vây lưng có 11 tia vây cứng và 16 đến 18 tia vây mềm, tia vây cứng thứ ba đến thứ năm dài nhất. Vây hậu môn có 3 tia vây cứng và 8 hoặc 9 (hiếm khi 9) tia vây mềm; vây ngực có 17 đến 19 tia vây; vây ngực có chiều dài bằng 1,6 đến 2,1 lần chiều dài đầu; chiều dài vây bụng bằng 1,9 đến 2,5 lần chiều dài đầu; vây đuôi cụt hoặc hơi lồi. Đường bên hoàn toàn, chạy dài đến 13 mút vây đuôi, vảy đường bên có 49 –53 vảy.
Màu sắc, đầu và thân màu nâu, nâu hồng hoặc màu tím nhạt, có nhiều chấm (trừ phần bụng) màu đỏ cam, vàng hoặc vàng; vây lưng và một phần ba trên của vây đuôi có những chấm giống như những chấm trên thân; 2/3 dưới của vây đuôi có màu sẫm, phần rìa phía trên có màu mờ nhạt điểm trên vây ngực, vây bụng và vây hậu môn có màu sẫm tối. Giai đoạn cá nhỏ (> 11 cm) có 7 vạch tối mờ ở mặt lưng trên cơ thể, hai cái đầu tiên ở gáy, cái cuối cùng ở đuôi, tất cả các vạch nhiều hơn hoặc ít hơn được phân cách bằng chấm đen, không có chấm đen trên đầu hoặc vây. Toàn bộ đầu (kể cả xương hàm trên) đều phủ vẩy tròn nhỏ [23]. Cá mú dẹt có thân hình thon dài, dẹt bên.
Chiều dài bằng 3-3,5 lần chiều cao. Thân có màu nâu sáng, phần bụng nhạt hơn phần lưng. Phía dưới vây đuôi và rìa vây hậu môn có màu rất đặc trưng, nâu hay nâu đậm. Kích cỡ lớn nhất là 76 cm, thông thường bắt gặp 30-50 cm.
Đặc điểm phân bố Hình 1.2: Vùng phân bố tự nhiên của cá mú dẹt Epinephelus bleekeri trên thế giới (nguồn fishbase) Cá mú dẹt chủ yếu phân bố ở Ấn Độ Dương - Tây Thái Bình Dương, từ vịnh Ba Tư đến Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia, Philippines, Thái Lan, bắc Australia [15]Ở Việt Nam cá mú dẹt chủ yếu phân bố từ vịnh Bắc Bộ đến biển Khánh Hòa. Cá mú dẹt phân bố rất rộng, tập trung nhiều ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới. Sống chủ yếu ở vùng biển cạn, nơi có bờ đá và rạn san hô, độ mặn cao và ổn định [33] 14 1. Tập tính và môi trường sống Cá mú dẹt là loài sống ở vùng gần bờ, các khu vực lân cận có nền đáy mềm cũng như ở các rạn san hô ven biển và cửa sông ở độ sâu 30 –105 m.
Cá mú dẹt là một trong những loài khá thích nghi tốt với sự biến đổi của điều kiện môi trường. Các yếu tố chủ yếu như hàm lượng oxy hòa tan (DO) thích hợp cho cá sinh trưởng là khoảng 4 – 8 mg/L; pH cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cá, khoảng thích hợp từ 7 – 9 [25] Yếu tố nhiệt độ cũng cần được quan tâm vì nó ảnh hưởng đến hô hấp của cá, đến độ hòa tan oxy trong nước. Khả năng chịu đựng nhiệt độ của cá từ 20 - 350C, nhưng giới hạn thích hợp cho sự sinh trưởng phát triển của cá song dẹt nằm trong khoảng từ 27 - 290C. Ở nhiệt độ 180C, cá bắt đầu có biểu hiện ít ăn và gần như ngưng hoạt động khi nhiệt độ xuống thấp dưới 150C.
Đây cũng là loài rộng muối có khả năng chịu mặn trong khoảng 14 - 40‰, khoảng từ 30 - 32‰ là thích hợp nhất cho sự sinh trưởng [15]. Đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng Cũng như các loài cá mú trong họ Epinephelinae cá mú dẹt là loài cá dữ, chủ yếu ăn động vật như: giáp xác, động vật không xương sống, cá con,… Cá mới nở ăn động vật phù du (luân trùng, Artemia,…), có hiện tượng cá ăn thịt lẫn nhau. Cá thường bắt mồi cả ngày lẫn đêm nhưng mạnh nhất là vào sáng sớm và chiều tối. Cá rình và bắt mồi bằng cỡ miệng cực lớn để nuốt trọn con mồi.
Cá mú dẹt là loài có tốc độ sinh trưởng chậm, ban đầu cá sinh trưởng chậm và sinh trưởng nhanh khi cá đạt khối lượng 500 g, sau đó tốc độ sinh trưởng chậm lại khi cá đạt kích cỡ 2 kg. Ở giai đoạn cá giống, sinh trưởng về chiều dài lớn hơn cá trưởng thành nhưng đến giai đoạn cá trưởng thành thì sự sinh trưởng về khối lượng lại lớn hơn.