Luận văn nghiên cứu một số bệnh truyền nhiễm trên cá rô phi nuôi thương phẩm trong hệ thống khách hàng của trung tâm đào tạo nghiên cứu và phát triển thuỷ sản trường đại học nông lâm thái nguyên

Nghiên cứu bệnh truyền nhiễm trên cá rô phi nuôi tại Trung tâm Đào tạo Nghiên cứu và Phát triển Thuỷ sản Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2020

57
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu yêu cầu

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học

2.2. Một số đặc điểm sinh học của cá rô phi

2.3. Bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp.

2.4. Bệnh do virus TiLV

2.5. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.5.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.5.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2. Địa điểm nghiên cứu và thời gian tiến hành

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.3.1. Ðiều tra tình hình cá rô phi bị bệnh

3.3.2. Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của vi khuẩn, virus phân lập được

3.3.3. Nghiên cứu biện pháp phòng trị

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Chọn mẫu điều tra

3.4.2. Nội dung điều tra, theo dõi. Các phương pháp đo lường trong dịch tễ

3.4.3. Phương pháp thu mẫu bệnh phẩm

3.4.4. Phương pháp nuôi cấy phân lập vi khuẩn

3.4.5. Xây dựng phác đồ điều trị cá rô phi mắc bệnh xuất huyết

3.4.6. Phương pháp xử lý số liệu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Kết quả điều tra cá rô phi mắc bệnh và chết do qua các tháng trong hệ thống khách hàng của trung tâm thuỷ sản

4.2. Kết quả điều tra cá rô phi mắc và chết do xuất huyết ở các kích cỡ

4.3. Kết quả phân lập tác nhân gây bệnh trên cá rô phi nuôi

4.4. Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với một số kháng sinh của chủng vi sinh vật phân lập được theo kết quả xét nghiệm của trung tâm chẩn đoán thú y trung ương

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh truyền nhiễm trên cá rô phi

Bệnh truyền nhiễm trên cá rô phi là một vấn đề nghiêm trọng trong nuôi thương phẩm, đặc biệt tại Trung tâm Đào tạo, Nghiên cứu và Phát triển Thủy sản thuộc Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Các bệnh chủ yếu do vi khuẩn, virus, nấm và ký sinh trùng gây ra, trong đó Streptococcus spp.TiLV là hai tác nhân chính. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tình hình dịch bệnh, phân tích nguyên nhân và đề xuất biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

1.1. Đặc điểm sinh học của cá rô phi

Cá rô phi là loài cá nước ngọt có nguồn gốc từ Châu Phi, được nuôi phổ biến tại hơn 100 quốc gia. Chúng có khả năng thích nghi cao với môi trường, từ nước ngọt đến nước lợ, và chịu được nhiệt độ từ 25-30°C. Cá rô phi là loài ăn tạp, có tốc độ sinh trưởng nhanh, đặc biệt là dòng Oreochromis niloticus. Tuy nhiên, khi nuôi với mật độ cao, cá dễ bị nhiễm bệnh, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thực phẩm.

1.2. Tình hình dịch bệnh trên cá rô phi

Theo thống kê, bệnh truyền nhiễm do Streptococcus spp.TiLV đã gây thiệt hại lớn cho ngành nuôi trồng thủy sản. Tại Việt Nam, dịch bệnh do Streptococcus spp. đã gây chết hàng loạt cá rô phi nuôi thương phẩm ở các tỉnh phía Bắc. TiLV cũng được phát hiện ở nhiều vùng nuôi, với tỷ lệ nhiễm bệnh lên đến 22.6%. Các bệnh này thường xảy ra vào mùa hè, khi nhiệt độ nước cao và mật độ nuôi dày.

II. Phương pháp nghiên cứu và kết quả

Nghiên cứu được thực hiện tại các hộ nuôi và doanh nghiệp thuộc hệ thống khách hàng của Trung tâm Đào tạo, Nghiên cứu và Phát triển Thủy sản. Các phương pháp bao gồm điều tra tình hình bệnh, phân lập tác nhân gây bệnh và xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh. Kết quả cho thấy tỷ lệ cá mắc và chết do bệnh truyền nhiễm cao, đặc biệt ở các kích cỡ lớn.

2.1. Điều tra tình hình bệnh

Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ cá mắc bệnh và chết cao nhất tại huyện Đại Từ, với tỷ lệ lên đến 90% ở một số ao nuôi. Các triệu chứng phổ biến bao gồm cá bơi lờ đờ, xuất huyết, lồi mắt và sưng ruột. Streptococcus spp.TiLV được xác định là hai tác nhân chính gây bệnh.

2.2. Phân lập và xác định tác nhân gây bệnh

Các mẫu bệnh phẩm được thu thập và phân lập tại phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy Streptococcus agalactiaeStreptococcus iniae là hai chủng vi khuẩn phổ biến. TiLV cũng được phát hiện ở nhiều mẫu cá bệnh. Khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn được đánh giá, giúp xây dựng phác đồ điều trị hiệu quả.

III. Biện pháp phòng ngừa và điều trị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các biện pháp phòng ngừa và điều trị bệnh truyền nhiễm trên cá rô phi được đề xuất. Phương pháp phòng bệnh chủ yếu tập trung vào quản lý môi trường nuôi, kiểm soát mật độ và bổ sung dinh dưỡng. Điều trị bệnh bao gồm sử dụng kháng sinh phù hợp và các biện pháp hỗ trợ khác.

3.1. Phòng bệnh

Các biện pháp phòng bệnh bao gồm cải tạo ao nuôi định kỳ, kiểm soát chất lượng nước và bổ sung vitamin C vào thức ăn. Việc chọn giống khỏe mạnh và vận chuyển cẩn thận cũng giúp giảm nguy cơ nhiễm bệnh. Quản lý bệnh hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp giữa người nuôi và các cơ quan chuyên môn.

3.2. Điều trị bệnh

Điều trị bệnh do Streptococcus spp.TiLV gây ra bao gồm sử dụng kháng sinh như SulphamidKN-O4-12. Liều lượng và thời gian điều trị được điều chỉnh dựa trên tình trạng bệnh. Sau điều trị, việc sử dụng men vi sinh giúp ổn định hệ vi khuẩn đường ruột của cá.

IV. Kết luận và đề xuất

Nghiên cứu đã cung cấp cái nhìn toàn diện về bệnh truyền nhiễm trên cá rô phi tại Trung tâm Đào tạo, Nghiên cứu và Phát triển Thủy sản. Các kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao, giúp cải thiện hiệu quả nuôi trồng và giảm thiểu thiệt hại do dịch bệnh. Đề xuất tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về vaccine phòng bệnh và các biện pháp quản lý bệnh hiệu quả.

01/03/2025
Luận văn nghiên cứu một số bệnh truyền nhiễm trên cá rô phi nuôi thương phẩm trong hệ thống khách hàng của trung tâm đào tạo nghiên cứu và phát triển thuỷ sản trường đại học nông lâm thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Cá rô phi là đối tượng được nuôi phổ biến ở nhiều quốc gia với các hình thức nuôi khác nhau. Trong đó hình thức nuôi thâm canh với mật độ cao, sản lượng lớn là phổ biến nhất. Với những ưu điểm như cá ít bị sốc với biến đổi của môi trường và có khả năng kháng được một số bệnh, thức ăn không đòi hỏi chất lượng quá cao, giá thành sản xuất thấp nên các quốc gia đang phát triển đặc biệt chú trọng đến phát triển nuôi loài cá này. Theo thống kê của Tổng cục Thủy sản năm 2015, tổng sản lượng cá rô phi các vùng trên cả nước là 187.800 tấn, diện tích đạt 25.465 m3 lồng nuôi, giá trị ước đạt 4.200 tỷ đồng, tương đương 200 triệu USD, chiếm khoảng 3% giá trị nuôi trồng thủy sản.

Xuất khẩu cá rô phi năm 2015 hơn 27,5 triệu USD, với hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ trong khi tiêu thụ cá rô phi tại thị trường nội địa tiếp tục phát triển với khoảng 160 nghìn tấn. Tuy nhiên, khi phát triển nuôi cá rô phi với mật độ cao và nuôi thâm canh thì cũng phát hiện một số bệnh ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thực phẩm. Qua nghiên cứu, người ta đã chỉ ra rằng bệnh ở cá rô phi chủ yếu là do vi khuẩn, virus, nấm, và ký sinh trùng (Shoemaker và cs. Đặc biệt là bệnh do do vi khuẩn Streptococcus spp.

(liên cầu khuẩn) gây ra là nguyên nhân gây nên thiệt hại lớn cho cá rô phi nói riêng và cá nước ngọt nói chung, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của ngành nuôi trồng thủy sản. Theo thống kê thì liên cầu khuẩn gây bệnh trên cá chủ yếu là hai loài Streptococcus iniae và Streptococcus agalactiae. Ở Việt Nam năm 2009 - 2010, đã xảy ra dịch bệnh gây chết hàng loạt cá rô phi nuôi thương phẩm (tới 90 - 100% cá trong ao), tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Quảng Ninh và Hà m 2 Giang. Đây được coi là đợt dịch lớn nhất từ trước đến nay đối với nghề nuôi cá rô phi ở nước ta và nghiên cứu bước đầu đã xác định được đây là bệnh Streptococcosis do liên cầu khuẩn Gram (+) Streptococcus spp gây ra (Nguyễn Viết Khuê và cs.

Theo Cục Thú y, kết quả giám sát tiến hành trên 163 mẫu cá rô phi có hiện tượng bất thường (cá chết hoặc có bệnh tích) tại một số tỉnh phía Bắc cho thấy: đã có 46/163 mẫu dương tính với bệnh TiLV, chiếm tỷ lệ 22,6%. Cá rô phi giống và cá thương phẩm đều phát hiện nhiễm TiLV. Các tỉnh được khuyến cáo về nguy cơ bùng phát bệnh do virus TiLV gây ra là Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Thái Nguyên, Thái Bình, Bắc Ninh và Tiền Giang. Xuất phát từ tình hình dịch bệnh thực tế của các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi cá Rô phi trong nước ngày càng phát triển, việc nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm trên cá rô phi là một vấn đề cần thiết và cấp bách.

Các kết quả có được từ nghiên cứu sẽ giúp hiểu rõ hơn về tình hình nhiễm bệnh trong hệ thống khách hàng của trung tâm thuỷ sản - Trường Đại học Nông Lâm để trung tâm có những kế hoạch sản xuất trong những năm tiếp theo thành công. Được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Lê Minh Châu, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số bệnh truyền nhiễm trên cá rô phi nuôi thương phẩm trong hệ thống khách hàng của trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thuỷ sản - trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục tiêu yêu cầu 1. Mục tiêu - Đánh giá được tình hình mắc bệnh xuất huyết xảy ra trên cá rô phi trong hệ thống khách hàng của trung tâm thuỷ sản - Trường Đại học Nông Lâm.

Điều tra bám sát thực tế, phân tích tình hình dịch bệnh, tiến hành chẩn trị bệnh xảy ra trên đàn cá nuôi. m 3 Đề xuất những biện pháp phòng và chữa bệnh ở cá rô phi có tính khả thi, phù hợp. Yêu cầu - Xác định được tỷ lệ cá mắc và chết tại các hộ sản xuất, doanh nghiệp (khách hàng) của trung tâm thuỷ sản. - Xây dựng, đưa ra được phác đồ điều trị phù hợp nhất.

- Chủ động, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ mà cơ sở phân công. m 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2. Một số đặc điểm sinh học của cá rô phi 2.

Phân loại Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi, hiện chúng được nuôi tại hơn 100 quốc gia trên thế giới. Dựa vào đặc điểm sinh sản và hình thái học người ta chia cá rô phi thành 3 giống (Trewavas, 1983) [40]: giống Tilapia đẻ trứng bám vào giá thể; Giống Sarotherodon cá đực hay cá cái ấp trứng trong miệng; Giống Oreochromis cá cái ấp trứng trong miệng. Hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 80 loài cá rô phi dòng Cichlidae nhưng chỉ có khoảng 10 loài có giá trị kinh tế trong nuôi trồng thủy sản (Macintosh và Little, 1995) [29]. Hệ thống phân loại cá rô phi đơn tính dòng Đường nghiệp như sau: Bộ cá vược: Perciforms Bộ phụ: Percoidae Họ: Cichlidae Giống: Oreochormis Loài: Con lai F1 giữa loài cá rô phi O.

niloticus (cá mẹ) có nguồn gốc Đài Loan. Đặc điểm hình thái Cá rô phi đơn tính Đường nghiệp có thân hình màu hơi tím, vẩy sáng bóng, có 9 - 12 sọc đậm song song nhau từ lưng xuống bụng. Vây đuôi có màu sọc đen sậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bố khắp vây đuôi. Vây lưng có những sọc trắng chạy song song trên nền xám đen.

Viền vây lưng và vây đuôi có màu hồng nhạt. Đặc điểm môi trường sống và tập tính dinh dưỡng Rô phi là loài cá có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, nên khả năng thích nghi với nhiệt độ cao tốt hơn nhiệt độ thấp. Nhiệt độ thích hợp cho cá sinh trưởng, phát triển là 25 - 30°C. Rô phi là loài cá có nguồn gốc nước ngọt, nhưng chúng có khả năng sống và phát triển trong môi trường nước lợ, mặn có nồng độ muối tới 35‰.

Khả năng thích ứng với độ mặn của mỗi loài đều khác nhau. niloticus có ngưỡng muối thấp nhất và loài có ngưỡng muối cao nhất là T. Cá rô phi có thể sống trong môi trường nước có hàm lượng oxy hòa tan thấp tới 1mg/l nhưng không thể kéo dài khi hàm lượng oxy dưới 0,7mg/l (Balarin và Haller, 1982) [13]. Khả năng chịu Amoniac tới 2,4mg/l.

Cá rô phi có khả năng sống trong môi trường nước có biên độ pH rất rộng 5 - 11, nhưng thích hợp nhất là 6,5 - 8,5. Cá Rô phi chết ở khoảng dao động của pH = 3,5 hay pH > 12 sau 2 - 3 giờ, theo Philipart và Ruwet (1982) [34]. Rô phi là loài cá ăn tạp, khi còn nhỏ cá ăn sinh vật phù du thủy sinh là chủ yếu, 20 ngày tuổi (17 - 18mm) cá chuyển dần sang thức ăn như cá trưởng thành. Cá trưởng thành ăn mùn bã hữu cơ, tảo các loại, ấu trùng, côn trùng, sinh vật đáy, phù du sinh vật, thực vật thượng đẳng loại mềm, phân hữu cơ,… Ngoài ra, trong ao nuôi có thể cho thêm thức ăn bổ sung như cám gạo, bột ngô và các phụ phẩm nông nghiệp khác.

Đặc biệt cá rô phi có thể sử dụng rất hiệu quả thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế biến (Balarin và Haller, 1982) [13]. Đây là một đặc điểm giúp cho việc nuôi cá rô phi thâm canh đạt năng suất cao. Với những đặc điểm ưu việt đó cá rô phi được phân bố và ương nuôi khá rộng rãi trong các vùng miền của nước ta. Tốc độ sinh trưởng Cá rô phi đơn tính dòng Đường Nghiệp có tốc độ tăng trưởng trung bình cao khoảng 125 - 142g/con/tháng, gấp 1,4 - 1,6 lần rô phi đơn tính dòng Gift, m 6 năng suất đạt khoảng 20 tấn/ha.

Có thời gian nuôi ngắn, hệ số tiêu tốn thức ăn thấp, ít bị phân đàn thuận lợi cho quá trình chăm sóc, quản lý và thu hoạch. Sự sinh trưởng của cá rô phi mang tính đặc trưng của loài, các loài rô phi khác nhau có tốc độ sinh trưởng khác nhau. niloticus có tốc độ tăng trưởng nhanh và vượt trội so với loài O. mossambicus (Nguyễn Văn Hảo và cs.

Cá rô phi loài O. niloticus có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất sau đó đến O. Bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp. Bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp.

gây ra không chỉ trên cá rô mà còn trên nhiều loài cá từ nước ngọt như cá trắm cỏ, cá tra, basa, đến các loài cá nước lợ như cá bớp và các loài cá nước mặn như cá Song, cá Chẽm, cá Giò và cá Hồng Mỹ. Ở Việt Nam, dịch bệnh hường xảy ra với tỉ lệ cá chết rất cao vào các tháng cuối xuân - đầu hè và cuối hè - đầu thu. Tại các thời điểm khác trong năm cá chết rải rác, ngoại trừ những tháng mùa đông lúc nhiệt độ nước xuống thấp nhất ở các nước ôn đới không thấy xuất hiện bệnh. Về độ tuổi cá thường có bệnh, hầu hết các báo cáo đề cập bệnh xảy ra trong giai đoạn nuôi thương phẩm.

Cá bị bệnh thường có các triệu chứng như cá bơi lờ đờ, mất định hướng, trướng bụng, xuất huyết, lồi mắt, sưng ruột, các cơ quan nội tạng như gan, thận, lá lách bạc màu hoặc xuất huyết, sưng to. Đặc biệt vi khuẩn tấn công niêm mạc mắt và não cá làm cho cá bơi không định hướng và có dấu hiệu tổn thương thần kinh. Bệnh thường xảy ra vào mùa hè đặc biệt khi khi nhiệt độ nước cao. Đối với mùa đông và mùa xuân, mật độ vi khuẩn thường thấp và không đủ ngưỡng gây bệnh.

Tác nhân gây bệnh quan trọng trên cá rô phi thường là vi khuẩn, virus hoặc protozoa. trong đó đáng chú ý nhất là bệnh do vi khuẩn mà đặc biệt là Streptococcus agalactiae và Streptococus iniae. m 7 Vi khuẩn Streptococus iniae và Streptococus agalactiae có thể tồn tại ngoài môi trường quanh năm. Vi khuẩn gây bệnh có thể phân lập được từ nguồn đất, chất hữu cơ lắng tụ, chất nhầy của cá.

Vi khuẩn phát triển của ở 37°C và độ mặn 37‰, có khả năng sống sót tốt trong nước ao và bùn đáy từ 3 - 5 ngày ở hai mức nhiệt độ 25°C và 30°C. * Triệu chứng và bệnh tích của cá rô phi khi nhiễm Streptoccocus spp. - Triệu chứng: Hành vi bất thường: Cá bị bệnh có triệu chứng chung khá điển hình trên nhiều loài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu bệnh truyền nhiễm trên cá rô phi nuôi thương phẩm tại Trung tâm Đào tạo Nghiên cứu và Phát triển Thuỷ sản Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc phân tích các bệnh truyền nhiễm ảnh hưởng đến cá rô phi trong mô hình nuôi thương phẩm. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về các loại bệnh phổ biến mà còn đề xuất các giải pháp quản lý và phòng ngừa hiệu quả, giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm thủy sản. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nông dân và doanh nghiệp trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý và phát triển nông nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế một số giải pháp tăng cường công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh thái nguyên đến năm 2025, nghiên cứu này tập trung vào việc nâng cao hiệu quả quản lý các công trình thủy lợi, một yếu tố quan trọng trong nuôi trồng thủy sản. Ngoài ra, Luận văn ảnh hưởng của đô thị hoá đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện phổ yên tỉnh thái nguyên giai đoạn 2008 2010 cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của đô thị hóa đến đất nông nghiệp, một vấn đề liên quan mật thiết đến phát triển bền vững. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quy hoạch và quản lý tài nguyên nước nghiên cứu quan hệ quy tắc hiệu quả phân phối nước và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phân phối nước hệ thống thủy lợi tân yênbắc giang sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý nguồn nước, một yếu tố không thể thiếu trong nuôi trồng thủy sản.

Mỗi tài liệu trên đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh liên quan đến nông nghiệp và thủy sản, từ đó mở rộng kiến thức và áp dụng hiệu quả vào thực tiễn.