Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. BỆNH CÚM GIA CẦM VÀ VIRUS CÚM A/H5N1 1. Bệnh cúm gia cầm và dịch bệnh cúm A/H5N1 Cúm gia cầm (Avian Influenza, AI) là bệnh truyền nhiễm cấp tính của gia cầm, do nhóm virus cúm A thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra [38]. Đây là nhóm virus có biên độ rộng, được phân chia thành nhiều phân type khác nhau dựa trên kháng nguyên HA và NA có trên bề mặt capsid của hạt virus.
Nhóm virus cúm A có 16 phân type HA (từ H1 đến H16) và 9 phân type NA (từ N1 đến N9) và sự tái tổ hợp giữa các phân type HA và NA sẽ tạo ra nhiều phân type khác nhau về độc tính và khả năng gây bệnh [42]. Virus cúm A H5N1 có độc lực cao và gây bệnh trên người vào những năm 1996-2008 [106]. Chủng virus cúm A H5N1 được phát hiện lần đầu tiên gây bệnh dịch trên gà tại Scotland vào năm 1959. Sau đó, cúm A H5N1 đã tái xuất hiện tại Quảng Đông 1996 và Hồng Kông (1997) với sự biến đổi sâu sắc, không những gây chết gia cầm mà còn thích ứng trên người và gây chết người bệnh [142].
Năm , virus H5N1 gây ra dịch cúm trên gia cầm tại Hồng Kông, Trung Quốc và lây lan sang hàng chục quốc gia ở châu Á, châu Âu và châu Phi, trong đó có Việt Nam. Cấu trúc virus cúm A/H5N1 vẫn như trước đó, nhưng xét về độc lực, loài vật chủ nhiễm bệnh, tính kháng nguyên- miễn dịch và mức độ truyền lây có nhiều nét đặc trưng hơn và khác với những biến chủng H5N1 trước đây. Các chủng virus cúm A/H5N1 thuộc phân dòng Thanh Hải (nguồn gốc vùng Bắc Trung Quốc) xuất hiện cuối năm 5, bắt đầu lan sang một số nước vùng Trung Á, Nga rồi tràn ngập vào các nước 6 vùng Tây Á, bao gồm cả Thổ Nhĩ ỳ, các nước Bắc-Trung Phi, trong đó Ai Cập và Nigeria là các nước chịu thiệt hại nhiều nhất [25]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới WHO đến tháng 1 , đã có tới 6 trường hợp mắc cúm A H5N1, trong đó có 1 trường hợp đã tử vong, chiếm 59,65%.
Trong đó quốc gia có số người mắc bệnh và số tử vong cao là các nước Ai cập, Indonesia và Việt Nam. Kết quả điều tra dịch tễ học cho thấy, hầu hết những ca nhiễm cúm gia cầm H5N1 trên người đều có liên quan đến tiếp xúc với gia cầm bị bệnh hoặc trung gian qua thực ph m chế biến từ gia cầm bị bệnh hoặc qua tiếp xúc trực tiếp như giết mổ, vận chuyển, mua bán gia cầm. Việt Nam được WHO xác định là quốc gia “điểm nóng” do virus cúm A H5N1 có các điều kiện thuận lợi để tiến hóa thích nghi lây nhiễm và trở thành virus của người. Ở Việt Nam, đại dịch bùng phát từ năm , đã tái phát qua bốn đợt dịch.
Đợt thứ nhất xảy ra ở 57 tỉnh, thành phố; đợt dịch thứ tư gần đây nhất xảy ra ở 21 tỉnh, thành phố, đã tiêu hủy trên 50 triệu gia cầm các loại, thiệt hại lên đến hàng ngàn tỷ đồng [9]. Qua điều tra dịch tễ, các trường hợp nhiễm cúm A/H5N1 trên người được ghi nhận đồng thời với thời điểm có dịch cúm trên gia cầm. Mặc dù số ca nhiễm ít nhưng tỷ lệ tử vong rất cao 59%) và chi phí điều trị rất tốn kém, do vậy biện pháp tốt nhất là dự phòng để tránh mắc bệnh [7]. Đặc tính của virus cúm A/H5N1 Virus cúm A/H5N1 mẫn cảm với nhiệt độ, với các dung môi hòa tan lipid, với các loại hóa chất sát trùng và oxy hóa, với formaldehyde và với các tia phóng xạ.
Các hạt virus tồn tại trong pH từ 6,5 đến ,9. Trong điều kiện quá acid hoặc quá kiềm đều làm giảm khả năng lây nhiễm. Virus A/H5N1 bị bất hoạt dưới ánh sáng trực tiếp sau 40 giờ, tồn tại được 15 ngày ánh sáng 7 thường, tia tử ngoại bất hoạt được virus nhưng không phá hủy được kháng nguyên của virus. Tuy nhiên, virus bị phá hủy hoàn toàn ở 100oC hoặc 30 phút ở 60oC, tồn tại 3 tháng ở nhiệt độ thấp (trong phân gia cầm), và hàng năm ở -70 oC.
Trong phủ tạng gia cầm (40oC) tồn tại được 25- ngày, nhưng trong cơ thể người (37oC) chỉ sống được 7-8 ngày, còn ở nước 30oC tồn tại được 4 ngày [24] [26] [75]. Về mặt dịch tễ học, virus cúm A có nhiều biến chủng khác nhau. Hemagglutinin mới, dạng thứ 16 H16 , được tìm thấy năm 5 từ con mòng biển đầu đen. Trình tự H16 có độ tương đồng cao với H13 [25] [32].
Các phân type gây nhiễm cho hầu hết các loài sinh vật bao gồm loài người, các loài lông vũ gà, thủy cầm), lợn, ngựa, chim, chồn đất, hải c u, cá voi. Chúng thích ứng hầu hết với mọi loại vật chủ và hệ gen luôn luôn biến đổi, định kỳ gây nên những vụ dịch cúm kinh hoàng trong lịch sử ở động vật và người [140]. Do đặc tính biến đổi gen nhanh chóng và trao đổi gen để tái tổ hợp tạo biến thể mới lan truyền trong quần thể sinh vật, cúm A là nhóm virus nguy hiểm truyền bệnh từ động vật sang người .Virus A/H5N1 được coi là loại biến chủng có mức độ độc lực cao nhất đối với các loài động vật và người, có nhiều minh chứng khoa học cho thấy chủng này bắt nguồn từ H6N2 hoặc và trao đổi gen thông qua H9N2 trên lợn [77]. Về danh pháp, để ký hiệu và lưu trữ một cách khoa học và đầy đủ, các chủng virus cúm sau khi phân lập phải được ký hiệu theo danh pháp quy định với trật tự như sau: tên serotype/loài bị nhiễm nơi phân lập/số hiệu chủng/thời gian phân lập/loại hình subtype (HA (H) và NA (N)) [35][25].
Ví dụ: virus cúm có ký hiệu A/chicken/Vietnam/HG4/ 2005(H5N1) có thông tin về danh pháp là cúm nhóm A, loài nhiễm là gà chicken , nơi phân lập là Việt Nam, số 8 hiệu chủng là HG4 – Hậu Giang 4, thời gian phân lập là năm 5, phân type là H5N1. Tính gây bệnh hay độc lực của virus cúm A được chia làm hai loại: (1) loại độc lực cao (HPAI - Highly pathogenic avian influenza) và (2) loại độc lực thấp LPAI - Low pathogenic avian influenza). Cả hai loại đều cùng tồn tại trong tự nhiên [30]. HPAI là loại virus cúm A có khả năng gây tổn thương nhiều cơ quan nội tạng trong cơ thể nhiễm, trên gia cầm chúng thường gây chết 1 số gia cầm bị nhiễm trong vòng 4 giờ sau nhiễm.
Loại này rất nguy hiểm gây lo ngại cho cộng đồng. Virus loại HPAI phát triển tốt trên tế bào phôi gà và tế bào thận chó trong môi trường nuôi cấy không có trypsin [29]. LPAI là loại virus khi phát triển trong cơ thể nhiễm, có thể gây bệnh cúm nhẹ không có triệu chứng lâm sàng điển hình và không làm chết vật chủ. Đây là loại virus lây truyền rộng rãi và tạo nên các ổ bệnh trong tự nhiên của virus cúm A, loại này có thể trao đổi gen với các chủng virus có độc lực cao đồng nhiễm trên cùng một tế bào và trở thành loại virus HPAI nguy hiểm [68] [155].
Cấu trúc hệ gen của virus cúm A/H5N1 Hệ gen của virus cúm A/H5N1 có khoảng 13500 nucleotide, gồm 8 phân đoạn gen mã hoá cho 8 phân tử protein [34]. Các phân đoạn 1, và là những phân đoạn mã hóa tổng hợp các enzyme trong phức hợp polymerase RNA transcriptase của virus, có độ dài ổn định và có tính bảo tồn cao, cụ thể là: Phân đoạn 1 (gen PB2) mã hóa tổng hợp enzyme P , là tiểu đơn vị thành phần trong phức hợp polymerase của virus, chịu trách nhiệm khởi đầu phiên mã RNA virus. P có khối lượng phân tử 87. Tính thích nghi nhiệt độ cơ thể loài vật chủ được cho là có liên quan đến vị trí amino acid 6 ở protein P ở virus cúm gia cầm vị trí này là Glu - thích ứng với nhiệt độ cơ thể gia cầm khoảng 4 oC, còn ở virus thích nghi trên người là Lys o - thích ứng nhiệt độ cơ thể người khoảng C) [7] [19] [63].
Gần đây, đã có phát hiện thêm một protein (PB1-F được mã hóa bởi một khung đọc mở khác của P 1, có vai trò gây ra hiện tượng apoptosis hiện tượng tế bào chết theo chương trình [38]. Phân đoạn 3 (gen PA) là phân đoạn gen bảo thủ cao, mã hóa tổng hợp protein enzyme PA có khối lượng phân tử là 96. PA là một tiểu đơn vị của polymerase chịu trách nhiệm kéo dài sự phiên mã RNA trong quá trình tổng hợp RNA của virus [8]. Các phân đoạn 4 và 6 mã hóa cho các protein HA và NA bề mặt capsid của virus, có tính kháng nguyên đặc trưng theo từng chủng virus cúm A, cụ thể như sau: Phân đoạn 4 gen HA có độ dài thay đổi tuỳ theo từng chủng virus cúm A Gen HA mã hóa tổng hợp protein HA - kháng nguyên bề mặt virus cúm, gồm hai tiểu phần là HA1 và HA2.
Vùng nối giữa HA1 và HA2 gồm một số amino acid mang tính kiềm được mã hóa bởi một chuỗi oligonucleotide, đó là điểm cắt của protease và đây là vùng quyết định độc lực của virus [8]. Protein HA có khối lượng phân tử khoảng 6 .1 3 Da nếu không được glycosyl hóa) và 77.103 Da nếu được glycosyl hóa, trong đó HA1 là 48.103 Da và HA2 là 29. Phân đoạn 6 gen NA là một gen kháng nguyên của virus, có kích thước thay đổi theo từng chủng virus cúm A. Đây là gen mã hóa tổng hợp protein NA, kháng nguyên bề mặt capsid của virus, có khối lượng phân tử là 5 - 60.
Các nghiên cứu phân tử gen NA của virus cúm cho thấy phần đầu 5’- của gen hay phần tận cùng N của polypeptide NA có tính biến đổi cao và phức tạp giữa các chủng virus cúm A, sự thay đổi này liên quan đến quá trình thích ứng và gây bệnh của virus cúm trên nhiều đối tượng vật chủ khác nhau [ 10 93]. Đặc trưng biến đổi của gen NA trong virus cúm A là hiện tượng đột biến trượt-xóa một đoạn gen là 5 nucleotide, rồi sau đó là 6 nucleotide [42]. Các phân đoạn gen M, NP và NS mã hóa tổng hợp các protein chức năng khác nhau của virus, có độ dài tương đối ổn định giữa các chủng virus cúm A, cụ thể: Phân đoạn 5 (gen NP) mã hóa tổng hợp nucleoprotein NP - thành phần của phức hệ phiên mã, chịu trách nhiệm vận chuyển RNA giữa nhân và bào tương tế bào chủ.