Luận Văn Thạc Sĩ: Đánh Giá Cây Thuốc Lá Chuyển Gen T1 Với Gen SSIV Tăng Cường Sinh Tổng Hợp Tinh Bột

Luận văn thạc sĩ đánh giá cây thuốc lá chuyển gen T1 mang gen SSIV, tập trung vào khả năng tăng cường sinh tổng hợp tinh bột hiệu quả.

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2016

51
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục đích

1.3. Yêu cầu

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học

2.2. Tình hình sản xuất cây sắn trên thế giới

2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn tại Việt Nam

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả đánh giá sự phân ly của gen chuyển trên môi trường có chất kháng sinh chọn lọc

3.2. Kết quả tách DNA tổng số các dòng cây chuyển gen thế hệ T1

3.3. Kết quả PCR kiểm tra cây chuyển gen thế hệ T1

3.4. Kết quả kiểm tra cây T1 mang gen SSIV

3.5. Kết quả dựng đường chuẩn

3.6. Kết quả định lượng hàm lượng tinh bột

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về cây thuốc lá chuyển gen T1 mang gen SSIV

Cây thuốc lá chuyển gen T1 mang gen SSIV là một nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực công nghệ sinh học, nhằm tăng cường khả năng tổng hợp tinh bột. Gen SSIV mã hóa enzyme starch synthase, đóng vai trò chính trong quá trình sinh tổng hợp tinh bột. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá sự biểu hiện của gen SSIV trong cây thuốc lá thế hệ T1, từ đó làm cơ sở cho việc cải tiến giống cây trồng, đặc biệt là cây sắn.

1.1. Cơ sở khoa học của gen SSIV

Gen SSIV là một trong những gen quan trọng liên quan đến quá trình tổng hợp tinh bột. Nghiên cứu này sử dụng cây thuốc lá làm mô hình để đánh giá hiệu quả của gen SSIV trong việc tăng cường tích lũy tinh bột. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc phát triển các giống cây trồng có năng suất cao hơn, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nhu cầu lương thực ngày càng tăng.

1.2. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới

Sắn là cây lương thực quan trọng, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Năm 2011, sản lượng sắn toàn cầu đạt 250,2 triệu tấn, với Nigeria là quốc gia sản xuất hàng đầu. Cây sắn không chỉ là nguồn lương thực chính mà còn là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học. Nghiên cứu về cây thuốc lá chuyển gen T1 mang gen SSIV có thể mở ra hướng đi mới trong việc cải thiện năng suất và chất lượng của cây sắn.

II. Phương pháp nghiên cứu và kết quả

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp sinh học phân tử để đánh giá sự biểu hiện của gen SSIV trong cây thuốc lá chuyển gen T1. Các phương pháp bao gồm PCR, điện di DNA, và định lượng tinh bột. Kết quả cho thấy sự hiện diện của gen SSIV trong các dòng cây chuyển gen, đồng thời khả năng tích lũy tinh bột cũng được cải thiện đáng kể.

2.1. Phương pháp PCR và điện di DNA

Phương pháp PCR được sử dụng để kiểm tra sự hiện diện của gen SSIV trong các dòng cây thuốc lá chuyển gen. Kết quả điện di DNA cho thấy sự xuất hiện của các băng DNA tương ứng với gen SSIV, chứng minh rằng gen đã được chuyển thành công vào cây thuốc lá.

2.2. Định lượng tinh bột

Phương pháp định lượng tinh bột bằng thuốc thử Anthrone được sử dụng để đánh giá khả năng tích lũy tinh bột trong lá cây thuốc lá chuyển gen. Kết quả cho thấy hàm lượng tinh bột trong các dòng cây chuyển gen cao hơn đáng kể so với cây không chuyển gen, chứng tỏ hiệu quả của gen SSIV trong việc tăng cường tổng hợp tinh bột.

III. Kết luận và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về cây thuốc lá chuyển gen T1 mang gen SSIV đã chứng minh được hiệu quả của gen này trong việc tăng cường tổng hợp tinh bột. Kết quả nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mở ra tiềm năng ứng dụng trong việc cải thiện năng suất cây trồng, đặc biệt là cây sắn.

3.1. Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học vững chắc về vai trò của gen SSIV trong quá trình tổng hợp tinh bột. Đây là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo về cải tiến giống cây trồng, đặc biệt là các loại cây lương thực quan trọng như sắn.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong việc phát triển các giống cây trồng có năng suất cao hơn, đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng. Đặc biệt, việc tăng cường tổng hợp tinh bột trong cây sắn có thể mang lại lợi ích kinh tế lớn cho các nước đang phát triển, nơi sắn là cây lương thực chính.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá cây thuốc lá chuyển gen thế hệ t1 mang gen ssiv tăng cường sinh tổng hợp tinh bột

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây lƣơng thực hàng năm. Củ sắn có tỷ lệ chất khô 38 – 40%, tinh bột 16 – 32%, giàu vitamin C, calcium, vitamin B và các chất khoáng, nghèo chất béo, muối khoáng, vitamin và nghèo đạm. Trong đó, tinh bột là một glucan không tan, đƣợc cấu thành từ hai chuỗi polymer bao gồm các tiểu phần là glucose, amylopectin và amylose. Ở thực vật bậc cao, tinh bột đƣợc tổng hợp trong plastid, là cacbohydrate dự trữ chủ yếu, tinh bột đóng vai trò quan trọng trong suốt chu kỳ sống của thực vật.

Cây sắn hiện đƣợc trồng trên 100 năm có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc ba châu lục: châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh. Sắn đƣợc trồng chủ yếu bởi các hộ nông dân nhỏ.Sắn đƣợc sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau. Củ sắn cung cấp nguyên liệu thô cho chế biến thức ăn cho gia súc và làm tinh bột ở quy mô lớn và nhỏ. Tinh bột sắn là một thành phần quan trọng trong chế độ thức ăn của hơn một tỷ ngƣời trên thế giới và cũng là cây hang hóa xuất khẩu có giá trị để chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng phủ sinh học, phụ gia dƣợc phẩm.

Đặc biệt trong thời gian tới, sắn là nguyên liệu chính cho nghành công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học. Sắn là loại cây lƣơng thực quan trọng ở các nƣớc đang phát triển, sản lƣợng hàng năm trên thế giới khoảng hơn 200 triệu tấn.Năm 2013, sắn tiếp tục đở mở rộng sản xuất. Ở châu Phi sản xuất 147 triệu tấn sắn trên một năm, sắn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lƣơng thực của lục địa này với mức tiêu thụ bình quân khoảng 96kg/ngƣời/năm. Về mức độ tiêu thụ, Cộng Hòa Dân Chủ Congo là nƣớc sử dụng sắn nhiều nhất với 391kg/ngƣời/năm.

Đối với tinh bột sắn, mỗi năm Nam Phi cần nhập khẩu khoảng 15 nghìn tấn.Tinh bột sắn đƣợc sử dụng trong chế biến thực phẩm, dƣợc phẩm và sản n 2 xuất giấy và tùng các tông. Trong năm 2013, kim nghạch nhập khẩu tinh bột sắn của Nam Phi đặt 7,4 triệu USD. Theo đó, Thái Lan là nƣớc nhập khẩu chính sang Nam Phi, đạt 5. Tiếp theo là Việt Nam đạt 1.6 triệu USD, chiếm khoảng 21.

Sắn, hay còn tên gọi khác là củ khoai mì, đƣợc trồng khá phổ biến ở Việt Nam và đã từ lâu đƣợc xem là cây lƣơng thực và thức ăn gia súc quan trọng sau lúa và ngô. Sắn chủ yếu dùng để xuất khẩu (48,6%), kế đến dùng làm thức ăn gia súc (22,4%), chế biến thủ công (16,8%), chỉ có 12,2% dùng tiêu thụ tƣơi. Bắt đầu từ những năm 2000, cây sắn đã đƣợc chuyển đổi từ một cây lƣơng thực sang cây công nghiệp. Sắn có những ƣu điểm phù hợp với các hộ nông dân nghèo và nhỏ nhƣ: dễ trồng, thích hợp với nhiều loại đất, chịu đƣợc đất đai nghèo dinh dƣỡng và điều kiện khô hạn.

Tại Việt Nam, sắn đƣợc canh tác phổ biến ở hầu hết các tỉnh từ Bắc đến Nam. Diện tích trồng nhiều sắn nhất vùng Đông Nam Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng núi và trung du phía bắc, vùng ven biển nam Trung Bộ và vùng ven biển bắc Trung Bộ. Thông thƣờng, sắn đƣợc trồng chính vụ vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 4 và thu hoạch sau khoảng 7-10 tháng tùy thuộc điều kiện từng vùng. Chính vì giá trị kinh tế, tầm quan trọng nên đã có rất nhiều nghiên cứu về cây sắn chuyển: Giống sắn SVN3 (KM325) là kết quả chọn dòng tự phối đời ba của tổ hợp lai SC5 x SC5 theo hƣớng tạo dòng đơn bội kép kỹ thuật CIAT do nhóm nghiên cứu sắn Trƣờng Đại học Nông Lâm thành phố Hố Chí Minh và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam chọn tạo và khảo nghiệm, khoai mì chuyển gen kháng African cassava mosaic virus, cây sắn có gen IPT tạo cytokine, xây dựng quy trinhg biến nạp gen bar – gen kháng thuốc diệt cỏ vào cây khoai mì bằng phƣơng pháp bắn gen - Trƣờng Đại học Khoa Học Tự Nhiên, ĐHQG-HCM,…Ngoài ra còn nhiều nghiên cứu chuyển gen thực vật mang gen liên quan đến quá trình sinh tổng hợp và tích lũy tinh bột ở cây sắn.

Vì vậy, tôi đề xuất và tiến hành nghiên cứu đề tài: “ ĐÁNH GIÁ CÂY THUỐC LÁ CHUYỂN GEN THẾ HỆ T1 MANG GEN SSIV TĂNG CƢỜNG SINH TỔNG HỢP TINH BỘT ” n 3 1. Mục đích Đánh giá sƣ̣ biể u hiê ̣n của cây thuố c lá chuyể n gen thế hê ̣ T 1 mang gen SSIV 1. Yêu cầ u - Tìm hiểu đƣợc cách đánh giá cây thuốc lá chuyển gen thế hệ T1 mang gen SSIV tăng cƣờng sinh tổng hợp tinh bột - Nắm bắt đƣợc các phƣơng pháp đánh giá cây thuốc lá chuyển gen n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa ho ̣c Gen SSIV là gen mã hóa cho enzyme starch synthase liên quan sinh tổng hợp tinh bột.

Cây thuốc lá chuyển gen SSIV, thế hệ T1 đƣợc kiểm tra, đánh giá khả năng tăng cƣờng, tích lũy tinh bột. Kết quả của của khóa luận là cơ sở đánh giá vai trò của gen SSIV phục vụ cho công tác cải tiến giống sắn nói riêng và cây trồng nói chung. Tình hình sản xuất cây sắn trên thế giới Sắn là cây lƣơng thực có sản lƣợng 252,20 triệu tấn) đứng hàng thứ năm sau ngô (883,46 triệu tấn), lúa gạo (722,76 triệu tấn), lúa mì (704,08 triệu tấn) khoai tây (374,38 triệu tấn). Sắn đƣợc trồng 66 % ở châu Phi, 20 % ở châu Á, 14 % ở châu Mỹ Latinh[2].

Hội nghị Sắn toàn cầu tổ chức tại Bỉ năm 2008 đã đƣa ra thông điệp: ―Cây sắn là quà tặng của thế giới, cơ hội cho nông dân nghèo và thách thức đối với các nhà khoa học‖ [24].1 Cây sắn ( Nguồn www.vn ) n 5 Sản lƣợng sắn thế giới năm 2006/07 đạt 226,34 triệu tấn củ tƣơi so với 2005/06 là 211,26 triệu tấn và 1961 là 71,26 triệu tấn. Nƣớc có sản lƣợng sắn nhiều nhất thế giới là Nigeria (45,72 triệu tấn), kế đến là Thái Lan (22,58 triệu tấn) và Indonesia (19,92 triệu tấn). Việt Nam đứng thứ mƣời trên thế giới về sản lƣợng sắn (7,71 triệu tấn). Nƣớc có năng suất sắn cao nhất hiện nay là Ấn Độ (31,43 tấn/ha), kế đến là Thái Lan (21,09 tấn/ha), so với năng suất sắn bình quân của thế giới là 12,16 tấn/ha (FAO, 2008).

Mức tiêu thụ sắn bình quân toàn thế giới khoảng 18 kg/ngƣời/năm. Sản lƣợng sắn của thế giới đƣợc tiêu dùng trong nƣớc khoảng 85% (lƣơng thực 58%, thức ăn gia súc 28%, chế biến công nghiệp 3%, hao hụt 11 %), còn lại 15% (gần 30 triệu tấn) đƣợc xuất khẩu dƣới dạng sắn lát khô, sắn viên và tinh bột (CIAT, 1993). Nhu cầu sắn làm thức ăn gia súc trên toàn cầu đang giữ mức độ ổn định trong năm 2006 (FAO, 2007). Sắn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lƣơng thực ở châu Phi, bình quân khoảng 96 kg/ngƣời/năm.

Zaire là nƣớc sử dụng sắn nhiếu nhất với 391 kg/ngƣời/năm (hoặc 1123 calori/ngày). Nhu cầu sắn làm lƣơng thực chủ yếu tại vùng Saharan châu Phi cả hai dạng củ tƣơi và sản phẩm chế biến ƣớc tính khoảng 115 triệu tấn, tăng hơn năm 2005 khoảng 1 triệu tấn. Trung Quốc hiện là nƣớc nhập khẩu sắn nhiều nhất thế giới để làm cồn sinh học (bio ethanol), tinh bột biến tính (modify starch), thức ăn gia súc và dùng trong công nghiệp thực phẩm dƣợc liệu. Địa điểm chính tại tỉnh Quảng Tây.

Năm 2005, Trung Quốc đã nhập khẩu 1,03 triệu tấn tinh bột, bột sắn và 3,03 triệu tấn sắn lát, sắn viên. Năm 2006, Trung Quốc đã nhập khẩu 1,15 triệu tấn tinh bột, bột sắn và 3,40 triệu tấn sắn lát và sắn viên. Thái Lan chiếm trên 85% lƣợng xuất khẩu sắn toàn cầu, kế đến là Indonesia và Việt Nam. Thị trƣờng xuất khẩu sắn chủ yếu của Thái Lan là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và cộng đồng châu Âu với tỷ trọng xuất khẩu sắn khoảng 40% bột và tinh bột sắn, 25% là sắn lát và sắn viên (TTTA, 2006; FAO, 2007).

n 6 Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhiều nƣớc châu Á, đặc biệt là các nƣớc vùng Đông Nam Á nơi cây sắn có tổng diện tích đứng thứ ba sau lúa và ngô và tổng sản lƣợng đứng thứ ba sau lúa và mía. Chiều hƣớng sản xuất sắn phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh cây trồng. Giải pháp chính là tăng năng suất sắn bằng áp dụng giống mới và các biện pháp kỹ thuật tiến bộ[3].1 Diện tích, năng suất và sản lƣợng sắn thế giới, năm 1995 – 2011 Diện tích Năng suất bình quân Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 1995 16,43 9,84 161,79 1996 16,25 9,75 158,51 1997 16,05 10,06 161,60 1998 16,56 9,90 164,10 1999 16,56 10,31 170,92 2000 16,86 10,70 177,89 2001 17.71 10,73 184,36 2002 17,31 10,61 183,82 2003 17,59 10,79 189,99 2004 18,51 10,94 202,64 2005 18,69 10,87 203,34 2006 20,50 10,90 224,00 2007 18,49 12,25 226,42 2008 19,11 12,14 232,01 2009 19,05 12,36 235,45 2010 18,92 12,51 236,71 Nguồn: Trần Công Khanh, tổng hợp từ FAOSTAT n 7 Năm 2006 đƣợc coi là năm có giá sắn cao đối với cả bột, tinh bột và sắn lát. Việc xuất khẩu sắn làm thức ăn gia súc sang các nƣớc cộng đồng châu Âu hiện đã giảm sút nhƣng giá sắn năm 2006 vẫn đƣợc duy trì ở mức cao do có thị trƣờng lớn tại Trung Quốc và Nhật Bản (FAO, 2007).

Viện Nghiên cứu Chính sách lƣơng thực thế giới (IFPRI), đã tính toán nhiều mặt và dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn toàn cầu với tầm nhìn đến năm 2020. Năm 2020 sản lƣợng sắn toàn cầu ƣớc đạt 275,10 triệu tấn, trong đó sản xuất sắn chủ yếu ở các nƣớc đang phát triển là 274,7 triệu tấn, các nƣớc đã phát triển khoảng 0,40 triệu tấn. Mức tiêu thụ sắn ở các nƣớc đang phát triển dự báo đạt 254,60 triệu tấn so với các nƣớc đã phát triển là 20,5 triệu tấn. Khối lƣợng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làm lƣơng thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176,3 triệu tấn và thức ăn gia súc 53,4 triệu tấn.

Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắn làm lƣơng thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tƣơng ứng là 1,98% và 0,95%. Châu Phi vẫn là khu vực dẫn đầu sản lƣợng sắn toàn cầu với dự báo sản lƣợng năm 2020 sẽ đạt 168,6 triệu tấn. Trong đó, khối lƣợng sản phẩm sử dụng làm lƣơng thực thực phẩm là 77,2%, làm thức ăn gia súc là 4,4%. Châu Mỹ La tinh giai đoạn 1993-2020, ƣớc tốc độ tiêu thụ sản phẩm sắn tăng hàng năm là 1,3%, so với châu Phi là 2,44% và châu Á là 0,84 - 0,96%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Đánh Giá Cây Thuốc Lá Chuyển Gen T1 Mang Gen SSIV Tăng Cường Tổng Hợp Tinh Bột" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc ứng dụng công nghệ chuyển gen trong cây thuốc lá nhằm nâng cao khả năng tổng hợp tinh bột. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ cơ chế hoạt động của gen SSIV mà còn chỉ ra những lợi ích tiềm năng trong việc cải thiện năng suất cây trồng. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức mà công nghệ sinh học có thể được áp dụng để tối ưu hóa sản xuất nông nghiệp, từ đó mở ra hướng đi mới cho việc phát triển cây trồng bền vững.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến chuyển gen trong cây trồng, hãy tham khảo tài liệu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu chuyển gen cbf1 và đánh giá biểu hiện trên cây đậu tương glycine max l merill, nơi bạn sẽ thấy những ứng dụng khác của công nghệ này trong cây đậu tương. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học nghiên cứu chuyển gen coda mã hóa enzyme sinh tổng hợp glycine betain dưới sự điều khiển của promoter cảm ứng khô hạn rd29a vào cây đậu tương cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các nghiên cứu chuyển gen khác, giúp bạn mở rộng kiến thức trong lĩnh vực này.