CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn 1. Lịch sử xuất hiện hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) Khái niệm: Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn do virus thuộc họ Arteriviridae gây ra. Lợn bị nhiễm virus này có biểu hiện rối loạn hô hấp và sinh sản trên mọi lứa tuổi với các triệu chứng chủ yếu là bỏ ăn hàng loạt, hắt hơi, sổ mũi, tăng tần số hô hấp, thở khó, lợn con thường có tỷ lệ chết cao, lợn trưởng thành tỷ lệ chết thấp hơn nhưng thường bị đồng nhiễm thêm các loại vi khuẩn gây bệnh khác, đặc biệt là vi khuẩn gây bệnh ở hệ hô hấp.
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn được ghi nhận vào năm 1987 ở Mỹ tại vùng bắc của bang California, bang Iowa và Minnesota. Năm 1988 bệnh lan sang Canada. Sau đó bệnh xuất hiện ở Đức năm 1990; Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ và Anh năm 1991 và ở Pháp năm 1992 (Benfield D et al. Từ khi xuất hiện đến nay, bệnh đã được gọi với nhiều tên khác nhau.
Thời gian đầu do chưa xác định được nguyên nhân nên gọi bệnh này là Bệnh bí hiểm ở lợn (MDS). Một số tác giả khác căn cứ vào bệnh tích ở tai gọi tên bệnh Tai xanh (BED) hoặc căn cứ vào các đặc điểm trên lợn mắc virus PRRS như sảy thai, đẻ non, chết non, sức sống yếu ớt, tỷ lệ chết của lợn con cao và rối loạn hô hấp trên đàn lợn (Keffaber, 1989; Loula, 1991) gọi tên là Hội chứng hô hấp và sảy thai ở lợn (PEARS). Đến năm 1992, tại Hội nghị Quốc tế tổ chức tại Minesota (Mỹ), tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã thống nhất tên là Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine respiratory and reproductive syndrome-PRRS), đây là tên gọi chính thức của bệnh. Hàng năm ước tính chi phí ngành công nghiệp chăn nuôi lợn ở Mỹ là 560 triệu USD cho PRRS (Neumann et al.
Tình hình PRRS trên thế giới và ở Việt Nam +Tình hình PRRS trên thế giới Theo báo cáo của tổ chức Thú y thế giới (2014), virus PRRS type 2 xuất hiện ở Trung Quốc và lan rộng khắp Châu Á (Đông, Nam và Bắc Á): Bhutan, 6 Campuchia, Trung Quốc, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippine, Nga, Singapore, Việt Nam. Sự phân bố của các type PRRSV trên thế giới (Nguồn: http://www.com/wps/portal/hipra/prrscontrol/prrs-knowledge/porcine- reproductive-and-respiratory-syndrome) Đại dịch PRRS bùng phát lây lan nhanh hơn 10 tỉnh thành của Trung Quốc làm chết 2.000 con lợn, trong đó có hơn 400.000 sảy thai, đẻ non. Trong năm 2007 PRRS đã xảy ra ở trên 25 tỉnh, với trên 180.000 lợn mắc bệnh và 45. Qua một số nghiên cứu với qui mô lớn, người ta đã xác định virus PRRS tại Trung Quốc thuộc chủng Bắc Mỹ thể cường độc gây ra (Tian et al.
Ở Hàn Quốc, PRRS ở lợn chủ yếu do 2 chủng virus thuộc type EU-1 và type 2 (Bắc mỹ) gây ra (Yeom et al. Từ 4/2012 đến 8/2013 (Marinou et al., 2015) đã thu thập 359 mẫu huyết thanh từ lợn rừng tại các địa phương khác nhau thuộc Hy Lạp để xác định tỷ lệ lưu hành một số mầm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trong đó có hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn. Kết quả cho thấy 5,6% số mẫu dương tính với virus PRRS. Từ năm 2008 đến năm 2013 (Jantafong et al., 2015) cho biết: hàng năm có khoảng 13,86% số lợn ở Thái Lan nhiễm virus hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp.
7 Năm 2008, virus PRRS lần đầu tiên được phát hiện ở Thái Lan và Campuchia, 2 năm sau đó, nó trở thành nguyên nhân gây bùng phát dịch tại 2 nước này. Tornimbene et al. Các vụ dịch hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn thường xuyên diễn ra ở Trung Quốc và Việt Nam gây nguy cơ lây nhiễm cao đến đàn lợn của Campuchia. Năm 2010, các tác giả đã nghiên cứu tình hình bệnh PRRS ở lợn tại tỉnh Takeo giáp biên giới Việt Nam và cho biết trên 85% số đàn lợn được điều tra có lợn nhiễm virus PRRS.
Trong vòng 3 năm, tại 140 trang trại thuộc miền Bắc Italia (Salogni et al., 2016) đã phát hiện 323 lợn bị xảy thai do virus, có nhiều loại virus đã được đề cập đến trong đó có 108 lợn bị xảy thai do nhiễm virus PRRS. Từ năm 2005 trở lại đây, 25 nước và vùng lãnh thổ trên hầu hết các châu lục đều đã báo cáo về sự lưu hành của virus PRRS. Đặc biệt, kể từ năm 2006-2007, một biến chủng mới của virus PRRS xuất hiện ở Trung Quốc có độc lực cao và nhanh chóng lan rộng ra nhiều nước ở Châu Á gây ra hàng loạt vụ dịch (Tian et al. Vụ dịch PRRS làm chết hàng triệu lợn đã bùng phát từ năm 2006 (Zhou and Yang, 2010).
Trường hợp PRRS đầu tiên xuất hiện gây bùng phát dịch ở Việt Nam vào đầu năm 2007 (Feng et al., 2008; Metwally et al., 2010) sau đó lan sang các nước Đông Nam Á khác như Lào, Philippines, Cambodia v.v… (Jantafong et al., 2015; Ni et al., 2012; Tornimbene et al. Hiện nay, Tổ chức Thú Y thế giới đã có qui trình chẩn đoán, giám sát và dự phòng đối với hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn. (Nguồn: http://www.int/fileadmin/Home/eng/Ourscientificexpertise/docs/pdf/PRRS guide web bulletin.pdf) + Tình hình PRRS tại Việt Nam Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn tại Việt Nam được phát hiện đầu tiên trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh phía Nam năm 1997, kết quả kiểm tra huyết thanh học cho thấy 10/51 lợn giống nhập khẩu đó có huyết thanh dương tính với PRRS, toàn bộ số lợn này đã được xử lý. Từ tháng 3/2007 đến 2008, PRRS gây thành đại dịch tại nhiều địa phương trên cả nước làm tổn thất lớn về kinh tế cho 8 người chăn nuôi, hàng triệu con lợn đã mắc PRRS và bị tiêu hủy.
Kết quả chẩn đoán và nghiên cứu virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn tại Việt Nam từ 2007 đến 2008 cho thấy, số lợn mắc PRRS tăng lên, các virus PRRS phân lập từ các ổ dịch lợn mắc PRRS có mức độ tương đồng cao so với virus PRRS chủng độc lực cao của Trung Quốc. Bệnh phẩm chứa virus có khả năng gây chết lợn thí nghiệm 100% cũng cho thấy virus hoặc vi khuẩn đồng nhiễm đóng vai trò quan trọng, gây tỷ lệ chết cao trên thực địa (Tô Long Thành và cs., 2008) Từ 2009 đến 2015 tình hình dịch PRRS diễn ra vẫn phức tạp, dịch còn xảy ra ở nhiều tỉnh trên cả nước. Từ 2016 đến 2019 cả nước không xuất hiện dịch PRRS, tuy nhiên còn tiềm ẩn và nguy cơ phát sinh cao do virus PRRS vẫn tồn tại trong môi trường chăn nuôi, vận chuyển buôn bán, giết mổ, tiêu thụ thịt lợn ngày càng gia tăng. Biện pháp phòng bệnh hiệu quả là tổ chức tiêm phòng triệt để cho đàn lợn và áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, chăn nuôi an toàn sinh học.
Tháng 10/2020 xuất hiện trở lại ổ dịch PRRS tại huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam, tại Nghệ An trong năm 2020 cũng có ổ dịch thuộc các huyện: Nam Đàn, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn và thị xã Thái Hòa. Các Sở, ngành, địa phương nơi xảy ra dịch đã tập trung triển khai quyết liệt, đồng bộ các biện pháp cấp bách phòng PRRS. Tổng hợp các ổ dịch PRRS xảy ra ở Việt Nam từ 2007-2016 Số lợn mắc Số lợn bị Năm Tỉnh Quận/Huyện Xã/Phường PRRS tiêu hủy 2007 14 65 324 70.235 2016 1 1 2 72 Không rõ (Nguồn: Cục Thú y 2016) PRRS thường xảy ra trên lợn ở mọi lứa tuổi với đặc trưng làm cho lợn ốm, sốt cao, lợn con theo mẹ và lợn nái chửa giai đoạn cuối chết nhanh và nhiều hơn so với lợn thịt và lợn đực giống. 9 Dịch lây lan nhanh chủ yếu là do phát hiện chậm hoặc dấu dịch, người chăn nuôi bán lợn mắc bệnh, do không kiểm soát được vận chuyển lợn ốm từ vùng có dịch sang vùng không có dịch.
Nguyên nhân chính là do chăn nuôi lợn ở nước ta chủ yếu là nhỏ lẻ nên khó kiểm soát dịch, nhận thức của người chăn nuôi, buôn bán, giết mổ lợn về công tác phòng, chống dịch còn nhiều hạn chế. Nhiều chủ gia súc chăn nuôi không tiêm phòng hoặc tiêm phòng các bệnh đỏ (dịch tả lợn, tụ huyết trùng, đóng dấu lợn và phó thương hàn lợn) đạt tỷ lệ thấp, hầu hết các hộ chăn nuôi không áp dụng các biện pháp an toàn sinh học, việc chấp hành Pháp lệnh Thú y chưa triệt để. Hiện nay, với công tác phòng dịch bằng vaccine và xử lý kịp thời khi có dấu hiệu dịch nên hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn đã được kiểm soát. Ở Việt Nam cũng đã ban hành qui trình chẩn đoán, giám sát hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (TCVN 8400-21: 2014).
Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc PRRS Triệu chứng bệnh thể hiện rất khác nhau, theo ước tính, cứ 3 đàn đầu tiên tiếp xúc với mầm bệnh thì một đàn không có biểu hiện bệnh, một đàn có biểu hiện ở mức độ vừa và một đàn ở mức độ nặng. Lý do cho việc này vẫn chưa có lời giải, tuy nhiên với những đàn khoẻ mạnh thì mức độ bệnh cũng giảm nhẹ hơn, và cũng có thể do virus tạo nhiều biến chủng với độc lực khác nhau. Thực tế nhiều đàn có huyết thanh dương tính nhưng không có biểu hiện lâm sàng. Mức độ lâm sàng thay đổi tuỳ chủng virus, sự biến động khả năng gây bệnh của virus, hàm lượng virus tăng trong máu và các mô, khả năng của các chủng có độc lực cao có thể tái sản trong cơ thể ký chủ.
+ Biểu hiện bệnh Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp có biểu hiện đặc trưng là vô sinh, chết thai muộn, sảy thai, đẻ non và sinh ra lợn con yếu ớt, lợn con thường chết sớm sau khi sinh do bệnh đường hô hấp. Lợn lớn hơn có thể biểu hiện các triệu chứng nhẹ của bệnh đường hô hấp, thường phức tạp thêm do đồng nhiễm virus, vi khuẩn khác gây bệnh trên lợn. Ở lợn nọc và lợn nái (hậu bị) có thể quan sát thấy sốt và biếng ăn tạm thời, khó thở (thoi thóp), lờ đờ. Mọi lứa tuổi lợn đều cảm nhiễm với virus, mầm 10 bệnh thường tồn tại lâu trong đàn nái.
Lợn nái thường truyền mầm bệnh cho bào thai. Lợn rừng mọi lứa tuổi đều cảm nhiễm virus, có thể phát bệnh, nhưng cũng có thể không phát bệnh, đây có thể coi là nguồn tàng trữ bệnh tự nhiên rất nguy hiểm.