Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu tạo chủng virus PRRS nhược độc và đánh giá khả năng sản xuất vaccine

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu tạo chủng virus prrs porcine reproductive and respiratory syndrome nhược độc và đánh giá, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết,

Chuyên ngành

Hóa sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

179
6
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn

1.2. Lịch sử xuất hiện hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS)

1.3. Tình hình PRRS trên thế giới và ở Việt Nam

1.4. Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc PRRS

1.5. Bệnh tích PRRS

1.6. Tác nhân gây bệnh và con đường truyền lây PRRS

1.7. Cơ chế bệnh sinh

1.8. Virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn

1.9. Nguồn gốc, phân loại virus PRRS

1.10. Cấu trúc, chức năng hệ gen virus PRRS

1.11. Đa dạng di truyền hệ gen virus PRRS

1.12. Các protein kháng nguyên quan trọng của virus PRRS

1.13. Đáp ứng miễn dịch của lợn khi virus PRRS xâm nhiễm

1.14. Sức đề kháng của virus PRRS

1.15. Đặc điểm nuôi cấy virus PRRS

1.16. Nghiên cứu tạo vaccine PRRS

1.17. Các loại vaccine được nghiên cứu phòng PRRS

1.18. Một số nghiên cứu về vaccine PRRS ở Việt Nam

1.19. Nghiên cứu tạo vaccine nhược độc phòng PRRS

1.20. Giống gốc trong sản xuất vaccine

1.21. Yêu cầu của giống gốc

1.22. Một số phương pháp bảo quản giống gốc virus PRRS

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, vật liệu nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Phương pháp mổ khám. Lấy mẫu xét nghiệm kháng nguyên

2.4. Lấy mẫu xét nghiệm kháng thể

2.5. Xử lý bệnh phẩm

2.6. Phương pháp làm tiêu bản vi thể

2.7. Phương pháp nuôi cấy tế bào

2.8. Phương pháp nhân virus PRRS

2.9. Phương pháp xác định hiệu giá virus

2.10. Phương pháp cấy truyền virus PRRS

2.11. Phương pháp xác định quy luật sinh trưởng của virus

2.12. Phương pháp trung hòa virus (phương pháp virus cố định và huyết thanh pha loãng)

2.13. Phương pháp Realtime RT-PCR

2.14. Phương pháp thiết kế mồi

2.15. Phương pháp RT-PCR. Phương pháp tách dòng và giải trình tự gen

2.16. Phương pháp so sánh trình tự gen và tạo cây phả hệ

2.17. Phương pháp điện di

2.18. Phương pháp IPMA xác định hiệu giá kháng thể

2.19. Phương pháp đếm tế bào Marc 145

2.20. Phương pháp kiểm tra vô trùng thuần khiết và an toàn của virus giống gốc

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Nghiên cứu đánh giá độc lực và đặc tính sinh học 2 chủng virus PRRS 02HY và 05TB

3.2. Biểu hiện triệu chứng lâm sàng ở lợn gây nhiễm chủng virus PRRS 02HY và 05TB

3.3. Khả năng tăng trọng của lợn thí nghiệm

3.4. Kết quả kiểm tra bệnh tích ở lợn thí nghiệm

3.5. Kiểm tra virus huyết ở lợn thí nghiệm

3.6. Khả năng kích thích sinh kháng thể ở lợn của 2 chủng virus PRRS 02HY và 05TB

3.7. Kiểm tra đặc tính nhân lên của virus PRRS 02HY trên tế bào Marc 145

3.8. Nghiên cứu tạo chủng virus PRRS nhược độc bằng cấy truyền liên tiếp 80 đời trên môi trường tế bào Marc 145

3.9. Đánh giá đặc tính nhân lên của chủng virus PRRS 02HY qua các đời cấy truyền trên tế bào Marc 145

3.10. Khả năng kích thích sinh kháng thể ở lợn của chủng virus PRRS 02HY qua các đời cấy truyền

3.11. Kiểm tra độc lực của chủng virus PRRS 02HY qua các đời cấy truyền ở các đời cấy truyền P1, P50, P60, P70, P80

3.12. Nghiên cứu đặc tính sinh học phân tử của chủng virus Hanvet1.vn nhược độc và chủng 02HY cường độc

3.13. Khuếch đại các đoạn gen thuộc hệ gen virus PRRS

3.14. Tách dòng các đoạn gen khuếch đại

3.15. Kết quả giải mã, phân tích hệ gen chủng Hanvet1.vn nhược độc và 02HY cường độc

3.16. Phân tích so sánh gen chủng Hanvet1.vn nhược độc với các chủng virus PRRS lưu hành ở Việt Nam và thế giới

3.17. Đánh giá đặc tính giống gốc chủng virus PRRS Hanvet1.vn nhược độc

3.18. Kiểm tra thuần khiết

3.19. Kết quả kiểm tra tính an toàn của giống gốc Hanvet1.vn trên lợn

3.20. Khả năng kích thích sinh kháng thể của giống gốc Hanvet1.vn nhược độc

3.21. Đánh giá đặc tính ổn định của giống gốc virus PRRS Hanvet1

3.22. Nghiên cứu điều kiện bảo quản giống gốc (Master seed)

3.23. Đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch ở lợn sau khi tiêm vaccine nhược độc được chế tạo từ giống gốc Hanvet1

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN KẾT QUẢ

4.1. Về nghiên cứu đánh giá độc lực chủng virus PRRS 02HY cường độc Việt Nam chọn làm chủng ứng viên để tạo virus giống gốc PRRS nhược độc

4.2. Về nghiên cứu tạo chủng virus PRRS nhược độc bằng cấy truyền liên tiếp trên môi trường tế bào Marc 145

4.3. Về đánh giá giống gốc Hanvet1.vn nhược độc sử dụng cho chế tạo vaccine PRRS

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về virus PRRS và tình hình nghiên cứu

Virus PRRS (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome) là tác nhân gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi toàn cầu. Virus PRRS được phát hiện lần đầu vào năm 1987 và hiện đã trở thành dịch địa phương ở nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, từ năm 2007, virus PRRS đã bùng phát thành dịch, gây ra những tổn thất kinh tế nghiêm trọng. Nghiên cứu virus PRRS tập trung vào việc phân loại, cấu trúc gen, và cơ chế gây bệnh. Virus PRRS gây bệnh thông qua việc tấn công hệ thống miễn dịch của lợn, dẫn đến các triệu chứng như sảy thai, viêm phổi và suy hô hấp. Công nghệ vaccine hiện nay chủ yếu dựa trên việc sử dụng chủng virus nhược độc để tạo miễn dịch. Tuy nhiên, sự khác biệt di truyền giữa các chủng virus PRRS ở các vùng địa lý khác nhau làm giảm hiệu quả của vaccine nhập khẩu. Do đó, việc phát triển vaccine từ chủng virus PRRS bản địa là cần thiết.

1.1. Lịch sử và phân loại virus PRRS

Virus PRRS thuộc họ Arteriviridae, được chia thành hai genotype chính: Bắc Mỹ và Châu Âu. Sự khác biệt di truyền giữa hai genotype này lên đến 40%, dẫn đến sự đa dạng trong virus gây bệnh PRRS. Tại Việt Nam, virus PRRS thuộc genotype Châu Á, có đặc điểm di truyền và khả năng gây bệnh riêng biệt. Nghiên cứu virus PRRS đã chỉ ra rằng, sự đa dạng di truyền này ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của vaccine PRRS. Do đó, việc phân loại và nghiên cứu sâu về chủng virus PRRS là bước quan trọng trong phát triển vaccine.

1.2. Tình hình dịch bệnh PRRS tại Việt Nam

Từ năm 2007, virus PRRS đã gây ra nhiều đợt dịch tại Việt Nam, đặc biệt là ở các tỉnh phía Bắc. Virus PRRS gây bệnh với các triệu chứng như sảy thai, viêm phổi và tỷ lệ tử vong cao ở lợn con. Nghiên cứu virus PRRS tại Việt Nam đã chỉ ra rằng, sự lưu hành của chủng virus PRRS địa phương là nguyên nhân chính gây ra dịch bệnh. Việc thiếu vaccine PRRS hiệu quả và giá thành cao của vaccine nhập khẩu đã làm tăng nhu cầu sản xuất vaccine từ chủng virus nhược độc bản địa.

II. Phương pháp nghiên cứu tạo chủng virus PRRS nhược độc

Nghiên cứu tạo chủng virus PRRS nhược độc được thực hiện thông qua quá trình cấy truyền liên tiếp chủng virus PRRS cường độc trên tế bào Marc 145. Chủng virus PRRS 02HY được chọn làm ứng viên để tạo chủng virus nhược độc do đặc tính gây bệnh mạnh và khả năng nhân lên ổn định trên tế bào. Quá trình cấy truyền liên tiếp 80 đời đã làm giảm độc lực của virus PRRS, tạo ra chủng virus nhược độc Hanvet1.vn. Công nghệ sản xuất vaccine dựa trên chủng virus nhược độc này đã được đánh giá về tính an toàn, hiệu quả và khả năng kích thích miễn dịch.

2.1. Quá trình cấy truyền và tạo chủng nhược độc

Quá trình cấy truyền liên tiếp chủng virus PRRS 02HY trên tế bào Marc 145 đã làm giảm độc lực của virus. Sau 80 đời cấy truyền, chủng virus nhược độc Hanvet1.vn được tạo ra, có hiệu giá virus đạt 106,63 TCID50. Chủng virus nhược độc này đáp ứng các tiêu chuẩn về tính an toàn và khả năng kích thích miễn dịch, phù hợp cho sản xuất vaccine PRRS.

2.2. Đánh giá đặc tính sinh học và phân tử

Chủng virus nhược độc Hanvet1.vn được đánh giá về đặc tính sinh học và phân tử. Kết quả giải trình tự gen cho thấy, chủng virus nhược độc có 89 đột biến nucleotide và 51 đột biến axit amin so với chủng virus cường độc ban đầu. Tuy nhiên, gen mã hóa protein kháng nguyên GP5 không thay đổi, đảm bảo tính kháng nguyên của vaccine PRRS. Công nghệ vaccine dựa trên chủng virus nhược độc này đã được chứng minh là hiệu quả và an toàn.

III. Ứng dụng chủng virus nhược độc trong sản xuất vaccine

Chủng virus nhược độc Hanvet1.vn đã được ứng dụng trong sản xuất vaccine PRRS. Vaccine PRRS được tạo ra từ chủng virus nhược độc này đã được đánh giá về tính an toàn, hiệu quả và khả năng kích thích miễn dịch. Kết quả cho thấy, vaccine PRRS có hiệu giá kháng thể cao, đạt 1/4.305,389, và độ dài miễn dịch kéo dài đến 6 tháng. Ứng dụng công nghệ vaccine này đã mở ra triển vọng lớn trong việc kiểm soát dịch bệnh PRRS tại Việt Nam.

3.1. Đánh giá hiệu quả của vaccine PRRS

Vaccine PRRS được sản xuất từ chủng virus nhược độc Hanvet1.vn đã được đánh giá về hiệu quả bảo hộ. Kết quả cho thấy, vaccine PRRS có khả năng kích thích miễn dịch mạnh, với hiệu giá kháng thể đạt 1/4.305,389. Ứng dụng vaccine này đã giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở lợn, đặc biệt là trong các đợt dịch PRRS.

3.2. Triển vọng phát triển vaccine PRRS tại Việt Nam

Việc sản xuất vaccine PRRS từ chủng virus nhược độc bản địa đã mở ra triển vọng lớn trong việc kiểm soát dịch bệnh PRRS tại Việt Nam. Công nghệ sản xuất vaccine này không chỉ giảm chi phí mà còn tăng hiệu quả bảo hộ, phù hợp với đặc điểm di truyền của virus PRRS lưu hành tại Việt Nam. Phát triển vaccine từ chủng virus nhược độc là bước tiến quan trọng trong việc chủ động phòng chống dịch bệnh PRRS.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tạo chủng virus prrs porcine reproductive and respiratory syndrome nhược độc và đánh giá khả năng làm giống phục vụ sản xuất vaccine

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn 1. Lịch sử xuất hiện hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) Khái niệm: Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn do virus thuộc họ Arteriviridae gây ra. Lợn bị nhiễm virus này có biểu hiện rối loạn hô hấp và sinh sản trên mọi lứa tuổi với các triệu chứng chủ yếu là bỏ ăn hàng loạt, hắt hơi, sổ mũi, tăng tần số hô hấp, thở khó, lợn con thường có tỷ lệ chết cao, lợn trưởng thành tỷ lệ chết thấp hơn nhưng thường bị đồng nhiễm thêm các loại vi khuẩn gây bệnh khác, đặc biệt là vi khuẩn gây bệnh ở hệ hô hấp.

Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn được ghi nhận vào năm 1987 ở Mỹ tại vùng bắc của bang California, bang Iowa và Minnesota. Năm 1988 bệnh lan sang Canada. Sau đó bệnh xuất hiện ở Đức năm 1990; Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ và Anh năm 1991 và ở Pháp năm 1992 (Benfield D et al. Từ khi xuất hiện đến nay, bệnh đã được gọi với nhiều tên khác nhau.

Thời gian đầu do chưa xác định được nguyên nhân nên gọi bệnh này là Bệnh bí hiểm ở lợn (MDS). Một số tác giả khác căn cứ vào bệnh tích ở tai gọi tên bệnh Tai xanh (BED) hoặc căn cứ vào các đặc điểm trên lợn mắc virus PRRS như sảy thai, đẻ non, chết non, sức sống yếu ớt, tỷ lệ chết của lợn con cao và rối loạn hô hấp trên đàn lợn (Keffaber, 1989; Loula, 1991) gọi tên là Hội chứng hô hấp và sảy thai ở lợn (PEARS). Đến năm 1992, tại Hội nghị Quốc tế tổ chức tại Minesota (Mỹ), tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã thống nhất tên là Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine respiratory and reproductive syndrome-PRRS), đây là tên gọi chính thức của bệnh. Hàng năm ước tính chi phí ngành công nghiệp chăn nuôi lợn ở Mỹ là 560 triệu USD cho PRRS (Neumann et al.

Tình hình PRRS trên thế giới và ở Việt Nam +Tình hình PRRS trên thế giới Theo báo cáo của tổ chức Thú y thế giới (2014), virus PRRS type 2 xuất hiện ở Trung Quốc và lan rộng khắp Châu Á (Đông, Nam và Bắc Á): Bhutan, 6 Campuchia, Trung Quốc, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippine, Nga, Singapore, Việt Nam. Sự phân bố của các type PRRSV trên thế giới (Nguồn: http://www.com/wps/portal/hipra/prrscontrol/prrs-knowledge/porcine- reproductive-and-respiratory-syndrome) Đại dịch PRRS bùng phát lây lan nhanh hơn 10 tỉnh thành của Trung Quốc làm chết 2.000 con lợn, trong đó có hơn 400.000 sảy thai, đẻ non. Trong năm 2007 PRRS đã xảy ra ở trên 25 tỉnh, với trên 180.000 lợn mắc bệnh và 45. Qua một số nghiên cứu với qui mô lớn, người ta đã xác định virus PRRS tại Trung Quốc thuộc chủng Bắc Mỹ thể cường độc gây ra (Tian et al.

Ở Hàn Quốc, PRRS ở lợn chủ yếu do 2 chủng virus thuộc type EU-1 và type 2 (Bắc mỹ) gây ra (Yeom et al. Từ 4/2012 đến 8/2013 (Marinou et al., 2015) đã thu thập 359 mẫu huyết thanh từ lợn rừng tại các địa phương khác nhau thuộc Hy Lạp để xác định tỷ lệ lưu hành một số mầm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trong đó có hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn. Kết quả cho thấy 5,6% số mẫu dương tính với virus PRRS. Từ năm 2008 đến năm 2013 (Jantafong et al., 2015) cho biết: hàng năm có khoảng 13,86% số lợn ở Thái Lan nhiễm virus hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp.

7 Năm 2008, virus PRRS lần đầu tiên được phát hiện ở Thái Lan và Campuchia, 2 năm sau đó, nó trở thành nguyên nhân gây bùng phát dịch tại 2 nước này. Tornimbene et al. Các vụ dịch hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn thường xuyên diễn ra ở Trung Quốc và Việt Nam gây nguy cơ lây nhiễm cao đến đàn lợn của Campuchia. Năm 2010, các tác giả đã nghiên cứu tình hình bệnh PRRS ở lợn tại tỉnh Takeo giáp biên giới Việt Nam và cho biết trên 85% số đàn lợn được điều tra có lợn nhiễm virus PRRS.

Trong vòng 3 năm, tại 140 trang trại thuộc miền Bắc Italia (Salogni et al., 2016) đã phát hiện 323 lợn bị xảy thai do virus, có nhiều loại virus đã được đề cập đến trong đó có 108 lợn bị xảy thai do nhiễm virus PRRS. Từ năm 2005 trở lại đây, 25 nước và vùng lãnh thổ trên hầu hết các châu lục đều đã báo cáo về sự lưu hành của virus PRRS. Đặc biệt, kể từ năm 2006-2007, một biến chủng mới của virus PRRS xuất hiện ở Trung Quốc có độc lực cao và nhanh chóng lan rộng ra nhiều nước ở Châu Á gây ra hàng loạt vụ dịch (Tian et al. Vụ dịch PRRS làm chết hàng triệu lợn đã bùng phát từ năm 2006 (Zhou and Yang, 2010).

Trường hợp PRRS đầu tiên xuất hiện gây bùng phát dịch ở Việt Nam vào đầu năm 2007 (Feng et al., 2008; Metwally et al., 2010) sau đó lan sang các nước Đông Nam Á khác như Lào, Philippines, Cambodia v.v… (Jantafong et al., 2015; Ni et al., 2012; Tornimbene et al. Hiện nay, Tổ chức Thú Y thế giới đã có qui trình chẩn đoán, giám sát và dự phòng đối với hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn. (Nguồn: http://www.int/fileadmin/Home/eng/Ourscientificexpertise/docs/pdf/PRRS guide web bulletin.pdf) + Tình hình PRRS tại Việt Nam Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn tại Việt Nam được phát hiện đầu tiên trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh phía Nam năm 1997, kết quả kiểm tra huyết thanh học cho thấy 10/51 lợn giống nhập khẩu đó có huyết thanh dương tính với PRRS, toàn bộ số lợn này đã được xử lý. Từ tháng 3/2007 đến 2008, PRRS gây thành đại dịch tại nhiều địa phương trên cả nước làm tổn thất lớn về kinh tế cho 8 người chăn nuôi, hàng triệu con lợn đã mắc PRRS và bị tiêu hủy.

Kết quả chẩn đoán và nghiên cứu virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn tại Việt Nam từ 2007 đến 2008 cho thấy, số lợn mắc PRRS tăng lên, các virus PRRS phân lập từ các ổ dịch lợn mắc PRRS có mức độ tương đồng cao so với virus PRRS chủng độc lực cao của Trung Quốc. Bệnh phẩm chứa virus có khả năng gây chết lợn thí nghiệm 100% cũng cho thấy virus hoặc vi khuẩn đồng nhiễm đóng vai trò quan trọng, gây tỷ lệ chết cao trên thực địa (Tô Long Thành và cs., 2008) Từ 2009 đến 2015 tình hình dịch PRRS diễn ra vẫn phức tạp, dịch còn xảy ra ở nhiều tỉnh trên cả nước. Từ 2016 đến 2019 cả nước không xuất hiện dịch PRRS, tuy nhiên còn tiềm ẩn và nguy cơ phát sinh cao do virus PRRS vẫn tồn tại trong môi trường chăn nuôi, vận chuyển buôn bán, giết mổ, tiêu thụ thịt lợn ngày càng gia tăng. Biện pháp phòng bệnh hiệu quả là tổ chức tiêm phòng triệt để cho đàn lợn và áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, chăn nuôi an toàn sinh học.

Tháng 10/2020 xuất hiện trở lại ổ dịch PRRS tại huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam, tại Nghệ An trong năm 2020 cũng có ổ dịch thuộc các huyện: Nam Đàn, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn và thị xã Thái Hòa. Các Sở, ngành, địa phương nơi xảy ra dịch đã tập trung triển khai quyết liệt, đồng bộ các biện pháp cấp bách phòng PRRS. Tổng hợp các ổ dịch PRRS xảy ra ở Việt Nam từ 2007-2016 Số lợn mắc Số lợn bị Năm Tỉnh Quận/Huyện Xã/Phường PRRS tiêu hủy 2007 14 65 324 70.235 2016 1 1 2 72 Không rõ (Nguồn: Cục Thú y 2016) PRRS thường xảy ra trên lợn ở mọi lứa tuổi với đặc trưng làm cho lợn ốm, sốt cao, lợn con theo mẹ và lợn nái chửa giai đoạn cuối chết nhanh và nhiều hơn so với lợn thịt và lợn đực giống. 9 Dịch lây lan nhanh chủ yếu là do phát hiện chậm hoặc dấu dịch, người chăn nuôi bán lợn mắc bệnh, do không kiểm soát được vận chuyển lợn ốm từ vùng có dịch sang vùng không có dịch.

Nguyên nhân chính là do chăn nuôi lợn ở nước ta chủ yếu là nhỏ lẻ nên khó kiểm soát dịch, nhận thức của người chăn nuôi, buôn bán, giết mổ lợn về công tác phòng, chống dịch còn nhiều hạn chế. Nhiều chủ gia súc chăn nuôi không tiêm phòng hoặc tiêm phòng các bệnh đỏ (dịch tả lợn, tụ huyết trùng, đóng dấu lợn và phó thương hàn lợn) đạt tỷ lệ thấp, hầu hết các hộ chăn nuôi không áp dụng các biện pháp an toàn sinh học, việc chấp hành Pháp lệnh Thú y chưa triệt để. Hiện nay, với công tác phòng dịch bằng vaccine và xử lý kịp thời khi có dấu hiệu dịch nên hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn đã được kiểm soát. Ở Việt Nam cũng đã ban hành qui trình chẩn đoán, giám sát hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (TCVN 8400-21: 2014).

Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc PRRS Triệu chứng bệnh thể hiện rất khác nhau, theo ước tính, cứ 3 đàn đầu tiên tiếp xúc với mầm bệnh thì một đàn không có biểu hiện bệnh, một đàn có biểu hiện ở mức độ vừa và một đàn ở mức độ nặng. Lý do cho việc này vẫn chưa có lời giải, tuy nhiên với những đàn khoẻ mạnh thì mức độ bệnh cũng giảm nhẹ hơn, và cũng có thể do virus tạo nhiều biến chủng với độc lực khác nhau. Thực tế nhiều đàn có huyết thanh dương tính nhưng không có biểu hiện lâm sàng. Mức độ lâm sàng thay đổi tuỳ chủng virus, sự biến động khả năng gây bệnh của virus, hàm lượng virus tăng trong máu và các mô, khả năng của các chủng có độc lực cao có thể tái sản trong cơ thể ký chủ.

+ Biểu hiện bệnh Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp có biểu hiện đặc trưng là vô sinh, chết thai muộn, sảy thai, đẻ non và sinh ra lợn con yếu ớt, lợn con thường chết sớm sau khi sinh do bệnh đường hô hấp. Lợn lớn hơn có thể biểu hiện các triệu chứng nhẹ của bệnh đường hô hấp, thường phức tạp thêm do đồng nhiễm virus, vi khuẩn khác gây bệnh trên lợn. Ở lợn nọc và lợn nái (hậu bị) có thể quan sát thấy sốt và biếng ăn tạm thời, khó thở (thoi thóp), lờ đờ. Mọi lứa tuổi lợn đều cảm nhiễm với virus, mầm 10 bệnh thường tồn tại lâu trong đàn nái.

Lợn nái thường truyền mầm bệnh cho bào thai. Lợn rừng mọi lứa tuổi đều cảm nhiễm virus, có thể phát bệnh, nhưng cũng có thể không phát bệnh, đây có thể coi là nguồn tàng trữ bệnh tự nhiên rất nguy hiểm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Nghiên cứu tạo chủng virus PRRS nhược độc và ứng dụng sản xuất vaccine tập trung vào việc phát triển một chủng virus PRRS (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome) nhược độc, nhằm tạo ra các loại vaccine hiệu quả cho ngành chăn nuôi heo. Nghiên cứu này không chỉ giúp giảm thiểu thiệt hại do virus gây ra mà còn mở ra cơ hội cho việc sản xuất vaccine an toàn và hiệu quả hơn, từ đó nâng cao sức khỏe đàn heo và tăng cường năng suất chăn nuôi.

Để mở rộng thêm kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến virus và vaccine, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu chuyển gen mã hóa protein bề mặt của virus h5n1 vào cây đậu tương phục vụ sản xuất vaccine thực vật. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất vaccine, từ đó giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp hiện đại trong lĩnh vực này.

Những thông tin trong tài liệu sẽ không chỉ giúp bạn nắm bắt được các xu hướng mới mà còn mở ra nhiều cơ hội nghiên cứu và ứng dụng trong tương lai.