Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Hoàng Thị Tuyết Mai, chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 62223401), được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Trần Ngọc Vương, mang tiêu đề: Phương thức ứng xử với chữ Nôm và văn học Nôm của các chính thể ở Việt Nam thời trung đại (Khảo sát qua thư tịch lịch sử và sáng tác văn chương).
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ một thực tế lịch sử kéo dài gần mười thế kỷ: chữ Nôm và văn học Nôm ra đời, tồn tại và phát triển song song với chữ Hán và văn học chữ Hán trong lòng xã hội phong kiến Việt Nam. Dù phản ánh tâm tư, tình cảm và bản sắc văn hóa dân tộc, chữ Nôm lại không giành được vị thế văn tự hành chính chính thống ở quy mô toàn quốc (ngoại trừ thời gian ngắn ngủi dưới triều Hồ và triều Tây Sơn). Trong giới nghiên cứu trước đây, mối quan hệ giữa nhà nước quân chủ và chữ Nôm thường bị đơn giản hóa thành định kiến giai cấp: giai cấp phong kiến thống trị chỉ "khinh thị", "chèn ép" chữ Nôm, coi là "nôm na mách qué". Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả nhận diện là sự thiếu vắng một công trình bao quát, hệ thống, khảo sát toàn diện phương thức ứng xử của các chính thể phong kiến Đại Việt đối với chữ Nôm và văn Nôm từ hai chiều kích: đường lối, chính sách thể chế của nhà nước và hành vi, thị hiếu thực tế của các thiết chế quyền lực cùng giới tinh hoa cầm quyền.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Nhận diện, phân tích và hệ thống hóa bản chất của phương thức ứng xử từ phía các chính thể quân chủ đối với chữ Nôm và văn học Nôm trong tiến trình lịch sử trung đại Việt Nam.
- Làm sáng tỏ nguyên nhân sâu xa của phương thức ứng xử này từ các nhân tố lịch sử, cấu trúc xã hội, thiết chế ngôn ngữ văn hóa và hệ tư tưởng Nho giáo.
- Đánh giá tác động hai mặt của phương thức ứng xử thể chế đối với sự tồn tại, phát triển và đặc trưng thẩm mỹ của văn tự Nôm và văn học Nôm.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tập hợp, phân loại và xử lý nguồn thư tịch lịch sử, các bộ chính sử, điển chế, văn bản pháp quy cùng các trước tác văn học chữ Hán và chữ Nôm có liên quan đến việc sử dụng, quản lý văn tự.
- Xác định cơ sở lý luận, hệ thống khái niệm công cụ và bối cảnh lịch sử - ngôn ngữ khu vực Đông Á thời trung đại tác động đến chính sách ngôn ngữ văn tự.
- Miêu tả, phân tích chi tiết các biểu hiện cụ thể của phương thức ứng xử qua các triều đại: Lý, Trần, Hồ, Lê sơ, Mạc, Lê - Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn.
- Tổng kết các hệ quả văn hóa, ngôn ngữ và văn học từ sự tương tác giữa chính thể và chữ Nôm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Phương thức ứng xử của các chính thể quân chủ Việt Nam thời trung đại đối với chữ Nôm và văn học Nôm.
- Phạm vi tư liệu: Nguồn thư tịch lịch sử chữ Hán bao gồm các bộ chính sử lớn (Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tiền biên, Đại Việt sử ký tục biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện); các bộ bách khoa thư, tạp ký, điển chế (Lịch triều hiến chương loại chí, Kiến văn tiểu lục, Lê triều tạp ký, Cương mục); văn bản sắc dụ, chỉ dụ; cùng các sáng tác văn học Nôm tiêu biểu qua các thời kỳ (Quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, các truyện Nôm, ngâm khúc, thơ văn của các tác giả quý tộc và bình dân).
- Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam dưới sự quản lý của các chính thể quân chủ Đại Việt / Đại Nam.
- Phạm vi thời gian: Thời kỳ trung đại, từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX (khi chữ Nôm và chữ Hán dần chấm dứt vai trò lịch sử trước sự thay thế của chữ Quốc ngữ).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại tình hình nghiên cứu liên quan đến vấn đề ứng xử với chữ Nôm và văn Nôm qua ba nhóm công trình học thuật chủ yếu:
Nhóm thứ nhất gồm các công trình lịch sử văn học. Tác giả Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (1943) đã ghi nhận sự song song tồn tại giữa hai bộ phận văn học chữ Hán và chữ Nôm, đồng thời dẫn ra định kiến của tầng lớp nho sĩ coi chữ Nôm là "nôm na mách qué". Trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (nhóm Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Hoài Thanh, 1957–1960), các tác giả đã tiếp cận mối quan hệ giữa nhà nước phong kiến và chữ Nôm dưới góc nhìn đấu tranh giai cấp, cho rằng giai cấp phong kiến thống trị về cơ bản ruồng rẫy chữ Nôm, chỉ có nhân dân lao động và các nhà văn tiến bộ mới trân trọng tiếng mẹ đẻ. Giáo trình Văn học Việt Nam (Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, 1978), Văn học trung đại Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX (Lê Trí Viễn, Đặng Đức Siêu), Lịch sử văn học Việt Nam tập 1 (Nguyễn Lộc, Hoàng Hữu Yên), cùng bộ giáo trình của Bùi Duy Tân, Trần Ngọc Vương, Phạm Ngọc Lan đều từng bước chỉ ra tính chất phức tạp của thái độ ứng xử: chữ Nôm tuy không được công nhận là quốc tự chính thức trong khoa cử nhưng vẫn được nhiều thế hệ vua chúa, quý tộc sử dụng để sáng tác văn chương. Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên cũng theo dõi tiến trình thăng trầm của văn học Nôm dưới các triều đại.
Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu văn hóa, lịch sử và thể loại. Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương (1938) nhận định việc các nhà nho chuộng chữ Hán và xem nhẹ chữ Nôm đã kìm hãm sự phát triển của văn tự bản địa. Trần Quốc Vượng trong Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần (1981) nhấn mạnh sự lựa chọn Nho giáo và chữ Hán của triều đình Lý - Trần. Bùi Duy Tân trong các khảo luận văn học trung đại, Kiều Thu Hoạch trong Truyện Nôm - lịch sử phát triển và thi pháp thể loại (1993, 2007) chỉ ra xung đột tư tưởng giữa văn hóa quan phương và văn hóa bình dân thể hiện qua số phận của các tác phẩm truyện Nôm bị triều đình ra lệnh cấm đoán. Trần Nho Thìn trong Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa (2008) tiếp tục bổ sung những nhận xét về thái độ phân biệt đẳng cấp văn tự của tầng lớp thống trị.
Nhóm thứ ba gồm các công trình văn tự học chữ Nôm. Đào Duy Anh với Chữ Nôm - Nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến (1975), Nguyễn Tài Cẩn với Một số vấn đề về chữ Nôm (1985), Lê Văn Quán với Nghiên cứu về chữ Nôm (1981), Trần Xuân Ngọc Lan với các nghiên cứu giải âm và chữ Nôm (1999, 2006), Nguyễn Ngọc San, Vũ Văn Kính, và đặc biệt là Nguyễn Quang Hồng với Khái luận văn tự học chữ Nôm (2008) đã cung cấp các cơ sở khoa học về cấu trúc nội tại, nguyên tắc tạo chữ và quá trình ghi âm tiếng Việt của chữ Nôm. Các nhà nghiên cứu quốc tế như John DeFrancis (Colonialism and Language Policy in Viet Nam) cũng khảo sát cơ chế chính trị ngôn ngữ trong lịch sử Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Đa phần các công trình trước đây chỉ xem xét chữ Nôm và văn Nôm từ góc độ ngôn ngữ học thuần túy hoặc thi pháp thể loại văn học, hoặc dừng lại ở những nhận định khái quát mang tính xã hội học thô sơ về "sự áp bức của giai cấp phong kiến". Luận án định vị đề tài ở điểm giao thoa giữa văn học, sử học và chính trị học văn hóa: phân tích "phương thức ứng xử" như một tổ hợp gồm ý thức hệ, đường lối chính thống, thực tiễn hành chính và hành vi cá nhân của các chính thể quân chủ, giải thích căn nguyên vì sao chữ Nôm luôn ở trạng thái dung nạp có điều kiện mà không thể trở thành văn tự chính thức của nhà nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên việc xác lập nội hàm của các khái niệm then chốt:
- Chính thể: Hình thức tổ chức nhà nước, quyền lực tối cao của một triều đại phong kiến quân chủ, đại diện cho ý chí thống trị, ban hành pháp luật, quy định thiết chế hành chính, giáo dục và khoa cử.
- Ứng xử và Phương thức ứng xử: Hệ thống thái độ, phản ứng, đường lối, chính sách và cách thức tiến hành giải quyết các mối quan hệ xã hội. Phương thức ứng xử của chính thể đối với chữ Nôm và văn Nôm là tổng hòa giữa chính sách hành chính - pháp lý chính thức (công nhận, cấm đoán, hạn chế, kiểm duyệt) và hành vi thực tiễn trong đời sống văn hóa cung đình (sáng tác, khuyến khích, sử dụng thực dụng).
- Chữ Nôm và Văn Nôm: Chữ Nôm là hệ thống văn tự khối vuông mượn chất liệu chữ Hán để ghi âm tiếng Việt; văn Nôm là toàn bộ các văn bản, trước tác văn học và ghi chép đời sống được thể hiện bằng chữ Nôm.
Về mặt lý thuyết, luận án đặt đối tượng vào bối cảnh cấu trúc song ngữ - song văn hóa của khu vực văn hóa chữ Hán Đông Á (Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản). Chữ Hán đóng vai trò ngôn ngữ văn hóa cao (High language), được định chế hóa thành phương tiện bang giao, quản trị và khoa cử; ngôn ngữ bản địa đóng vai trò ngôn ngữ văn hóa thấp (Low language), gắn liền với đời sống thường nhật và biểu đạt cảm xúc dân tộc.
Phương pháp nghiên cứu định tính được triển khai qua các thao tác cụ thể:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp văn bản: Khảo sát hệ thống thư tịch lịch sử, chỉ dụ, luật pháp, văn bia và tác phẩm văn học chữ Hán, chữ Nôm để trích xuất dữ liệu xác thực về thái độ của các triều đại.
- Phương pháp lịch sử - văn hóa: Đặt phương thức ứng xử vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể, liên hệ với bối cảnh chính trị, sự thịnh suy của ý thức hệ Nho giáo qua các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê, Mạc, Tây Sơn, Nguyễn.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức văn học sử, sử học, văn tự học và xã hội học văn hóa để giải thích các hiện tượng lệch pha giữa luật pháp nhà nước và thực tiễn sáng tác văn chương.
- Phương pháp so sánh loại hình: Đối sánh trường hợp chữ Nôm của Việt Nam với các hệ thống văn tự bản địa hình thành trên cơ sở chữ Hán ở Đông Á, cụ thể là Kana của Nhật Bản và Idu/Hangul của Triều Tiên, nhằm làm rõ tính chất đặc thù trong sự lựa chọn của chính thể Đại Việt.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Đi sâu phân tích những chính thể hoặc thời kỳ điển hình có biến động rõ rệt về chính sách văn tự như cuộc cải cách của Hồ Quý Ly, triều đại Quang Trung - Tây Sơn, thời trị vì của Lê Thánh Tông, và chính sách kiểm duyệt thời Nguyễn dưới triều Minh Mạng, Tự Đức.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu phương thức ứng xử với chữ Nôm và văn Nôm hướng tới định vị đề tài của luận án
Chương 1 dành trọn vẹn dung lượng để làm rõ lịch sử vấn đề và xây dựng khung lý thuyết. Tác giả phân tích tường tận các khái niệm cốt lõi: "ứng xử", "phương thức ứng xử", "chính thể", "chữ Nôm", "văn Nôm". Dựa trên các từ điển chuẩn mực, tác giả chỉ ra "ứng xử" là sự thể hiện thái độ hành động thích hợp trước các mối quan hệ; khi gắn với "chính thể", phương thức ứng xử biểu hiện thành chính sách và việc thực thi chính sách của bộ máy nhà nước.
Luận án điểm lại các tài liệu lịch sử văn học từ đầu thế kỷ XX đến nay, phân loại các xu hướng tiếp cận trước đó thành ba nhóm: hướng lịch sử văn học, hướng nghiên cứu văn hóa - lịch sử và hướng văn tự học chữ Nôm. Tác giả chỉ ra hạn chế của các giai đoạn nghiên cứu trước đây là thường nhìn nhận thái độ của chính thể phong kiến theo lối định kiến một chiều: hoặc cho rằng nhà nước phong kiến luôn triệt tiêu, khinh miệt tiếng mẹ đẻ, hoặc ngược lại, suy tôn quá mức tinh thần dân tộc mà bỏ qua tính tất yếu của việc lựa chọn chữ Hán làm công cụ quản lý hành chính trong bối cảnh trung đại. Từ đó, luận án xác định hướng đi mới: tiếp cận phương thức ứng xử như một hiện tượng lịch sử - văn hóa đa tầng, phân biệt ranh giới giữa quy chế thể chế nhà nước và hành vi sáng tác cá nhân của các bậc đế vương, đại thần.
Chương 2: Những cơ sở xã hội - ngôn ngữ - văn hóa định hình phương thức ứng xử
Chương 2 luận giải các tiền đề khách quan quy định cách hành xử của chính thể Đại Việt đối với văn tự bản địa. Tác giả phân tích tình trạng song ngữ và cấu trúc song ngữ trong xã hội Việt Nam thời trung đại. Ở đó, tiếng Hán và chữ Hán giữ địa vị chính thống tuyệt đối, là biểu tượng của văn minh, trật tự chính trị và quyền lực tối thượng. Chữ Nôm ra đời từ nhu cầu tự thân của tiếng Việt, dùng để ghi âm tiếng mẹ đẻ, nhưng ngay từ đầu đã mang tính chất thứ yếu so với chữ Hán.
Để làm nổi bật đặc trưng của Việt Nam, tác giả mở rộng so sánh với khu vực văn hóa chữ Hán Đông Á qua bảng đối sánh quá trình bản địa hóa văn tự:
| Tiêu chí so sánh | Nhật Bản | Triều Tiên | Việt Nam |
|---|---|---|---|
| Văn tự bản địa | Chữ Kana (Hiragana và Katakana) | Chữ Idu; chữ Hangul (Hunminjeongeum) | Chữ Nôm |
| Thời điểm xuất hiện / định hình | Khoảng thế kỷ IX | Idu: thời Tam quốc; Hangul: ban hành năm 1446 | Xuất hiện rải rác thế kỷ X–XII, định hình thế kỷ XIII |
| Vai trò của nhà nước quân chủ | Giới quý tộc cung đình bảo trợ, phụ nữ quý tộc sử dụng rộng rãi, sau kết hợp Hán - Kana | Vua Sejong (Thế Tông) trực tiếp chỉ đạo sáng tạo và ban hành năm 1446 | Không do nhà nước sáng tạo; sáng tạo dân gian và tầng lớp trí thức |
| Địa vị trong hành chính, thi cử | Từng bước kết hợp với chữ Hán trong văn bản | Từng bị giai cấp lưỡng ban phản đối, thế kỷ XIX mới thành quốc văn | Cơ bản không đưa vào thi cử chính quy (trừ triều Hồ, Tây Sơn) |
| Cấu tạo văn tự | Ký tự biểu âm đơn giản hóa từ nét thảo/chân chữ Hán | Hệ thống chữ cái biểu âm (chữ ghép âm tố khoa học) | Chữ khối vuông mượn tự hình, tự âm, tự nghĩa chữ Hán |
Từ so sánh này, luận án chứng minh rằng việc các chính thể quân chủ Đại Việt chọn chữ Hán làm văn tự chính thống là lựa chọn mang tính cấu trúc lịch sử tất yếu để duy trì mô hình nhà nước tập quyền theo mẫu hình Nho giáo, tham gia trật tự bang giao khu vực và bảo đảm sự thống nhất hành chính. Chữ Nôm, do cấu tạo phức tạp, tính dị thể cao và thiếu sự chuẩn hóa của nhà nước, không thể thay thế chữ Hán trên diện rộng trong công việc quản trị quốc gia.
Chương 3: Những biểu hiện phương thức ứng xử của chính thể đối với chữ Nôm và văn Nôm
Chương 3 là phần trọng tâm khảo sát thực chứng, phân tích các biểu hiện cụ thể trong hành động của các chính thể qua các triều đại phong kiến. Tác giả chia các biểu hiện ứng xử thành ba phương diện chính:
Thứ nhất, trên phương diện hành chính, pháp quy và khoa cử:
- Các triều đại phần lớn giữ nguyên tắc chữ Hán là văn tự hành chính tối thượng. Tuy nhiên, chính thể không hoàn toàn triệt tiêu chữ Nôm mà thực hiện thái độ "dung nạp thực dụng": chữ Nôm được cho phép sử dụng trong các trường hợp ghi chép tên làng xã, nhân danh, địa danh trong địa bạ, hương ước, chúc thư, văn khế, văn bia chùa chiền khi chữ Hán không thể phản ánh chính xác ngữ âm bản địa.
- Hai trường hợp đột xuất là triều Hồ và triều Tây Sơn. Hồ Quý Ly đã dịch thiên Vô dật trong Kinh Thư ra chữ Nôm để dạy vua Trần Thuận Tông, dịch Kinh Thi ra chữ Nôm để dạy cung nữ, chấn hưng văn Nôm trong thi cử. Vua Quang Trung - Nguyễn Huệ sau khi lập triều đại đã chủ trương dùng chữ Nôm trong chiếu sắc, công văn hành chính và đưa văn Nôm vào nội dung các kỳ thi hương, thi hội, thành lập Viện Sùng chính do La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đứng đầu để dịch kinh sách Nho gia ra chữ Nôm.
Thứ hai, trên phương diện sinh hoạt văn hóa cung đình và sự bảo trợ cá nhân:
- Tác giả chỉ ra hiện tượng "lưỡng phân" sâu sắc giữa tư cách nguyên thủ và tư cách văn nhân của các bậc đế vương, quý tộc. Dù không hợp thức hóa chữ Nôm làm quốc tự, các vị vua chúa vẫn trực tiếp sáng tác văn học Nôm và đứng ra bảo trợ các trào lưu thơ Nôm: vua Lê Thánh Tông sáng lập hội Tao Đàn, trực tiếp sáng tác và chỉ đạo biên soạn tập Hồng Đức quốc âm thi tập; chúa Trịnh Sâm, chúa Trịnh Cương làm nhiều thơ Nôm; vua Tự Đức thời Nguyễn soạn các bài ca Nôm, tuồng Nôm phục vụ giáo hóa và tiêu khiển. Điều này bác bỏ quan niệm giản đơn rằng giai cấp thống trị hoàn toàn quay lưng với văn học Nôm.
Thứ ba, trên phương diện kiểm soát tư tưởng và kiểm duyệt ấn loát:
- Khi văn học Nôm phát triển rực rỡ với các thể loại tự sự dân gian (như truyện Nôm) phản ánh những tư tưởng lệch chuẩn đạo đức phong kiến, chính thể lập tức thể hiện thái độ cảnh giác và can thiệp hành chính. Luận án trích dẫn các chỉ dụ cấm đoán sách vở: chỉ dụ đời Lê - Trịnh trong Lê triều tạp ký cấm khắc in và lưu hành các loại "truyện tạp nhạp và lời quê kệch, nhảm nhí"; lệnh thu hồi và tiêu hủy ván in các sách truyện Nôm phương hại đến phong hóa dưới thời vua Minh Mạng và Tự Đức triều Nguyễn.
Chương 4: Sự tác động của phương thức ứng xử từ phía chính thể đối với đời sống chữ Nôm và văn Nôm
Chương 4 đánh giá các hệ quả thực tế do phương thức ứng xử của chính thể tạo ra đối với số phận chữ Nôm và văn học Nôm:
- Về mặt văn tự học: Sự thiếu vắng chính sách điển chế hóa và chuẩn hóa từ phía nhà nước đã khiến chữ Nôm suốt nhiều thế kỷ tồn tại trong tình trạng tản mát, dị thể cực kỳ phong phú nhưng thiếu quy chuẩn thống nhất. Mỗi vùng miền, mỗi tác giả có thể có cách cấu tạo chữ khác nhau, gây trở ngại lớn cho việc phổ cập đại chúng và học tập. Chữ Nôm luôn phải sống bám tựa vào chữ Hán, người muốn học chữ Nôm bắt buộc phải biết chữ Hán trước.
- Về mặt văn học: Thái độ dung nạp thực tế kết hợp với việc đẩy chữ Nôm ra ngoài vòng lễ nghi chính thống vô hình trung đã tạo ra một "không gian tự do" rộng lớn cho văn học Nôm. Thoát khỏi sự trói buộc nghiêm ngặt của quy phạm Nho gia cung đình, văn học Nôm trở thành mảnh đất màu mỡ cho việc thể hiện tâm tư tình cảm đời thường, ý thức cá nhân, tiếng nói phê phán xã hội, và các chủ đề thế tục. Các kiệt tác thơ Nôm Đường luật, song thất lục bát (ngâm khúc) và lục bát (truyện Nôm) đã định hình diện mạo đỉnh cao của văn học trung đại chính nhờ cơ chế dung nạp phi chính thống này.
- Về mặt phân hóa văn hóa: Văn học Nôm định hình một cấu trúc sinh tồn hai tầng: vừa lưu hành trong cung đình, dinh thự quý tộc qua các tập thơ thù tạc, vừa bám rễ sâu bền trong quần chúng nhân dân qua diễn ca lịch sử, tuồng chèo và truyện thơ đọc truyền khẩu.
Kết quả và những đóng góp mới
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Luận án đã xây dựng một khung phân tích khoa học để tiếp cận vấn đề chính sách văn tự và thái độ ứng xử của nhà nước quân chủ thời trung đại. Luận án bác bỏ cách nhìn nhận ấu trĩ, quy chụp trước đây vốn coi thái độ của giai cấp phong kiến đối với chữ Nôm là hoàn toàn thù địch, phủ định sạch trơn.
- Luận án phân định rạch ròi hai chiều kích ứng xử: chiều kích thể chế chính trị (duy trì chữ Hán vì mục tiêu quản lý nhà nước, pháp luật, ngoại giao và thi cử theo quy chuẩn Nho giáo) và chiều kích thực tiễn văn hóa cá nhân (vua chúa, quý tộc vẫn sử dụng chữ Nôm để giải tỏa cảm xúc, tiêu khiển nghệ thuật và làm công cụ giáo hóa thứ dân).
- Đóng góp về mặt thực tiễn và tư liệu:
- Luận án tập hợp, hệ thống hóa và xử lý một khối lượng tư liệu lịch sử phong phú, gồm các ghi chép từ chính sử, tạp ký, chỉ dụ hành chính và văn bản sáng tác từ thời Lý đến thời Nguyễn, cung cấp bức tranh chân thực về địa vị của chữ Nôm trong đời sống xã hội.
- Chỉ ra nguyên nhân sâu xa khiến các phong trào cải cách chữ Nôm của Hồ Quý Ly và Quang Trung không thể duy trì bền vững: không chỉ do sự sụp đổ nhanh chóng của triều đại, mà còn do hạ tầng kinh tế - xã hội, đội ngũ quan lại Nho sĩ và bản thân cấu trúc nội tại của chữ Nôm chưa đáp ứng được yêu cầu của một hệ thống văn tự quản lý quốc gia thay thế chữ Hán.
- Đề xuất nhận thức lại giá trị di sản Hán Nôm: cần nhìn nhận sự song hành Hán - Nôm như một hiện tượng cân bằng sinh thái văn hóa đặc thù của Việt Nam thời trung đại, không đối lập cực đoan hai bộ phận này.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Do nguồn tư liệu thư tịch thời Lý - Trần bị thất thoát nghiêm trọng sau các biến cố lịch sử và chiến tranh xâm lược của nhà Minh, việc khảo sát phương thức ứng xử ở giai đoạn đầu trung đại (thế kỷ X - XIV) chủ yếu phải dựa vào các ghi chép gián tiếp của các bộ sử đời sau (Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục) hoặc dấu tích văn bia rải rác, chưa thật sự phong phú và trực tiếp như giai đoạn Lê - Nguyễn.
- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào chính sách của chính quyền trung ương và giới quý tộc cung đình, chưa đi sâu khảo sát chi tiết phương thức ứng xử với chữ Nôm ở các cấp hành chính địa phương vùng sâu xa.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khảo sát phương thức ứng xử với chữ Nôm trong các cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, đặc biệt là văn bản giải âm kinh Phật của Phật giáo và chữ Nôm trong các văn bản Công giáo (truyền giáo thế kỷ XVII–XIX).
- Đi sâu nghiên cứu khối văn bản hành chính dân gian lưu trữ tại các làng xã (chúc thư, văn khế mua bán ruộng đất, khoán ước thôn trang) để làm rõ mức độ chấp nhận chữ Nôm trong thực tế thi hành pháp luật ở cấp cơ sở.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với các đối tượng cụ thể:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Văn học Việt Nam, Hán Nôm, Lịch sử và Văn hóa học: Luận án cung cấp phương pháp tiếp cận liên ngành, cách thức khai thác tư liệu lịch sử để giải quyết các vấn đề văn học sử, cũng như nguồn thư mục trích dẫn phong phú về văn tự học Nôm.
- Giảng viên đại học và cao đẳng: Phần tổng quan tài liệu và nội dung Chương 2, Chương 3 là tài liệu trực tiếp phục vụ cho việc giảng dạy các học phần Văn học trung đại Việt Nam, Lịch sử chữ Nôm và Lịch sử văn hóa Việt Nam.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa và hoạch định chính sách ngôn ngữ: Công trình cung cấp bài học lịch sử sâu sắc về quá trình chuẩn hóa chữ viết, chính sách đối với ngôn ngữ dân tộc và cách ứng xử với các luồng văn hóa ngoại sinh - nội sinh trong quá trình xây dựng bản sắc dân tộc.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao chính thể quân chủ Đại Việt qua nhiều thế kỷ không chọn chữ Nôm làm văn tự hành chính chính thống thay thế chữ Hán?
Luận án chỉ ra rằng sự lựa chọn chữ Hán là tất yếu do yêu cầu quản trị nhà nước tập quyền theo mô hình Nho giáo, tính quy chuẩn cao của chữ Hán trong ngoại giao khu vực (với Trung Quốc và các nước đồng văn), và quan trọng hơn cả là do hạn chế nội tại của chữ Nôm: là chữ khối vuông ghi âm, cấu tạo phức tạp, tính dị thể quá cao, chưa được điển chế hóa và rất khó học nếu không biết chữ Hán trước.
2. Triều đại nào trong lịch sử trung đại đã có những biện pháp cụ thể đưa chữ Nôm vào công vụ nhà nước và thi cử?
Có hai triều đại điển hình: triều Hồ (Hồ Quý Ly cho dịch Kinh Thư, Kinh Thi ra chữ Nôm để giảng dạy và dùng chữ Nôm trong thi cử) và triều Tây Sơn (vua Quang Trung chủ trương dùng chữ Nôm trong chiếu chỉ, công văn hành chính, đưa thơ phú Nôm vào các kỳ thi Hương, thi Hội và lập Viện Sùng chính để dịch sách kinh điển ra chữ Nôm).
3. Hiện tượng vua chúa phong kiến trực tiếp sáng tác văn học Nôm phản ánh điều gì trong phương thức ứng xử của chính thể?
Hiện tượng này phản ánh sự phân ly giữa tư cách thể chế và tư cách văn nhân cá nhân. Về mặt thể chế, nhà vua duy trì trật tự chính thống của chữ Hán; nhưng về mặt đời sống tinh thần và văn hóa, các bậc đế vương (như Lê Thánh Tông với hội Tao Đàn, chúa Trịnh Sâm, vua Tự Đức) vẫn tìm đến chữ Nôm như một phương tiện biểu đạt cảm xúc bản địa, thực hành tiêu khiển nghệ thuật và dùng văn Nôm làm công cụ giáo hóa đạo đức cho bình dân.
4. Chính thể quân chủ thực hiện kiểm duyệt và can thiệp đối với văn học Nôm trong những trường hợp nào?
Chính thể can thiệp bằng các lệnh cấm chỉ khi các sáng tác Nôm (đặc biệt là truyện Nôm bình dân) bị xem là vi phạm thuần phong mỹ tục, truyền bá tư tưởng tà dâm, nhảm nhí, hoặc làm lung lay trật tự cương thường Nho giáo. Luận án dẫn chứng các đạo dụ thời Lê - Trịnh và triều Nguyễn (thời Minh Mạng, Tự Đức) tịch thu, tiêu hủy ván in các sách truyện Nôm bị coi là phương hại đến phong hóa xã hội.
Kết luận
Luận án của tác giả Hoàng Thị Tuyết Mai là một công trình nghiên cứu công phu, giải quyết thỏa đáng vấn đề phương thức ứng xử của các chính thể quân chủ đối với chữ Nôm và văn học Nôm trong lịch sử trung đại Việt Nam. Bằng việc xử lý nguồn tư liệu thư tịch lịch sử và sáng tác văn học phong phú kết hợp với phương pháp tiếp cận liên ngành, tác giả đã làm sáng rõ tính chất lưỡng phân phức tạp giữa yêu cầu thể chế nhà nước và thực tiễn văn hóa tinh thần của giai cấp cầm quyền. Công trình không chỉ giải mã căn nguyên của các thăng trầm trong số phận chữ Nôm mà còn đóng góp một góc nhìn khoa học, khách quan vào việc đánh giá di sản văn học trung đại và lịch sử văn hóa dân tộc.