Chương 1 TONG QUAN VE CHỮ NOM VÀ VĂN BẢN TAN BIEN TRUYEN KY MAN LUC Dẫn nhập: Với đề tài luận án là Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm Truyền kỳ mạn lục, trước hết người đọc có thé sẽ đặt ra những câu hỏi như: Chữ Nôm là gi? Chữ Nôm tự tao là gì? Văn bản giải âm Truyén kỳ mạn luc là một văn bản như thế nào? Đề giải đáp những vấn đề này, trong chương đầu của luận án chúng tôi sẽ làm rõ định nghĩa chữ Nôm một cách khách quan dựa trên những định nghĩa đã có của các học giả, giới thiệu tong quan về tình hình nghiên cứu chữ Nôm tại Việt Nam và ở các nước khác; phân biệt rõ khái niệm chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo; đồng thời cũng giới thiệu bốn bộ ván in cơ bản và những văn bản khác nhau của Tân biên truyền kỳ mạn lục, đặc biệt nhân mạnh bản mang ký hiệu HN 257 và HN 258 là đối tượng nghiên cứu chính của luận án.1 Định nghĩa chữ Nôm Muốn đi sâu vào nghiên cứu chữ Nôm, trước hết chúng ta phải làm rõ vấn đề định nghĩa chữ Nôm. Về vấn đề này, nhiều học giả đã nêu ra quan điểm của mình trong các chuyên khảo hoặc bài viết đã công bố. Ví dụ trong cuỗn Chữ Nôm: Nguồn gốc-cấu tạo-diễn biến, Đào Duy Anh viết: “Chữ Nom là thứ chữ dân tộc của ta đã được dùng trong gần mười thế kỷ, mãi đến gần đây, cuối thời Pháp thuộc nó mới trở thành, cũng như chữ Hán, một thứ cô tự không được dùng trong đời sống hàng ngày nữa.” [Đào Duy Anh, 1975, tr. Trong bài Điểm qua vài nét về tình hình cấu tạo chữ Nôm, Nguyễn Tài Can và N.Xtankevich viết: “Chữ Nôm là một lối chữ vuông, xuất thân từ chữ Hán, nhưng lại chuyên dùng để ghi tiếng Việt.” [Nguyễn Tài Cân, 1985, tr.
Trong cuốn Các phương thức biểu âm trong cấu trúc chữ Nôm Việt, Nguyễn Tá Nhí viết: “Chữ Nôm là chữ viết của người Việt Nam được tạo 23 ra bang cách sử dụng các yếu tố có sẵn trong chữ Hán.” [Nguyễn Tá Nhí, 1997, tr. Trong cuốn Ly thuyét chữ Nôm văn Nôm, Nguyễn Ngọc San viết: “.chữ Nôm là nền văn tự ghi âm, tất nhiên là ghi theo cách riêng của nó, tuy nhiên về hình thé nó thuộc loại văn tự hình khối, biểu ý.” [Nguyễn Ngọc San, 2003, tr. Trong “Lời dẫn” cho bộ Tu điển chữ Nôm (2006), Nguyễn Quang Hồng viết rang: “Chữ Nôm của dân tộc Việt là một thứ chữ ô vuông [.], về cơ bản là biểu âm biểu ý, theo kiểu Hán tự” [Nguyễn Quang Hồng, 2006e, tr. Trong cuốn Khdi luận văn tự học chữ Nôm, ông còn xác định chữ Nôm như một hệ thống văn tự theo một loạt các tiêu chí đặc trưng: “(a) Chữ Nôm là văn tự viết nét bút theo ‘6 vuông' [.] (b) Chữ Nôm là văn tự ô vuông ghi âm tiết [.] (c) Chữ Nôm là văn tự 6 vuông ghi ngữ tố [.] (d) Chữ Nom là văn tự chữ vuông ghép thành tố [.] (e) Chữ Nôm là văn tự 6 vuông biéu âm - biểu ý[.]” [Nguyễn Quang Hồng, 2008, tr.
O Trung Quốc, cũng có nhiêu học giả nêu ý kiên của mình về định nghĩa chữ Nôm. Vi dụ trong cuốn Nghiên cứu tiếng Hán Việt 4h07, Vương Lực 7) cho rằng: “Chữ Nôm, là thứ chữ được tạo ra cho tiếng nói thông tục trong tiếng Việt theo phép tạo chữ của chữ Hán. Trong bài “Chữ Nôm của Việt Namites num”, Mã Khắc Thừa 4 Wim viết: “Chữ Nom là văn tự dân tộc Việt Nam được tạo ra theo phép tạo chữ của chữ Hán, đọc theo âm Hán Việt. Trong bài “Bàn về anh hưởng của chữ Hán đối với chữ Nom #0 HH”, Dam Chí Từ ï#ä:ij viết: “Chữ Nôm là một hệ thống văn tự Việt Nam được tạo ra trên cơ sở sử dụng chữ Hán, lấy chữ Hán và bộ thủ chữ Hán làm nguyên liệu, áp dụng ba phép tạo chữ là giả tá, hình thanh và hội ý, cơ bản đọc theo âm Hán Việt (bao gồm âm cô Hán Việt và âm Hán Việt ngày nay), dùng để ghi tiếng Việt (gồm cả từ Hán Việt).
Trong bai “Dinh nghĩa chữ Nôm ISZZ:3/”, Lâm Minh Hoa #446 cho rằng: “Chữ Nôm là một loại văn tự ô vuông của Việt Nam được tạo ra trên cơ sở chữ Hán trong thời kỳ sử dụng chữ Hán bằng phép tạo chữ giả tá, hình thanh, hội ý trong ‘Luc thu’, dùng dé ghi “quốc 4m’[=tiéng nói thông tục, không bao gồm từ 24 Han Việt-tác giả luận án] trong tiếng Việt. Nói tóm lại, chữ Nôm tức là văn tự thông tục dân gian dùng dé ghi “quốc 4m’ trong tiếng Việt. Ngoài ra, trong nhiều từ điển cũng có định nghĩa về chữ Nôm. Vi dụ trong Ti điển tiếng Việt đã định nghĩa chữ Nôm là: “Chữ viết cô của tiếng Việt, dựa vào chữ Hán mà đặt ra.” [Từ điển tiếng Việt, 2008, tr.
Trong bộ Từ Hải ### của Trung Quốc đã định nghĩa chữ Nôm là “những chữ Hán mượn dùng và những chữ Việt Nam được tạo ra theo hình thức chữ Hán dé ghi tiếng Việt Nam trong thời kỳ Việt Nam mượn dùng chữ Hán” [#‡#£, 1987, tr. Tóm lại, nói tới chữ Nôm, người ta thường xuất phát từ các mặt đặc trưng, tính chất, phạm vi sử dụng v. của thứ chữ này để nêu ra định nghĩa. Chúng tôi cho rằng, muốn định nghĩa chữ Nom một cách toàn diện và khách quan, trước tiên phải làm rõ hai vấn đề như sau: Một là loại chữ Hán mượn dùng - mượn hình, mượn nghĩa và đọc theo âm Hán Việt - trong văn bản Nôm có phải là chữ Nôm hay không? Về vấn đề này, có học giả cho rằng đây là chữ Hán, chứ không phải là chữ Nôm, vì loại chữ này mượn cả ba mặt âm, nghĩa, hình của chữ Hán.
Chỉ có loại chữ Hán mượn dùng có đặc trưng là đồng hình, đồng (hoặc gần) âm nhưng khác nghĩa mới là chữ Nom.’ Nhung phan nhiều học giả cho rằng đây là loại chữ mượn Hán cả về văn tự cả về từ ngữ, được sử dụng tự nhiên trong văn bản chữ Nôm tiếng Việt, cho nên phải được quy vào phạm trù chữ Nôm. Quan điểm này đã được thể hiện rõ trong cách phân loại chữ Nôm của các học giả, như Đào Duy Anh, Nguyễn Tài Can, Nguyễn Quang Hong.” Chúng tôi cho rằng loại chữ này tất nhiên là chữ Hán, nhưng đồng thời cũng là chữ Nôm. Vì nó đã được mượn dùng trong văn bản Nôm, cùng với các loại chữ Nôm khác cấu thành một nền văn tự hoàn chỉnh, đảm nhận chức năng ghi ngôn ngữ Việt Nam. ! Xin xem: [}Rjf£, 1989, tr.
? Xin lần lượt xem tại: [Đào Duy Anh, 1975, tr. 65-84], [Nguyễn Tài Cần, 1985, tr.53], [Nguyễn Quang Hồng, 2008, tr. 25 Hai là về mặt đặc trưng loại hình, chữ Nôm là một loại văn tự như thế nào? Chữ Nôm không phải là một loại văn tự thuần biéu ý, điều này đã được mọi người công nhận. Nhưng về van đề chữ Nôm là một thứ chữ biéu âm- biểu ý hay là một loại văn tự ghi âm thì vẫn có tranh luận.
Ví dụ Nguyễn Ngọc San cho rang chữ Nom là một loại văn tự ghi âm: “.nhìn toàn bộ quá trình phát triển của chữ Nôm ta thay lúc nào nó cũng cố gắng ghi trung thành âm Việt ở thời điểm nó sáng tác và xét về mặt đó thì chữ Nôm là nền văn tự ghi âm, tất nhiên là ghi theo cách riêng của nó, tuy nhiên về hình thể nó thuộc loại văn tự hình khối, biểu ý.” [Nguyễn Ngọc San, 2003, tr. Nguyễn Quang Hồng thì lưu ý đến một tình hình ngược lại, là “nếu nhìn toàn bộ quá trình phát triển chữ Nôm thì ta thấy một sự thực là chữ “giả tá” mượn từ chữ Hán dé ghi âm các từ gốc Việt ngày càng được “hình thanh” hóa, nghĩa là từ chỗ các từ ấy chỉ được biểu âm thuần túy, trở nên có chữ ghép 'âm+ý' dé thé hiện phần nghĩa của nó nữa. Đương nhiên là với quan hệ liên tưởng qua lại giữa âm và nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ, cả hai thành tố “biểu 4m’ và “biểu y’ trong chữ vuông sẽ “hỗ tro” cho nhau dé nhận diện ra âm và nghĩa chính xác của ngữ tố được ghi. Hai ‘mat’ âm và nghĩa ở đây là ‘hai mặt của một tờ giấy', không thé chỉ thừa nhận mặt này ma phủ nhận mặt kia.xét về mật độ chữ Hán ghi âm Nôm kha đậm trong van ban, ta có thé nói rằng văn ban chữ Nôm nghiêng về mặt biéu âm, nhưng điều này không thể phủ nhận chữ Nôm là một hệ thống văn tự biểu âm - biểu ý khá điển hình.” [Nguyễn Quang Hồng, 2008, tr.
Chúng tôi đồng ý với quan điểm của Nguyễn Quang Hồng, cho rằng chữ Nôm là một loại văn tự biểu âm - biểu ý. Vì dù răng những chữ Nôm xuất hiện đầu tiên là mượn từ chữ Hán để ghi âm tiếng Việt bằng cách giả tá, nhưng dần dần nhiều chữ giả tá này đã được gia thêm thành tố biểu ý dé hình thanh hóa, loại chữ hình thanh có tỷ lệ ngày càng cao hơn; ngoài ra, trong chữ Nôm còn có một loại chữ là chữ hội ý. Những điều này chứng tỏ thành tố biéu ý là phần rất quan trong trong cấu trúc chữ Nôm, vi vậy, nói chữ Nôm là một loại văn tự biêu âm - biêu ý thì chính xác hơn và toàn diện hơn. 26 Trên cơ sở những định nghĩa về chữ Nôm của các học giả và những điều thảo luận ké trên, chúng tôi xin nêu ra cách định nghĩa của mình về chữ Nôm: Chữ Nôm là một hệ thống van tự Việt Nam được tao ra trên cơ sở chữ Hán dé ghi tiếng Việt, là một loại văn tự biéu âm - biểu ý (ghi âm tiết — ngữ tố), bao gồm hai phan lớn là chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo (hai khái niệm này sẽ được trình bày ở tiểu mục 1.2 Tình hình nghiên cứu chữ Nôm 1.1 Tình hình nghiên cứu chữ Nôm ở Việt Nam Ở Việt Nam, việc nghiên cứu chữ Nôm được triển khai khá sớm.
Khi chữ Nôm còn được sử dụng rộng rãi đã được nhiều học gia quan tâm va tiến hành nghiên cứu nhằm phục vụ công việc giảng dạy và dé ra phương án cải tiễn văn tự dân tộc.