Nghiên Cứu Chữ Nôm Tự Tạo Trong Văn Bản Giải Âm Truyền Kỳ Mạn Lục

Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học nghiên cứu chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm truyền kỳ mạn lục, khám phá giá trị văn hóa và ngôn ngữ.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2012

282
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu viết tắt

Danh mục các bảng biểu

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu chữ Nôm tự tạo

2.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu văn bản giải âm Truyền kỳ mạn lục

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4. Phương pháp nghiên cứu

5. Một số khái niệm và thuật ngữ sử dụng trong luận án

6. Đóng góp của luận án

1. Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CHỮ NÔM VÀ VĂN BẢN TÂN BIÊN TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

1.1. Định nghĩa chữ Nôm

1.2. Tình hình nghiên cứu chữ Nôm

1.2.1. Tình hình nghiên cứu chữ Nôm ở Việt Nam

1.2.2. Tình hình nghiên cứu chữ Nôm ở các nước khác

1.3. Chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo

1.4. Văn bản Tân biên truyền kỳ Mạn lục

1.5. Tiểu kết Chương 1

2. Chương 2: LÝ THUYẾT VĂN TỰ HỌC VÀ CHỮ NÔM TỰ TẠO TRONG VĂN BẢN GIẢI ÂM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

2.1. Cơ sở lý thuyết về văn tự học

2.1.1. Khái niệm cơ bản về văn tự học

2.1.2. Định nghĩa văn tự học

2.1.3. Cộng đồng văn tự và loại hình văn tự

2.2. Lý thuyết cơ bản về Hán tự học

2.2.1. Khái lược về Hán tự học

2.2.2. Tính chất của chữ Hán

2.3. Thuyết “Lục thư” và thuyết “Tam thư”

2.4. Phân định chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo

2.4.1. Phân định chữ Nôm tự tạo trùng hình với chữ Hán

2.4.2. Phân định một số chữ Nôm với dạng viết tắt

2.4.3. Khái lược về tình hình chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm Truyền kỳ mạn lục

2.5. Cấu trúc chức năng và cấu trúc hình thể của chữ Nôm

2.6. Tiểu kết Chương 2

3. Chương 3: NGHIÊN CỨU CHỮ NÔM TỰ TẠO TRONG VĂN BẢN GIẢI ÂM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC TỪ GÓC NHÌN CẤU TRÚC CHỨC NĂNG

3.1. Số liệu về chữ Nôm tự tạo xét theo cấu trúc chức năng của chúng

3.1.1. Phân loại chữ Nôm tự tạo theo cấu trúc chức năng

3.1.2. Mấy điều cần chú ý

3.1.3. Thống kê tỷ lệ các loại chữ

3.2. Chữ hội âm

3.2.1. Chữ hội âm dạng lập

3.2.2. Chữ hội âm chính phụ

3.2.2.1. Phân loại chữ hội âm chính phụ với thành tố phụ khác nhau
3.2.2.2. Chức năng của các thành tố phụ

3.3. Chữ hội ý

3.3.1. Chữ hội ý dạng lập

3.3.2. Chữ hội ý chính phụ

3.4. Chữ hình thanh

3.4.1. Chữ hình thanh dạng lập

3.4.1.1. Phân loại chữ hình thanh dạng lập
3.4.1.2. Một số chữ có cấu trúc đặc biệt

3.4.2. Chữ hình thanh chính phụ

3.4.2.1. Phân loại chữ hình thanh chính phụ
3.4.2.2. Một số chữ có cấu trúc đặc biệt

3.5. Chữ đơn lấy âm

3.6. Chữ đơn lấy nghĩa

3.7. Khảo sát bộ thủ được sử dụng trong chữ Nôm tự tạo của văn bản

3.7.1. Tình hình sử dụng bộ thủ

3.7.2. Chức năng của bộ thủ

3.7.2.1. Chức năng thể hiện nghĩa “xác chỉ” của chữ
3.7.2.2. Chức năng thể hiện nghĩa “phạm trù” hoặc “trường nghĩa” của

3.8. Khảo sát một số hiện tượng về tương quan giữa chữ Nôm với ngữ tố mà nó thể hiện trong các loại chữ

3.8.1. Hiện tượng một âm có nhiều dạng chữ ghi

3.8.1.1. Hiện tượng dị thể
3.8.1.2. Hiện tượng khác hình đồng âm khác nghĩa

3.8.2. Hiện tượng dùng một dạng chữ ghi nhiều âm

3.8.2.1. Về mặt âm đọc
3.8.2.2. Về mặt ý nghĩa

3.8.3. Hiện tượng chuyên dụng chữ Nôm

3.8.3.1. Chuyên dụng chữ Nôm làm chữ Nôm mới
3.8.3.2. Chuyên dụng chữ Nôm làm thành tố tạo chữ

3.8.4. Hiện tượng một dạng chữ có khi là chữ Nôm mượn Hán, có khi lại là chữ Nôm

3.8.5. Hiện tượng viết nhầm, khắc nhầm

3.8.6. Hiện tượng mượn dùng cùng một chữ Hán làm thành tố biểu ý trong các từ láy song tiết

3.8.7. Hiện tượng cùng một chữ Hán đảm nhiệm chức năng khác nhau

3.9. Tiểu kết Chương 3

4. Chương 4: NGHIÊN CỨU CHỮ NÔM TỰ TẠO TRONG VĂN BẢN GIẢI ÂM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC TỪ GÓC NHÌN CẤU TRÚC HÌNH

4.1. Số liệu về chữ Nôm tự tạo xét theo cấu trúc hình thể của chúng

4.1.1. Phân loại chữ Nôm tự tạo theo cấu trúc hình thể

4.1.2. Thống kê tỷ lệ của các loại chữ

4.2. Chữ có cấu trúc trái phải

4.2.1. Cấu trúc trái phải được thể hiện trong chữ hội âm

4.2.2. Cấu trúc trái phải được thể hiện trong chữ hội ý

4.2.3. Cấu trúc trái phải được thể hiện trong chữ hình thanh

4.3. Chữ có cấu trúc trên dưới

4.3.1. Cấu trúc trên dưới được thể hiện trong chữ hội âm

4.3.2. Cấu trúc trên dưới được thể hiện trong chữ hội ý

4.3.3. Cấu trúc trên dưới được thể hiện trong chữ hình thanh

4.4. Chữ có cấu trúc bao dưới

4.4.1. Cấu trúc bao dưới được thể hiện trong chữ hội âm

4.4.2. Cấu trúc bao dưới được thể hiện trong chữ hội ý

4.4.3. Cấu trúc bao dưới được thể hiện trong chữ hình thanh

4.5. Chữ có cấu trúc bao trên

4.6. Chữ có cấu trúc bọc trên

4.7. Chữ có cấu trúc đơn thể

4.8. Vị trí của bộ thủ

4.9. Hiện tượng Viết Cắt

4.9.1. Viết tắt cả chữ

4.9.2. Viết tắt các thành tố tạo chữ

4.9.2.1. Viết tắt thành tố biểu âm
4.9.2.2. Viết tắt thành tố biểu ý
4.9.2.3. Viết tắt cả thành tố biểu âm lẫn thành tố biểu ý

4.10. Hiện tượng biến thể

4.10.1. Biến thể do chuyển dịch vị trí các thành tố mà tạo ra

4.10.2. Biến thể do viết tắt mà tạo ra

4.11. Tiểu kết Chương 4

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

1. Phụ lục 1: Chữ Nôm tự tạo trong bản giải âm TKML

2. Phụ lục 2: Tình hình sử dụng bộ thủ ở chữ Nôm tự tạo trong bản giải âm

3. Phụ lục 3: Tình hình chữ Nôm dị thể trong bản giải âm TKML

4. Phụ lục 4: Tình hình chữ Nôm khác hình đồng âm khác nghĩa trong bản giải âm

5. Phụ lục 5: Tình hình dùng một dạng chữ ghi nhiều âm trong bản giải âm

6. Phụ lục 6: Tình hình chuyển dụng chữ Nôm trong bản giải âm TKML

7. Phụ lục 7: Tình hình viết tắt trong bản giải âm TKML

8. Phụ lục 8: Tình hình biến thể trong bản giải âm TKML

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Chữ Nôm Tự Tạo Trong Văn Bản Giải Âm

Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm Truyền kỳ mạn lục là một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học Việt Nam. Chữ Nôm, với vai trò là một phương tiện ghi âm tiếng Việt, đã phát triển mạnh mẽ trong lịch sử văn học. Việc tìm hiểu về chữ Nôm tự tạo không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn phản ánh sự sáng tạo văn hóa của người Việt. Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là một ví dụ điển hình cho sự phát triển này, với nhiều chữ Nôm tự tạo được sử dụng để thể hiện ý nghĩa và âm thanh của ngôn ngữ.

1.1. Định Nghĩa Chữ Nôm Và Vai Trò Của Nó Trong Văn Hóa

Chữ Nôm là hệ thống chữ viết được phát triển để ghi âm tiếng Việt, bao gồm cả chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo. Chữ Nôm tự tạo thể hiện sự sáng tạo của người Việt trong việc ghi âm và biểu đạt ý nghĩa. Điều này không chỉ giúp bảo tồn văn hóa mà còn tạo ra một bản sắc riêng cho ngôn ngữ Việt Nam.

1.2. Lịch Sử Nghiên Cứu Chữ Nôm Tự Tạo

Lịch sử nghiên cứu chữ Nôm tự tạo đã có nhiều công trình quan trọng. Các học giả như Đào Duy Anh và Nguyễn Tài Cần đã đóng góp nhiều vào việc phân loại và phân tích chữ Nôm. Những nghiên cứu này đã giúp làm sáng tỏ cấu trúc và chức năng của chữ Nôm tự tạo trong văn bản.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Nghiên Cứu Chữ Nôm Tự Tạo

Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo gặp phải nhiều thách thức, từ việc thiếu tài liệu đến sự phức tạp trong cấu trúc chữ viết. Một trong những vấn đề lớn là việc phân loại chữ Nôm tự tạo, vì có nhiều cách thức tạo chữ khác nhau. Điều này đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải có phương pháp tiếp cận khoa học và hệ thống để phân tích.

2.1. Thiếu Tài Liệu Và Tài Nguyên Nghiên Cứu

Một trong những thách thức lớn nhất trong nghiên cứu chữ Nôm tự tạo là thiếu tài liệu. Nhiều văn bản cổ đã bị mất mát hoặc không được bảo tồn, gây khó khăn cho việc phân tích và so sánh. Điều này làm giảm khả năng hiểu biết về sự phát triển của chữ Nôm.

2.2. Phân Loại Chữ Nôm Tự Tạo

Phân loại chữ Nôm tự tạo là một nhiệm vụ phức tạp. Các nhà nghiên cứu cần xác định rõ ràng các tiêu chí phân loại, từ cấu trúc đến chức năng. Việc này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về chữ Nôm mà còn tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Chữ Nôm Tự Tạo Hiệu Quả

Để nghiên cứu chữ Nôm tự tạo một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp khoa học và hệ thống. Việc phân tích cấu trúc và chức năng của chữ Nôm tự tạo sẽ giúp làm rõ hơn về vai trò của nó trong văn bản giải âm Truyền kỳ mạn lục.

3.1. Phân Tích Cấu Trúc Chữ Nôm Tự Tạo

Phân tích cấu trúc chữ Nôm tự tạo giúp xác định các thành phần cấu tạo và cách thức hoạt động của chúng trong ngữ cảnh. Điều này cho phép các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về cách mà chữ Nôm tự tạo được hình thành và sử dụng.

3.2. Nghiên Cứu Chức Năng Của Chữ Nôm Tự Tạo

Nghiên cứu chức năng của chữ Nôm tự tạo giúp làm rõ vai trò của chúng trong việc truyền đạt ý nghĩa và âm thanh. Các nhà nghiên cứu cần xem xét cách mà chữ Nôm tự tạo tương tác với các yếu tố ngôn ngữ khác trong văn bản.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Chữ Nôm Tự Tạo

Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Việc hiểu rõ về chữ Nôm tự tạo có thể giúp cải thiện việc giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, cũng như bảo tồn di sản văn hóa.

4.1. Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa

Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo góp phần vào việc bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam. Việc hiểu rõ về chữ Nôm giúp các thế hệ sau có thể tiếp cận và gìn giữ những giá trị văn hóa quý báu.

4.2. Cải Thiện Giáo Dục Ngôn Ngữ

Việc nghiên cứu chữ Nôm tự tạo có thể cải thiện chương trình giảng dạy ngôn ngữ Việt Nam. Các giáo viên có thể sử dụng những kiến thức này để giúp học sinh hiểu rõ hơn về ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Chữ Nôm Tự Tạo

Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm Truyền kỳ mạn lục là một lĩnh vực quan trọng, mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới. Việc hiểu rõ về chữ Nôm tự tạo không chỉ giúp bảo tồn văn hóa mà còn tạo ra những giá trị mới cho ngôn ngữ học Việt Nam.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Chữ Nôm

Tương lai của nghiên cứu chữ Nôm tự tạo hứa hẹn sẽ có nhiều phát triển mới. Các nhà nghiên cứu cần tiếp tục khai thác và phân tích các văn bản cổ để làm sáng tỏ hơn về chữ Nôm.

5.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Mới

Các hướng nghiên cứu mới có thể bao gồm việc so sánh chữ Nôm tự tạo với các hệ thống chữ viết khác, hoặc nghiên cứu sự ảnh hưởng của chữ Nôm đến ngôn ngữ hiện đại. Điều này sẽ giúp mở rộng hiểu biết về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học nghiên cứu chữ nôm tự tạo trong văn bản giải âm truyền kỳ mạn lục

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TONG QUAN VE CHỮ NOM VÀ VĂN BẢN TAN BIEN TRUYEN KY MAN LUC Dẫn nhập: Với đề tài luận án là Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm Truyền kỳ mạn lục, trước hết người đọc có thé sẽ đặt ra những câu hỏi như: Chữ Nôm là gi? Chữ Nôm tự tao là gì? Văn bản giải âm Truyén kỳ mạn luc là một văn bản như thế nào? Đề giải đáp những vấn đề này, trong chương đầu của luận án chúng tôi sẽ làm rõ định nghĩa chữ Nôm một cách khách quan dựa trên những định nghĩa đã có của các học giả, giới thiệu tong quan về tình hình nghiên cứu chữ Nôm tại Việt Nam và ở các nước khác; phân biệt rõ khái niệm chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo; đồng thời cũng giới thiệu bốn bộ ván in cơ bản và những văn bản khác nhau của Tân biên truyền kỳ mạn lục, đặc biệt nhân mạnh bản mang ký hiệu HN 257 và HN 258 là đối tượng nghiên cứu chính của luận án.1 Định nghĩa chữ Nôm Muốn đi sâu vào nghiên cứu chữ Nôm, trước hết chúng ta phải làm rõ vấn đề định nghĩa chữ Nôm. Về vấn đề này, nhiều học giả đã nêu ra quan điểm của mình trong các chuyên khảo hoặc bài viết đã công bố. Ví dụ trong cuỗn Chữ Nôm: Nguồn gốc-cấu tạo-diễn biến, Đào Duy Anh viết: “Chữ Nom là thứ chữ dân tộc của ta đã được dùng trong gần mười thế kỷ, mãi đến gần đây, cuối thời Pháp thuộc nó mới trở thành, cũng như chữ Hán, một thứ cô tự không được dùng trong đời sống hàng ngày nữa.” [Đào Duy Anh, 1975, tr. Trong bài Điểm qua vài nét về tình hình cấu tạo chữ Nôm, Nguyễn Tài Can và N.Xtankevich viết: “Chữ Nôm là một lối chữ vuông, xuất thân từ chữ Hán, nhưng lại chuyên dùng để ghi tiếng Việt.” [Nguyễn Tài Cân, 1985, tr.

Trong cuốn Các phương thức biểu âm trong cấu trúc chữ Nôm Việt, Nguyễn Tá Nhí viết: “Chữ Nôm là chữ viết của người Việt Nam được tạo 23 ra bang cách sử dụng các yếu tố có sẵn trong chữ Hán.” [Nguyễn Tá Nhí, 1997, tr. Trong cuốn Ly thuyét chữ Nôm văn Nôm, Nguyễn Ngọc San viết: “.chữ Nôm là nền văn tự ghi âm, tất nhiên là ghi theo cách riêng của nó, tuy nhiên về hình thé nó thuộc loại văn tự hình khối, biểu ý.” [Nguyễn Ngọc San, 2003, tr. Trong “Lời dẫn” cho bộ Tu điển chữ Nôm (2006), Nguyễn Quang Hồng viết rang: “Chữ Nôm của dân tộc Việt là một thứ chữ ô vuông [.], về cơ bản là biểu âm biểu ý, theo kiểu Hán tự” [Nguyễn Quang Hồng, 2006e, tr. Trong cuốn Khdi luận văn tự học chữ Nôm, ông còn xác định chữ Nôm như một hệ thống văn tự theo một loạt các tiêu chí đặc trưng: “(a) Chữ Nôm là văn tự viết nét bút theo ‘6 vuông' [.] (b) Chữ Nôm là văn tự ô vuông ghi âm tiết [.] (c) Chữ Nôm là văn tự 6 vuông ghi ngữ tố [.] (d) Chữ Nom là văn tự chữ vuông ghép thành tố [.] (e) Chữ Nôm là văn tự 6 vuông biéu âm - biểu ý[.]” [Nguyễn Quang Hồng, 2008, tr.

O Trung Quốc, cũng có nhiêu học giả nêu ý kiên của mình về định nghĩa chữ Nôm. Vi dụ trong cuốn Nghiên cứu tiếng Hán Việt 4h07, Vương Lực 7) cho rằng: “Chữ Nôm, là thứ chữ được tạo ra cho tiếng nói thông tục trong tiếng Việt theo phép tạo chữ của chữ Hán. Trong bài “Chữ Nôm của Việt Namites num”, Mã Khắc Thừa 4 Wim viết: “Chữ Nom là văn tự dân tộc Việt Nam được tạo ra theo phép tạo chữ của chữ Hán, đọc theo âm Hán Việt. Trong bài “Bàn về anh hưởng của chữ Hán đối với chữ Nom #0 HH”, Dam Chí Từ ï#ä:ij viết: “Chữ Nôm là một hệ thống văn tự Việt Nam được tạo ra trên cơ sở sử dụng chữ Hán, lấy chữ Hán và bộ thủ chữ Hán làm nguyên liệu, áp dụng ba phép tạo chữ là giả tá, hình thanh và hội ý, cơ bản đọc theo âm Hán Việt (bao gồm âm cô Hán Việt và âm Hán Việt ngày nay), dùng để ghi tiếng Việt (gồm cả từ Hán Việt).

Trong bai “Dinh nghĩa chữ Nôm ISZZ:3/”, Lâm Minh Hoa #446 cho rằng: “Chữ Nôm là một loại văn tự ô vuông của Việt Nam được tạo ra trên cơ sở chữ Hán trong thời kỳ sử dụng chữ Hán bằng phép tạo chữ giả tá, hình thanh, hội ý trong ‘Luc thu’, dùng dé ghi “quốc 4m’[=tiéng nói thông tục, không bao gồm từ 24 Han Việt-tác giả luận án] trong tiếng Việt. Nói tóm lại, chữ Nôm tức là văn tự thông tục dân gian dùng dé ghi “quốc 4m’ trong tiếng Việt. Ngoài ra, trong nhiều từ điển cũng có định nghĩa về chữ Nôm. Vi dụ trong Ti điển tiếng Việt đã định nghĩa chữ Nôm là: “Chữ viết cô của tiếng Việt, dựa vào chữ Hán mà đặt ra.” [Từ điển tiếng Việt, 2008, tr.

Trong bộ Từ Hải ### của Trung Quốc đã định nghĩa chữ Nôm là “những chữ Hán mượn dùng và những chữ Việt Nam được tạo ra theo hình thức chữ Hán dé ghi tiếng Việt Nam trong thời kỳ Việt Nam mượn dùng chữ Hán” [#‡#£, 1987, tr. Tóm lại, nói tới chữ Nôm, người ta thường xuất phát từ các mặt đặc trưng, tính chất, phạm vi sử dụng v. của thứ chữ này để nêu ra định nghĩa. Chúng tôi cho rằng, muốn định nghĩa chữ Nom một cách toàn diện và khách quan, trước tiên phải làm rõ hai vấn đề như sau: Một là loại chữ Hán mượn dùng - mượn hình, mượn nghĩa và đọc theo âm Hán Việt - trong văn bản Nôm có phải là chữ Nôm hay không? Về vấn đề này, có học giả cho rằng đây là chữ Hán, chứ không phải là chữ Nôm, vì loại chữ này mượn cả ba mặt âm, nghĩa, hình của chữ Hán.

Chỉ có loại chữ Hán mượn dùng có đặc trưng là đồng hình, đồng (hoặc gần) âm nhưng khác nghĩa mới là chữ Nom.’ Nhung phan nhiều học giả cho rằng đây là loại chữ mượn Hán cả về văn tự cả về từ ngữ, được sử dụng tự nhiên trong văn bản chữ Nôm tiếng Việt, cho nên phải được quy vào phạm trù chữ Nôm. Quan điểm này đã được thể hiện rõ trong cách phân loại chữ Nôm của các học giả, như Đào Duy Anh, Nguyễn Tài Can, Nguyễn Quang Hong.” Chúng tôi cho rằng loại chữ này tất nhiên là chữ Hán, nhưng đồng thời cũng là chữ Nôm. Vì nó đã được mượn dùng trong văn bản Nôm, cùng với các loại chữ Nôm khác cấu thành một nền văn tự hoàn chỉnh, đảm nhận chức năng ghi ngôn ngữ Việt Nam. ! Xin xem: [}Rjf£, 1989, tr.

? Xin lần lượt xem tại: [Đào Duy Anh, 1975, tr. 65-84], [Nguyễn Tài Cần, 1985, tr.53], [Nguyễn Quang Hồng, 2008, tr. 25 Hai là về mặt đặc trưng loại hình, chữ Nôm là một loại văn tự như thế nào? Chữ Nôm không phải là một loại văn tự thuần biéu ý, điều này đã được mọi người công nhận. Nhưng về van đề chữ Nôm là một thứ chữ biéu âm- biểu ý hay là một loại văn tự ghi âm thì vẫn có tranh luận.

Ví dụ Nguyễn Ngọc San cho rang chữ Nom là một loại văn tự ghi âm: “.nhìn toàn bộ quá trình phát triển của chữ Nôm ta thay lúc nào nó cũng cố gắng ghi trung thành âm Việt ở thời điểm nó sáng tác và xét về mặt đó thì chữ Nôm là nền văn tự ghi âm, tất nhiên là ghi theo cách riêng của nó, tuy nhiên về hình thể nó thuộc loại văn tự hình khối, biểu ý.” [Nguyễn Ngọc San, 2003, tr. Nguyễn Quang Hồng thì lưu ý đến một tình hình ngược lại, là “nếu nhìn toàn bộ quá trình phát triển chữ Nôm thì ta thấy một sự thực là chữ “giả tá” mượn từ chữ Hán dé ghi âm các từ gốc Việt ngày càng được “hình thanh” hóa, nghĩa là từ chỗ các từ ấy chỉ được biểu âm thuần túy, trở nên có chữ ghép 'âm+ý' dé thé hiện phần nghĩa của nó nữa. Đương nhiên là với quan hệ liên tưởng qua lại giữa âm và nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ, cả hai thành tố “biểu 4m’ và “biểu y’ trong chữ vuông sẽ “hỗ tro” cho nhau dé nhận diện ra âm và nghĩa chính xác của ngữ tố được ghi. Hai ‘mat’ âm và nghĩa ở đây là ‘hai mặt của một tờ giấy', không thé chỉ thừa nhận mặt này ma phủ nhận mặt kia.xét về mật độ chữ Hán ghi âm Nôm kha đậm trong van ban, ta có thé nói rằng văn ban chữ Nôm nghiêng về mặt biéu âm, nhưng điều này không thể phủ nhận chữ Nôm là một hệ thống văn tự biểu âm - biểu ý khá điển hình.” [Nguyễn Quang Hồng, 2008, tr.

Chúng tôi đồng ý với quan điểm của Nguyễn Quang Hồng, cho rằng chữ Nôm là một loại văn tự biểu âm - biểu ý. Vì dù răng những chữ Nôm xuất hiện đầu tiên là mượn từ chữ Hán để ghi âm tiếng Việt bằng cách giả tá, nhưng dần dần nhiều chữ giả tá này đã được gia thêm thành tố biểu ý dé hình thanh hóa, loại chữ hình thanh có tỷ lệ ngày càng cao hơn; ngoài ra, trong chữ Nôm còn có một loại chữ là chữ hội ý. Những điều này chứng tỏ thành tố biéu ý là phần rất quan trong trong cấu trúc chữ Nôm, vi vậy, nói chữ Nôm là một loại văn tự biêu âm - biêu ý thì chính xác hơn và toàn diện hơn. 26 Trên cơ sở những định nghĩa về chữ Nôm của các học giả và những điều thảo luận ké trên, chúng tôi xin nêu ra cách định nghĩa của mình về chữ Nôm: Chữ Nôm là một hệ thống van tự Việt Nam được tao ra trên cơ sở chữ Hán dé ghi tiếng Việt, là một loại văn tự biéu âm - biểu ý (ghi âm tiết — ngữ tố), bao gồm hai phan lớn là chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo (hai khái niệm này sẽ được trình bày ở tiểu mục 1.2 Tình hình nghiên cứu chữ Nôm 1.1 Tình hình nghiên cứu chữ Nôm ở Việt Nam Ở Việt Nam, việc nghiên cứu chữ Nôm được triển khai khá sớm.

Khi chữ Nôm còn được sử dụng rộng rãi đã được nhiều học gia quan tâm va tiến hành nghiên cứu nhằm phục vụ công việc giảng dạy và dé ra phương án cải tiễn văn tự dân tộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Chữ Nôm Tự Tạo Trong Văn Bản Giải Âm Truyền Kỳ Mạn Lục" mang đến cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng chữ Nôm trong văn bản truyền kỳ, đặc biệt là trong việc giải âm và tự tạo chữ. Nghiên cứu này không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về sự phát triển của chữ Nôm mà còn khám phá những giá trị văn hóa và ngôn ngữ tiềm ẩn trong các tác phẩm văn học cổ điển.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm việc nâng cao kiến thức về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, cũng như cách thức mà chữ Nôm đã được sử dụng để thể hiện ý tưởng và cảm xúc trong văn học. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký tô hoài, nơi khám phá cách thức sử dụng ngôn ngữ trong hồi ký, hay Luận văn thế giới tâm linh trong truyện thơ nôm, giúp bạn hiểu thêm về các yếu tố tâm linh trong văn học Nôm. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ việt nam ẩn dụ tri nhận trong thơ nguyễn bính cũng là một tài liệu thú vị để tìm hiểu về các biện pháp tu từ trong thơ ca Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng tầm hiểu biết và khám phá sâu hơn về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.