Chương 1 – Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài; Chương 2 – Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa hiến pháp; Chương 3 – Sự phát triển của chủ nghĩa hiến pháp ở Việt Nam; Chương 4 – Thuận lợi, thách thức và triển vọng của chủ nghĩa hiến pháp ở Việt Nam. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu Chủ nghĩa hiến pháp (tiếng Anh: Constitutionalism) là lý thuyết có nguồn gốc từ truyền thống chính trị-pháp lý phương Tây, được khởi đầu từ khoảng thế kỷ 17, nhưng ngày nay đã trở thành một giá trị chung phổ quát của nhân loại. Do đó, chủ nghĩa hiến pháp là một chủ đề lớn được giới học thuật trên thế giới nói chung, phương Tây nói riêng, quan tâm nghiên cứu trong gần hai (2) thế kỷ qua.
Các nghiên cứu hiện có về chủ nghĩa hiến pháp khá phong phú, có thể khái quát theo từng vấn đề như sau: Thứ nhất, nghiên cứu về lịch sử hình thành, phát triển của chủ nghĩa hiến pháp. Có thể nói, tập hợp gồm sáu (6) bài giảng được xuất bản thành cuốn sách Constitutionalism: Ancient and Modern (Chủ nghĩa hiến pháp: Cổ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đại và hiện đại, 1947 [1940]) của tác giả Charles H. McIlwain là nghiên cứu có ảnh hưởng đầu tiên về chủ nghĩa hiến pháp, trong đó trình bày sự phát triển cơ bản (chưa phải toàn diện) của chủ nghĩa hiến pháp và chỉ ra những nguyên tắc nổi bật nhất gắn với một số quốc gia nhất định. Trong tác phẩm, McIlwain đã chia chủ nghĩa hiến pháp thành hai (2) thời kỳ chính với mốc là thế kỷ 18, gắn với các yếu tố về nguồn gốc, ý nghĩa của hiến pháp: chủ nghĩa hiến pháp Cổ-Trung đại và chủ nghĩa hiến pháp hiện đại.
Quan niệm của ông thường hay được dẫn chiếu đến là: chủ nghĩa hiến pháp “là những giới hạn pháp lý đối với chính quyền; là phản đề của sự cai trị tùy tiện” [153, tr. Trong một nghiên cứu công phu và toàn diện khác: Controlling the State: Constitutionalism from Ancient Athens to Today (Kiểm soát Nhà nước: Chủ nghĩa hiến pháp từ Athens cổ đại cho đến ngày nay, 2002), tác giả Scott Gordon cho rằng, McIlwain đi đúng hướng khi tập trung vào yếu tố hạn chế quyền lực nhà nước, nhưng gần như làm mất đi tính mạch lạc khi nhấn mạnh vào giới hạn pháp lý [138, tr. Trong nghiên cứu của mình, Gordon bắt đầu với việc nghiên cứu lý thuyết về chủ quyền, chủ quyền nhân dân, chủ quyền Nghị viện, và phân tích so sánh chủ nghĩa hiến pháp trong các chế độ Athens và La Mã cổ đại cho đến Anh Quốc, Hoa Kỳ hiện đại. Ông cho rằng, những ý tưởng ban đầu về chủ nghĩa hiến pháp đã xuất hiện và được thực hành ở mức độ nhất định trong các xã hội Hy Lạp và La Mã cổ đại (qua các tác phẩm của Plato, Aristotle, Cicero).
Tuy nhiên, phải đến thời kỳ Khai Sáng ở châu Âu, tư tưởng về chủ nghĩa hiến pháp mới được phát triển và hoàn thiện. Trong một nghiên cứu có tiêu đề The Origins of Modern Constitutionalism (Nguồn gốc của chủ nghĩa hiến pháp hiện đại, 1949), Francis D. Wormuth cũng cho rằng, truyền thống của chủ nghĩa hiến pháp bắt đầu từ Athens cổ đại và có một lịch sử phát triển dài, gián đoạn, và không theo quy luật cho đến ngày nay [191, tr. Trong nghiên cứu The Idea of 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nonliberal Constitutionalism (Quan niệm về chủ nghĩa hiến pháp phi tự do, 1997), Graham Walker cho rằng, các lý thuyết chủ nghĩa hiến pháp đã phát triển ở trong giai đoạn trước thời kỳ Khai Sáng bởi các nhà tư tưởng Hy Lạp, hiến gia La Mã, học giả trung cổ và triết gia khế ước xã hội [188, tr.
Các nghiên cứu của tác giả Bo Li (Lý Ba) [3] và David Held [48, tr.115-116] đều cho rằng chủ nghĩa hiến pháp gắn liền với truyền thống pháp quyền La Mã cổ đại. Một nghiên cứu mới công bố gần đây thuộc lĩnh vực kinh tế-chính trị: Why Nations Fail: The Origins of Power, Prosperity, and Poverty (Tại sao các quốc gia thất bại, 2012), hai tác giả Daron Acemoglu và James Robison đã bổ sung những luận giải về lịch sử hình thành, phát triển của chủ nghĩa hiến pháp, đặc biệt trong thời hiện đại ở phương Tây. Cuốn sách dựa vào một lý thuyết rất đơn giản: những định chế kinh tế và chính trị dung hợp/bao gồm và chiếm đoạt/khai thác để giải thích sự phát triển của kinh tế-chính trị ở khắp nơi trên thế giới, từ thời kỳ đồ đá cho đến hiện đại. Qua nghiên cứu, có thể phần nào hiểu được tại sao chủ nghĩa hiến pháp hiện đại lại bắt nguồn từ Anh chứ không phải quốc gia khác, tại sao Hoa Kỳ là chính quyền hợp hiến tiếp theo chứ không phải Pháp,… Nghiên cứu cũng cho thấy, sự phát triển thể chế chính trị hiện đại ở Tây Âu và Hoa Kỳ diễn ra theo ba (3) lộ trình: Thứ nhất, cách mạng công nghiệp và các cuộc nội chiến ở Anh đã thay đổi chế độ cai trị phong kiến chuyên chế lâu đời, hình thành một thể chế mới dựa trên các nguyên tắc của hiến pháp và chủ nghĩa đa nguyên.
Thứ hai, Hoa Kỳ và Úc không có lịch sử cai trị phong kiến chuyên chế, đã ra đời trong những hoàn cảnh khác biệt với các định chế dung hợp và sự ảnh hưởng lan truyền của cách mạng công nghiệp. Thứ ba, cuộc Cách mạng Pháp đã lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp và sau đó thúc đẩy cải cách thể chế ở phần lớn các quốc gia Tây Âu [1 và 118]. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số nghiên cứu khác lại sử dụng những tiêu chí nhất định để phân chia các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa hiến pháp. Như tác giả Đào Trí Úc dựa vào mô hình hiến pháp để chia sự phát triển của chủ nghĩa lập hiến thành ba (3) giai đoạn: chủ nghĩa lập hiến tự do, chủ nghĩa lập hiến xã hội, và chủ nghĩa lập hiến hiện đại [119].
Hai tác giả Đặng Minh Tuấn và Nguyễn Văn Quân dựa vào quan niệm về ý nghĩa của hiến pháp chia lịch sử của chủ nghĩa hiến pháp thành bốn (4) giai đoạn: chủ nghĩa hiến pháp cổ đại, chủ nghĩa hiến pháp cận đại, chủ nghĩa hiến pháp hiện đại, tân chủ nghĩa hiến pháp [99]. Còn tác giả Bùi Ngọc Sơn sử dụng cách quan niệm bản chất-mục đích-phương tiện về chủ nghĩa hiến pháp để khảo sát: chủ nghĩa hợp hiến cổ và trung đại, chủ nghĩa hợp hiến hiện đại [79], và chủ nghĩa hợp hiến Nho giáo [173]. Ngoài ra, Bùi Ngọc Sơn cũng nghiên cứu về chủ nghĩa hợp hiến chuyển đổi [69], chủ nghĩa hợp hiến tích cực [70], chủ nghĩa hợp hiến đại chúng (popular constitutionalism) [172]. Nhìn chung, phần lớn giới nghiên cứu ở trong và ngoài nước đồng ý rằng, tư tưởng về chủ nghĩa hiến pháp xuất hiện từ thời cổ đại, nhưng chỉ phát triển thành một lý thuyết hoàn chỉnh từ thời kỳ Khai Sáng ở châu Âu cùng sự ra đời của các định chế chính trị-pháp lý cụ thể (xem Chương 2).
Nội dung cốt lõi của chủ nghĩa hiến pháp là chống lại quyền lực tùy tiện (chứ không phải mọi quyền lực): quyền lực có được kiểm soát một cách hiệu quả và thực tế hay không, bảo đảm chính quyền phải có trách nhiệm với các chuẩn mực chung của cộng đồng, bằng các quy tắc pháp lý thành văn hoặc bất thành văn (các giới hạn cấu trúc/ structural limits). Đây chính là cơ sở cho các nghiên cứu về chủ nghĩa hiến pháp cổ và trung đại phát triển, cũng như chủ nghĩa hiến pháp bên ngoài phương Tây (ví dụ, chủ nghĩa hiến pháp Nho giáo Đông Á) [72 và 173]. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhiều nghiên cứu cho rằng, chủ nghĩa hiến pháp cổ và trung đại (ở phương Tây) gắn liền với ý thức lập hiến và các định chế chính trị phản ánh các giá trị tự do, bình đẳng, công lý có ý nghĩa ngăn ngừa sự lạm quyền của bạo chúa [72 và 79]. Trong khi đó, chủ nghĩa hiến pháp hiện đại là sự định chế hóa chủ nghĩa tự do Tây Âu và Hoa Kỳ [4 và 79].
Tuy nhiên, nếu giới hạn quyền lực với mục đích để bảo vệ các quyền và tự do cá nhân là đặc trưng của chủ nghĩa hiến pháp ở Hoa Kỳ và phương Tây, thì các xã hội bên ngoài phương Tây có thể cam kết với những giá trị chung khác của cộng đồng hơn là chủ nghĩa tự do hoặc chủ nghĩa cá nhân [173]. Trong khi đó, có tác giả cho rằng sự khác biệt giữa phương Tây (châu Âu và Bắc Mỹ) và phần còn lại của thế giới là chủ nghĩa tự do hiến định/constitutional liberalism (hay chủ nghĩa hiến pháp) [191]. Thứ hai, nghiên cứu về khái niệm, nội hàm, các yếu tố cấu thành của chủ nghĩa hiến pháp. Các nghiên cứu hiện có cho thấy, không có/chưa có định nghĩa chung thống nhất về chủ nghĩa hiến pháp, mà chỉ có thể mô tả chi tiết và khái quát hóa khái niệm qua các yếu tố cấu thành.
Tuy nhiên, nội hàm căn bản của chủ nghĩa hiến pháp thì không thay đổi: quyền lực của nhà nước là có giới hạn và phải chịu sự kiểm soát để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của con người. Các tác giả như Charles McIlwain [153], Wil Waluchow [189], Gregory Mahler [152], hay Don Fehrenbacher [122] đưa ra quan niệm về chủ nghĩa hiến pháp theo phương diện tư tưởng, tức chỉ các quan niệm về một chính quyền hữu hạn (a limited government). Trong khi đó, các tác giả như Andrew Heywood [144], Takashi Shogimen [169], Giovanni Sartori [168], Louis Henkin [143], David Fellman [135], Bo Li (Lý Ba) [3] và Nguyễn Đăng Dung [25] lại đưa ra quan niệm về chủ nghĩa hiến pháp theo phương diện thực tiễn, tức chỉ một chính quyền trong đó tồn tại các sắp xếp thể chế bảo đảm quyền lực của nhà nước bị giới hạn. Các tác giả Graham Walker 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com [188] và Bùi Ngọc Sơn [72] gọi giới hạn theo phương diện tư tưởng là các giới hạn quy phạm/normative or aspirational limits (như: tự do, bình đẳng, công lý), có tính quy chuẩn mà chính quyền phải tôn trọng và hướng đến; giới hạn theo phương diện thực tiễn là các giới hạn cấu trúc/structural limits, tức các sắp xếp thể chế như: phân quyền, chế độ liên bang, lưỡng viện, tài phán hiến pháp, bầu cử,… được xây dựng để bảo đảm giới hạn quy phạm.
Các giới hạn quy phạm và giới hạn cấu trúc được coi là hai (2) trong số ba (3) thuộc tính biểu hiện của chủ nghĩa hiến pháp.