CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ CÔNG CHÚNG VÀ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH QUAN HỆ CÔNG CHÚNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ CÔNG CHÚNG: 1. Khái niệm quan hệ công chúng và chính sách quan hệ công chúng: Khái niệm Public Relations (PR) thường được gọi (dịch) ở Việt Nam với nhiều cách khác nhau như: quan hệ công chúng, quan hệ cộng đồng, giao tế cộng động, quan hệ đối ngoại.Trong luận văn này, khái niệm Public Relations với tên tiếng Việt được dịch là Quan hệ công chúng trên cơ sở được nhiều tác giả Việt Nam thừa nhận và được sử dụng trong giáo trình giảng dạy của Đại học Kinh tế Đà Nẵng. Quan hệ công chúng được hiểu cơ bản là việc một cơ quan tổ chức hay doanh nghiệp chủ động quản lý các giao tiếp cộng đồng để tạo dựng và giữ gìn một hình ảnh tích cực của mình.
Trong quá trình hình thành và phát triển của lĩnh vực quan hệ công chúng, theo thời gian đã có nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau. Một số khái niệm đặc trưng về quan hệ công chúng đã được các cơ quan chuyên môn và các tác giả có uy tín trong lĩnh vực đưa ra như sau: Học viện Quan hệ công chúng Anh quốc (England Institute of Public Relations – IPR) thống nhất khái niệm: “Quan hệ công chúng là một nỗ lực có kế hoạch và mang tính lâu dài nhằm thiết lập và duy trì sự tín nhiệm cũng như sự hiểu biết lẫn nhau giữa một tổ chức và các đối tượng công chúng có liên quan” [4, tr. Năm 1978, trong cuộc họp giữa các viện sĩ thông tấn PR đến từ nhiều nước (World Assembly of Public relations Associates) diễn ra tại thành phố Luan van 8 Mexico, quan hệ công chúng được định nghĩa: “PR là một nghệ thuật và môn khoa học xã hội, phân tích những xu hướng, dự đoán những kết quả, tư vấn đưa ra các lời khuyến cáo cho các nhà lãnh đạo của tổ chức và thực hiện các chương trình hành động đã được lập kế hoạch để phục vụ quyền lợi của cả tổ chức và công chúng”. Frank Jefkins trong cuốn “Phá vỡ bí ẩn PR”, bản dịch của Nhà xuất bản Trẻ cho rằng: “Quan hệ công chúng bao gồm tất cả các hình thức giao tiếp được lên kế hoạch, cả bên trong và bên ngoài tổ chức, giữa một tổ chức và công chúng của nó nhằm đạt được mục tiêu cụ thể liên quan đến sự hiểu biết lẫn nhau” [5, tr.
Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh hoạt động có mục tiêu cụ thể và có kế hoạch và như vậy, chúng ta có thể đánh giá mức độ thành công hay thất bại của một chiến dịch PR dựa trên những mục tiêu đã đề ra. Định nghĩa này ẩn trong nó các chức năng nghiên cứu, lên kế hoạch, thực hiện, đánh giá. Trang mạng Wikipedia có định nghĩa theo chức năng, quan hệ công chúng được hiểu như là “một chức năng quản trị nhằm mục đích thiết lập, duy trì truyền thông hai chiều, sự hiểu biết, chấp nhận và hợp tác giữa một tổ chức và công chúng của họ” [12]. Vào tháng 2 năm 2012, Hiệp hội Quan hệ công chúng Mỹ (Public Relations Society of America - PRSA) đã công bố định nghĩa về quan hệ công chúng trong một cuộc bình chọn do họ tổ chức như sau: “Quan hệ công chúng là quá trình truyền thông chiến lược nhằm xây dựng mối quan hệ cùng có lợi giữa tổ chức và công chúng của họ” (Nguyên văn: “Public relations is a strategic communication process that builds mutually beneficial relationships between organizations and their publics) [15].
Khái niệm chính sách được hiểu như là “tập hợp các nguyên tắc cơ bản và những hướng dẫn có liên quan, được xây dựng và thực thi bởi cơ quan Luan van 9 quản lý của một tổ chức nhằm chỉ đạo và định hướng các hành động trong việc theo đuổi mục tiêu dài hạn” (Nguyên văn: “The set of basic principles and associated guidelines, formulated and enforced by the governing body of an organization, to direct and limit its actions in pursuit of long-term goals”) [17]. Với khái niệm đó, chính sách quan hệ công chúng được hiểu như là những định hướng cơ bản về hoạt động quan hệ công chúng do tổ chức đề ra nhằm xây dựng mối quan hệ cùng có lợi giữa tổ chức và công chúng của họ. Chính sách quan hệ công chúng sẽ xác định phạm vi hoạt động quan hệ công chúng và đặt ra các quy tắc hoạt động nền tảng cho tổ chức. Chính sách quan hệ công chúng được đặt ra không phải để ràng buộc hay giới hạn các hoạt động, mà nhằm mục đích giúp mọi người nắm rõ nội dung trách nhiệm, ranh giới hoạt động, và trên hết là trách nhiệm của từng người cho từng hoạt động.
Vai trò và chức năng của quan hệ công chúng trong doanh nghiệp: 1. Vai trò của quan hệ công chúng: Các kỹ năng quan hệ công chúng được hình thành từ các hoạt động thực tiễn của doanh nghiệp. Đồng thời, công tác PR hiệu quả đem lại những đóng góp to lớn đối với các mục tiêu mang tính chiến lược dài hạn cho doanh nghiệp đó như: - Cải thiện hình ảnh hay thương hiệu cho doanh nghiệp; - Thay đổi thái độ của công chúng mục tiêu (đặc biệt là khách hàng); - Cải thiện mối quan hệ với cộng đồng xã hội; với các nhà đầu tư và các đối tác của doanh nghiệp. - Tăng cường thị phần trên thị trường.
- Gây ảnh hưởng lên các chính sách của chính quyền. Một vai trò quan trọng và cơ bản của PR là giúp doanh nghiệp truyền Luan van 10 tải các thông điệp đến khách hàng và những nhóm công chúng mục tiêu của họ. Với nhóm công chúng nội bộ (là nhân viên và các tổ chức trong doanh nghiệp), thông điệp có thể là những chỉ đạo, ý kiến, tầm nhìn của lãnh đạo được chuyển tải đến nhân viên để cùng nỗ lực đạt được tốt nhất các mục tiêu đề ra cũng như xoa dịu các bất đồng trong doanh nghiệp. Với nhóm công chúng bên ngoài, khi truyền đi các thông điệp này, PR giúp hình ảnh doanh nghiệp (hay sản phẩm) dễ đi vào nhận thức của khách hàng, hay cụ thể hơn là giúp khách hàng dễ dàng liên tưởng tới mỗi khi đối diện với một thương hiệu.
Hoạt động quan hệ công chúng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và nâng cao một hình ảnh tích cực về công ty với các giới có liên quan, và do đó có vai trò quan trọng trong xây dựng và quảng bá thương hiệu. Trong cuốn “Quảng cáo thoái vị và PR lên ngôi" của Al Ries và Laura Ries cho rằng “PR xây dựng thương hiệu. Quảng cáo bảo vệ thương hiệu. Quảng cáo không châm được ngọn lửa.
Nó chỉ có thể thổi gió vào ngọn lửa sau khi bốc cháy” [7]. Quan hệ công chúng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ vì chi phí cho hoạt động PR thấp hơn quảng cáo hay các loại hình khuyến mãi khác. Trong thực tế, ngân quỹ chi cho các hoạt động PR cũng thường thấp hơn chi phí quảng cáo nhiều lần mà hiệu quả thông tin chưa chắc đã thấp hơn. Các thông điệp quan hệ công chúng ít mang tính thương mại do sử dụng các phương tiện trung gian hoặc các bài viết trên báo chí, chứa đựng lượng thông tin đa dạng, phong phú nên có khả năng dễ gây cảm tình và dễ được công chúng chấp nhận.
Bên cạnh đó, nếu hoạt động quan hệ công chúng đạt hiệu quả tốt còn có thể giúp doanh nghiệp vượt qua những rủi ro trong quá trình kinh doanh, xử lý thông tin xấu phát sinh. Khi có rủi ro (sự cố), doanh nghiệp sẽ tìm được ủng hộ, bênh vực và hỗ trợ từ phía cộng đồng, hoặc tìm cách cữu vãn và giữ Luan van 11 nguyên vẹn hình ảnh của doanh nghiệp khi gặp khó khăn, trục trặc. Ngoài ra, PR cũng giúp doanh nghiệp thu hút được những nhân viên có chất lượng và giữ chân họ. Bằng hình ảnh được tạo dựng thích hợp hay tuyên truyền văn hóa doanh nghiệp hấp dẫn, doanh nghiệp nhiều khả năng nhận được sự quan tâm, hứng thú của người lao động hơn so với các đơn vị khác.
Hoạt động PR nội bộ có hiệu quả cũng giúp nhân viên nâng cao năng suất lao động, tinh thần đoàn kết nội bộ và gắn bó với doanh nghiệp, ngay cả trong điều kiện khó khăn về kinh tế. Chức năng của quan hệ công chúng: Hoạt động quan hệ công chúng được thực hiện trên nhiều lĩnh vực, bao gồm: - Viết các bản tin báo chí, diễn văn, brochure và nội dung quảng cáo. Giữ quan hệ tốt đẹp với báo chí và các cơ quan truyền thông. - Lập kế hoạch và tổ chức các sự kiện đặc biệt, họp báo, các buổi tiếp tân của ban lãnh đạo doanh nghiệp.
- Tham mưu cho lãnh đạo doanh nghiệp trong các cuộc tiếp xúc với các cộng đồng quan trọng. Nghiên cứu những thái độ và suy nghĩ có ảnh hưởng đến niềm tin và hành vi. Tạo ra sự nhận biết với những phẩm chất tích cực cho doanh nghiệp, đề cao hình ảnh và thông điệp của doanh nghiệp trong cộng đồng. - Đối thoại với người tiêu dùng thông qua các bài viết và phát biểu.
- Quan hệ với nhân viên: truyền thông với tất cả các cộng đồng quan trọng trong nội bộ doanh nghiệp, những người đứng đầu các bộ phận và nhân viên trong công ty. - Ứng xử với các nhà làm luật, người thi hành luật, chính quyền trung ương, chính quyền địa phương và tất cả những ai thay mặt chính quyền làm việc với doanh nghiệp. Luan van 12 - Quan hệ với các nhà đầu tư: đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, truyền thông với các cổ đông và những người tư vấn cho họ. - Quản trị sự cố và cộng đồng: ứng xử với luật lệ, qui định của cộng đồng và ảnh hưởng đối với hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức cũng như xác định và giải quyết những sự cố có liên quan đến doanh nghiệp, tổ chức.
- Quản trị kênh thông tin: quản trị kênh thông tin chính của doanh nghiệp, tổ chức và xử lý các thông tin có liên quan đến doanh nghiệp, tổ chức như trang web, báo, đặc san của doanh nghiệp, tổ chức. Những lĩnh vực hoạt động trên của PR thể hiện bốn chức năng quan trọng nhất của PR: Chức năng quản lý: Hoạt động quan hệ công chúng bao gồm tư vấn chiến lược, chính sách quan hệ công chúng cho Ban Giám đốc của doanh nghiệp, thực hiện PR nội bộ, vì vậy, trước tiên hoạt động quan hệ công chúng thể hiện chức năng quản lý. Chức năng giao tiếp: Giao tiếp trong quan hệ công chúng là hệ thống giao tiếp hai chiều.