Chương 1 này giới thiệu tong quan về dự án nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ của các tác giả ở các nước khác nhau. Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu cùng với các giả thuyết đề ra. Chương 4 trình bày phương pháp và kết quả nghiên cứu định lượng để kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết cùng các giả thuyết đề ra đồng thời đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ của siêu thị.
Cuối cùng chương 5 tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu, các đóng góp cho nhà quản trị, các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. l6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYET 2. Quan niệm về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng: 2. Chất lượng dịch vụ: Theo triết lý của Nhật Bản thì chất lượng là: “không có lỗi - làm đúng ngay từ đầu”.
Nhưng đối với dịch vu, nó là một sản phẩm vô hình, chúng ta chỉ có thé cảm nhận và đánh giá nó thông qua việc trãi nghiệm trực tiếp. Nó không phải là loại hàng hóa mà ta dễ dàng đánh giá chúng dựa trên hình dáng thiết kế sản phẩm, màu sắc của bao bì. ma chúng ta có thé cảm nhận thông qua các giác quan như sờ, ngửi, nhìn, hoặc nếm. Nhưng đối với dịch vụ thì việc đánh giá chất lượng khó khăn hơn nhiều, điều này có thể giải thích dựa vào các đặc điểm của dịch vụ lả: vô hình, không đồng nhất và không thể tách ly.
Dịch vụ vốn không đồng nhất, đăc biệt đối với những dịch vụ bao hàm sức lao động của con người cao. Bởi vì hoạt động của dich vụ thường thay đổi từ các nhà cung cấp dich vu, từ khách hang, va chat luong dich vu cung cấp cũng khác theo từng ngày, từng tháng và năm kinh doanh. Nên việc đòi hỏi chất lượng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên cũng sẽ rât khó đảm bảo. Đối với những dịch vụ có hàm lượng lao động cao thì chất lượng dịch vụ thé hiện qua quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ.
Mặt khác, đối với những dịch vụ đòi hỏi sự tham gia ý kiến của người tiêu dùng thì chính những người tiêu dùng lại là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng của dịch vụ. Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ. Lấy ví dụ như Lehtinen & Lehtinen (1982) cho là chất lượng dịch vụ 17 phải được đánh giá trên hai khía cạnh: quá trình cung cấp dich vụ va kết qua của dich vụ. Gronroos (1984) cũng dé nghi hai linh vuc cua chat lượng dịch vu là: chất lượng kỹ thuật và chất lượng kỹ năng.
Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ và chất lượng kỹ năng nói lên chúng được phục vụ như thế nảo. Sự hài lòng: Theo Oliver (1997), “Sự hai lòng là phản ứng của khách hàng đối với việc đáp ứng những mong muốn. Những mong muốn này bao gém cả mức độ đáp ứng trên mức mong muôn và dưới mức mong muôn”. Như vậy khách hàng có thể cảm nhận một trong ba mức độ hài lòng: không hài lòng nếu như dịch vụ nhận được kém hơn ky vọng, hài lòng nếu dịch vụ nhận được ngang băng với kỳ vọng, và rất hài lòng, vui sướng, thích thú néu dịch vụ nhận được cao hơn kỳ vọng.
Để đạt được sự hài lòng khách hàng thì công ty không chỉ khảo sát thị trường, quảng cáo, khuyến mãi hay tập trung vào cơ sở hạ tầng mà phải cung cấp đúng sự mong đợi khách hàng. Khách hàng hài lòng sẽ có giá trị hơn nhiều so với sự không hài lòng, do đó mục tiêu chính của công ty là đáp ứng các mong đợi của khách hàng. Các nhà cung cấp dịch vụ nhận ra rằng khách hàng chính là tài sản của tổ chức. Trong việc xem xét tại các doanh nghiệp khi khách hàng hài lòng họ có thể có những hành vi thuận lợi đối với nhà cung cấp như tích cực nói tốt cho dịch vụ, sẵn sàng giới thiệu dịch vụ, và có ý định mua lại dịch vụ trong tương lai, giảm sự nhạy cảm về giá theo thời gian và sẵn sàng tham gia các nghiên cứu cùng với nhà cung cap.
Do đó sự hài long khách hàng có giá tri vô giá. Tuy nhiên khi họ không hài lòng với dịch vụ của nhà cung cấp thì cũng xảy ra các hậu quả tiêu cực. Quan trọng nhất khi họ không hài lòng với dịch vụ là vẫn im lặng mà không chọn cách khiếu nại để nhà cung cấp có cơ hội khắc phục và mang lại sự hài lòng lại cho khách hàng, im lặng và dừng 18 lại không mua dịch vụ nữa, hoặc đang đánh gia một nha cung cấp dịch vụ khác. Như vậy khách hàng không hài lòng sẽ gây ra một thiệt hại cho công ty.
Ngoài ra còn một số định nghĩa về sự hài lòng khách hàng: Kotler (2003) định nghĩa “Sự hài lòng là mức độ trạng thái cảm giác cua một người bắt đầu từ việc so sánh kết quả nhận được từ sản pham/ dịch vu với mong đợi cua người đó” Còn Zeithalm & Bitner (1994) cho rằng “Sự hai lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng về một sản phẩm hay dịch vụ đã đáp ứng nhu cầu và sự mong đợi của họ. Sự không đáp ứng được nhu cau và sự mong đợi làm khách hang không hai lòng với sản phầm hay dịch vụ đó” 2. Mô hình SERVQUAL: Trong các mô hình chất lượng dịch vụ, mô hình phố biến nhất là mô hình SERVQUAL, đây là mô hình do Parasuraman & ctg đưa ra, day là những người tiên phong trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ trong ngành tiếp thị một cách cụ thể chỉ tiết. Nghiên cứu tập trung vào mô hình này và các mô hình điều chỉnh của nó.
Mô hình SERVQUAL gồm mô hình năm khoảng cách và năm thành phần chất lượng dịch vụ. Năm khoảng cách chất lượng dịch vụ: 19 Vv Dịch vụ kỳvọng le A A Khoang cach 5 Khach hang Vv Dịch vụ cảm nhận |< rN thoảng cach 1 Khoangcach4 - — Dịch vụ chuyên giao [* >| Thông tin dén x khach hang i Khoang cach 3 Chuyén đổi cảm nhận của công ty thành tiêu chí chât lượng rN khoảng cach 2 ý Nha tiếp thị Nhân thức của công Vv ty vê kỳ vọng của khách hàng Hình 2.1: Mô hình 5 khoảng cách chất lượng dich vu Nguồn: Parasuraman & ctg (1985) Khoảng cách thứ nhất xuất hiện khi có sự khác biệt giữa các kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ va nha quan tri dịch vụ cảm nhận về kỳ vọng của khách hàng. Điểm cơ bản của sự khác biệt nay là do công ty dịch vụ không hiểu biết được hết những đặc điểm nao tạo nên chất lượng của dịch vụ mình cũng như cách thức chuyển giao chúng cho khách hàng để thỏa mãn nhu cầu của họ. Khoảng cách thứ hai xuất hiện khi công ty dịch vụ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhân thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính chất lượng của dịch vụ.
Trong nhiều trường hợp, công ty có thể nhận thức được kỳ vọng của khách 20 hàng nhưng không phải công ty luôn có thể chuyển đổi kỳ vọng này thành những tiêu chí cụ thé về chất lượng và chuyển giao chúng theo đúng ky vọng cho khách hàng. Nguyên nhân chính của vấn đề này là khả năng chuyên môn của đội ngũ nhân viên dịch vụ cũng như dao động quá nhiều của cầu về dịch vụ. Có những lúc cau về dich vụ quá cao làm cho công ty không thé đáp ứng kịp. Khoảng cách thứ ba xuất hiện khi nhân viên dịch vụ không chuyển giao dich vụ cho khách hàng theo những tiêu chí đã được xác định.
Trong dịch vụ, các nhân viên có liên hệ trực tiếp với khách hàng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tạo ra chất lượng. Tuy nhiên không phải lúc nao và tất cả các nhân viên điều có thể hoàn thành nhiệm vụ theo các tiêu chí đã đê ra. Phương tiện quảng cáo va thông tin cũng tác động vào kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Những hứa hen trong các chương trình quảng cáo khuyến mại có thé làm gia tăng kỳ vọng của khách hàng nhưng cũng sẽ làm giảm chất lượng mà khách hàng cảm nhận được khi chúng không được thực hiện theo đúng những gì đã hứa hẹn.
Đây là khoảng cách thứ tư. Khoảng cách thứ năm xuất hiện khi có sự khác biệt giữa chất lượng kỳ vọng bởi khách hàng va chất lượng họ cảm nhận được. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách thứ năm nay. Một khi khác hàng cảm thay không có sự khác giữa chất lượng họ kỳ vọng và chất lượng họ cảm nhận được khi tiêu dùng một dịch vụ thì chất lượng của dịch vu được coi là hoàn hảo.
Thành phan chất lượng dịch vụ Mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman & ctg (1985) cho chúng ta về một bức tranh tổng thể về chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, mô hình này mang tính khái niệm nhiều hơn. Các giả thuyết trong mô hình cần hàng loạt các nghiên cứu để kiểm định. Một trong những nghiên cứu này, và cũng là quan trọng nhất, là đo lường chất lượng 21 cua dich vu cam nhan boi khach hang.
Đề lam được việc này thì công việc đầu tiên là phải khái niệm hóa thành phần của chất lượng dịch vụ bởi khách hang dé có thé thiết kế một thang đo lường nó. Parasurama & ctg cho rằng, bất kì dich vụ nao, chất lượng của dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng có thể diễn tả theo mô hình thành mười phan: 1. Tin cay (reliability) nói lên kha năng thực hiện dịch vu phù hop va đúng thời hạn ngay lần dau. Đáp ứng (responsiveness) nói lên sự mong muôn và săn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Năng lực phục vụ (competence) nói lên trình độ chuyên môn dé thực hiện dich vụ. Khả năng phục vụ biểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu về năm bắt thông tin liên quan cần thiết cho việc phục vụ khách hàng. Tiếp cận (access) tạo ra mọi điều kiện dé dàng cho khách hàng trong việc tiếp cận với dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng, địa điểm phục vụ và giờ mở cửa thuận lợi cho khách hàng. Lich sự (courtesy) nói lên tính cách phục vụ niềm nở, tôn trọng và thân thiện với khách hàng.