Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, co sở lý luận và thực tiễn về CDS tại các DNVVN Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Đề xuất giải pháp thúc day CDS cho các DNVVN tại TP. Hà Nội CHUONG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE CDS TẠI CÁC DNVVN 1. TONG QUAN NGHIEN CUU VE CDS TAI CAC DNVVN 1.1 Tình hình nghién cứu trong nước: Theo Ha and Huu (2023) với nghiên cứu “The factors affecting digital transformation in Vietnam logistics enterprises” đã nhận định trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, quá trình CDS được coi là cuộc cách mạng làm thay đổi cách thức vận hành, MHKD. Tại Việt Nam, logistics là một trong 8 lĩnh vực cần được ưu tiên phát triển trong chương trình chuyên đổi đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định s6749/QD-TTg.
CDS là giải pháp thiết yếu giúp DN nâng cao hiệu quả kinh doanh năng lực cạnh tranh, tăng năng suất lao động, phát triển DN bền vững, hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Nghiên cứu đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến CDS và thực trạng tại các DN logistics Việt Nam. Nha lãnh dao Nhẫn lực sẽ CNTT ” ; Doanh nghiệp Logistics Chi phi Ho trợ Mô hình 1. Các nhân tố ảnh hướng đến CDS trong DN Logistics Nguồn: Ha and Huu (2023) Nghiên cứu trên đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua phỏng van trực tiếp 20 chuyên gia CDS trong lĩnh vực logistics về thực trạng, sau đó hiệu chỉnh mô hình, thang đo và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Nghiên cứu được thực hiện thông qua điều tra 258 phiếu khảo sát của các DN logistics tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chi ra rằng năm yếu tố: (1) Nhà quản ly; (2) Nguồn nhân lực CDS; (3) CNTT; (4) Chi phí đầu tư; và (5) Hỗ trợ dịch vụ CDS ảnh hưởng đến hoạt động CDS trong DN logistics. Theo Minh va cộng sự. (2021) trong nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện CDS của các DN bán lẻ tại TP.
Hồ Chí Minh”. Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu bao gồm 164 quan sát. Kết quả cho thay, có 5 nhân té đó là: (1) Lợi thế tương tác; (2) Nguồn lực của DN; (3) Văn hóa khuyến khích cải tiến; (4) Áp lực môi trường bên ngoài; và (5) Hỗ trợ của Chính phủ. Các nhân tố trên đều có tác động thuận chiều đến ý định thực hiện CDS thông qua hệ số của các biến có giá trị dương, đạt ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%, ngoại trừ nhân tố Lợi thế tương đối (LT) có ý nghĩa thống kê với mức 5%.
Trong khi đó, nhân tố Tính tương thích (TT) không có ý nghĩa thống kê. Trong 5 nhân tố có tác động thuận chiều đến Ý định thực hiện CDS, thì nhân tố Áp lực từ môi trường bên ngoài (AL) có tác động mạnh nhất (với hệ số beta là 0,464). Tiếp đó là các nhân tố: Hỗ trợ của Chính phủ (với hệ số beta là 0,244); Văn hóa cải tiến (với hệ số beta là 0,234); Nguồn lực DN (với hệ số beta là 0,109); Lợi thế tương đối (với hệ số beta là 0,098). Lợi thế tương đối Tính tương thích Nguồn lực của doanh Ý định CDS của Doanh nghiệp nghiệp bán lẻ TP.HCM Văn hóa khuyến khích cải tiến Áp lực mồi trường bên ngoài Hỗ trợ của Chính phủ Hình 1.
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện CDS của các DN bán lẻ tại TP. Hồ Chí Minh. Nguồn: Minh và cộng sự. (2021) Theo Hương và cộng sự.
(2021) với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện CDS trong các DN nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Ha Nội” đã khảo sát 97 DN nhỏ va vừa ở Hà Nội để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện CDS của các DNVVN. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rang các yếu tố: Mục tiêu của DN; Chiến lược CDS của DN; Co sở hạ tang công nghệ; Năng lực tài chính của DN; Trình độ sử dụng công nghệ có ảnh hưởng đến ý định thực hiện CDS trong các DNVVN trên địa bàn nghiên cứu với mức độ ảnh hưởng lần lượt là 0,832; 0,349; 0,130; 0,112; 0,100. Văn hóa của Doanh nghiệp Ý định thực Cơ sở hạ tầng công nghệ „ chuyên ôi sô của Năng lực tài chính của Doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội Nguồn: Hương và cộng sự. (2021) Lê Văn Huy và cộng sự (2012) trong nghiên cứu có tên: An Empirical Study of Determinants of E-Commerce Adoption in DNVVN in Vietnam: An Economy in Transition, tam dich là: Nghiên cứu thực nghiệm về yếu tố quyết định của việc ứng dụng TMĐT trong các DNVVN ở Việt Nam: Nền kinh tế trong quá trình CĐS, đã sử dụng mô hình TOE.
Trong đó, các chuyên gia dự báo những thay đổi mạnh mẽ trong TMĐT của Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007. Các Tác giả áp dụng mô hình TOE và thử nghiệm một mô hình thông qua TMĐT bao gồm rat nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài được xác định trong các nghiên cứu thực nghiệm. Nghiên cứu này đã nêu ra rằng chính sách tác động đến việc thúc đây việc áp dụng TMĐT của DN nhỏ trong nén kinh tế đang chuyên đổi ở Việt Nam. Cụ thể, có hai kết luận chính có thé được rút ra từ kết quả thu được trong nghiên cứu này.
Cả hai đều có ý nghĩa về chính sách công đối với Chính phủ Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn. Thứ nhất, các Công ty ứng dụng và các Công ty không ứng dụng TMDĐ có mức độ nhạy cảm khác nhau đối với các yêu tô thúc day việc áp dụng TMDĐ. Điều này cho thấy răng Chính phủ Việt Nam sẽ phải xây dựng nhiều loại chính sách khác nhau được thiết kế để thúc đây quá trình áp dụng TMĐT trong các DNVVN. Kết luận thứ hai là nghiên cứu trên đã ghi lại bức tranh toàn cảnh về việc áp dụng từ giai đoạn đầu khi các trang web chủ yêu mới được giới thiệu cho đến khi chuyển sang TMĐT di động.
Tiếp tục cải thiện cơ sở hạ tầng CNTT- truyền thông quốc gia và thay đổi luật định liên quan đến TMDT sẽ giúp các DN sớm có thê tiến hành giao dịch điện tử với nhau. Ngoài những lý thuyết này, nghiên cứu về tiềm năng của TMĐT đối với các DNVVN khang định rằng khi tham gia vào lĩnh vực TMĐT, các DNVVN có thê khám phá ra các phương pháp gia tăng giá trị mới cho sản phẩm mới, dịch vụ mới và MHKD; mở rộng hoạt động kinh doanh của họ ra thị trường quốc tế; tăng cường hiệu quả của chúng: và hợp tác với các Công ty lớn hơn có thể là khách hàng hoặc nhà cung cấp hoặc nhà đầu tư của họ (Savrul và cộng sự, 2014). Trong nghiên cứu của Pham và cộng sự. (2011) “Determinants of e- commerce adoption in Vietnamese small and medium sized enterprises”, tam dich: Các yếu tố quyết định đến việc áp dụng TMĐT trong các DNVVN của Việt Nam.
Tác giả cũng có đề cập TMDD, trong đó khang định TMĐT va TMDD đã và dang đóng góp đáng ké vào việc giảm chi phí kinh doanh, cải thiện chất lượng sản pham/dich vụ, sự thâm nhập của khách hang và nha cung cấp mới, và tạo ra các phương thức hoặc kênh mới dé phân phối sản phẩm. Những lợi ích này có thể được thực hiện ở không chỉ các DN lớn mà còn cả các DNVVN. Nghiên cứu này, dựa trên đánh giá sâu rộng các tài liệu về lợi ích TMĐT, đặc điểm của các DNVVN và việc áp dụng TMDT của họ, và các lý thuyết liên quan về áp dụng đổi mới, đã đề xuất một mô hình thành công cho việc áp dụng TMĐT tại các DNVVN ở Việt Nam. Hơn nữa, một tập hợp các giả thuyết mô hình trình bày mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng TMĐT đã được thiết lập.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới: Hiện nay nghiên cứu về CDS đang nhận được rất nhiều sự quan tâm từ nhiều nghiên cứu trên toàn thế giới. Cụ thé như sau: Theo Nadkarni và cộng sự. (2021) đã làm rõ ba yếu tố chính ảnh hưởng đến CDS trong DN: Ứng dụng công nghệ mới, CNTT và truyền thông trong khả năng số của lãnh đạo. Tác giả cho rằng một chiến lược kinh doanh dài hạn rõ ràng, vai trò của người quản lý, nguồn nhân lực và công nghệ là những yêu tô quyết định quan trọng của việc số hóa.
Trong đó, con người được coi là một trong những trụ cột quyết định sự thành bại của chiến lược chuyển đôi. Theo Reis và cộng sự. (2018) đã phân loại ý nghĩa cua CDS thành ba nhóm: Công nghệ, tổ chức và xã hội. Nhóm công nghệ liên quan đến việc sử dụng công nghệ mới, chăng hạn như phương tiện truyền thông xã hội và thiết bị nhúng.
Nhóm tổ chức liên quan đến việc áp dụng các MHKD mới hoặc thay đổi các quy trình hiện tại. Nghiên cứu nhấn mạnh những thách thức lớn của CDS đối với hệ thông cải cách trong khu vực đòi hỏi hành động chiến lược trên ba trụ cột: văn hóa và kỹ năng, hạ tầng CNTTT và hệ sinh thái. Theo Deloitte và cộng sự. (2018) nhận định rằng nhận thức lãnh đạo về CDS, văn hóa kinh doanh và kỹ năng triển khai kế hoạch CDS ảnh hưởng rất lớn đến CDS thành công của DN.
Trong khi đó, Vogelsang và cộng sự. Theo Osmundsen và cộng sự. (2018) xác định có 8 yếu tố ảnh hưởng đến ý định CDS trong DN: Văn hóa DN, chiến lược CDS, nên tảng chuyên 10 đổi quốc gia, nguồn nhân lực số sẵn có, hạ tầng CNTT, tính linh hoạt của DN, chiến lược số hóa quy trình công nghiệp và các quy trình kinh doanh được tiêu chuan hóa. Theo Cichosz và cộng sự.
(2020) đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi về lượng bên trong một DN. Những yếu tố này bao gồm vai trò của người quản lý, văn hóa DN, sự tham gia và tương tác của nhân viên với các đối tác, chiến lược kinh doanh và CNTT, quy trình chuẩn hóa, tích hợp dữ liệu, đào tạo nhân viên, quản lý CĐS, cơ sở hạ tầng CNTT và việc áp dụng các công nghệ mới. Trong đó, lãnh đạo và chiến lược quản lý số có tác động mạnh nhất đến thành công CDS của DN, đặc biệt là các DNVVN. CDS trong DN bị ảnh hưởng bởi yếu tố quản lý chuyên đổi ảnh hưởng đến tính linh hoạt của tô chức và đều bị anh hưởng bởi sự điều chỉnh của chiến lược kinh doanh của DN.