Nghiên cứu đa dạng khu hệ chim và bảo tồn chim trĩ ở Quảng Bình

Nghiên cứu đa dạng khu hệ chim rừng phòng hộ Động Châu, Quảng Bình. Đánh giá tình trạng loài trĩ Lopura, đề xuất giải pháp bảo tồn hiệu quả.

Trường đại học

Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật

Chuyên ngành

Động Vật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2014

84
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lịch sử nghiên cứu chim Việt Nam

1.2. Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn trƣớc năm 1975

1.3. Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn sau năm 1975

1.4. Nghiên cứu tại RPH Động Châu và vùng phụ cận

1.5. Khái quát về điều kiện tự nhiên ở RPH Động Châu

1.5.1. Vị trí địa lý

1.5.2. Địa hình, địa chất

1.5.3. Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn

1.5.4. Khu hệ thực vật và động vật

1.6. Đặc điểm kinh tế - xã hội ở khu vực nghiên cứu

1.6.1. Dân tộc và dân số

1.6.2. Hoạt động sản xuất

1.6.3. Cơ sở hạng tầng

2. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TƢ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm và thời gian

2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.2.1. Phƣơng pháp điều tra khảo sát

2.2.2. Dụng cụ cứu chính

2.2.3. Khảo sát theo tuyến

2.2.4. Phƣơng pháp đặt máy bẫy ảnh

2.2.5. Thu thập các di vật

2.2.6. Định loại chim trên hiện trƣờng

2.2.7. Điều tra, xác định các yếu tố đe doạ đến khu hệ chim và sinh cảnh

2.2.8. Phƣơng pháp nghiên cứu nội nghiệp

2.2.9. Phân tích, xử lý số liệu

2.2.10. Đánh giá các loài chim có giá trị khoa học

2.2.11. Lựa chọn hệ thống phân loại học để xây dựng danh lục chim ở RPH Động Châu

2.2.12. Tƣ liệu nghiên cứu dùng để viết luận văn

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Tính đa dạng thành phần loài của khu hệ chim

3.2. Thành phần loài chim ở RPH Động Châu

3.3. Các loài chim có giá trị bảo tồn

3.4. Tầm quan trọng của RPH Động Châu đối với vùng chim đặc hữu đất thấp Trung Bộ

3.5. So sánh sự đa dạng khu hệ chim ở RPH Động Châu đối với các VQG và KBTTN thuộc 3 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị

3.6. Một số mối quan hệ của khu hệ chim với sinh cảnh sống

3.6.1. Cơ sở phân chia sinh cảnh

3.6.2. Sự phân bố của chim theo các dạng sinh cảnh

3.7. Tình trạng của các loài chim Trĩ thuộc giống Lophura ở RPH Động Châu

3.7.1. Gà lôi lam mào trắng – Lophura edwardsi (Oustalet, 1896)

3.7.2. Gà lôi trắng – Lophura nycthemera (Linnaeus, 1758)

3.7.3. Gà lôi hông tía - Lophura diardi (Bonaparte, 1856)

3.8. Các tác nhân đe doạ và đề xuất các giải pháp thích hợp cho việc quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên chim ở khu vực nghiên cứu

3.8.1. Các tác nhân đe doạ đến khu hệ chim

3.8.1.1. Khai thác gỗ
3.8.1.2. Săn bắt và buôn bán động vật hoang dã
3.8.1.3. Khai thác lâm sản ngoài gỗ
3.8.1.4. Chăn thả gia súc

3.8.2. Nguyên nhân gây ra các mối đe doạ

3.8.2.1. Sự gia tăng dân số
3.8.2.2. Năng lực quản lý và thực thi pháp luật còn hạn chế

3.8.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý, bảo tồn và phát triển tài nguyên chim ở RPH Động Châu

3.8.3.1. Nâng cao năng lực quản lý và tăng cƣờng lực lƣợng quản lý, bảo vệ rừng
3.8.3.2. Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ rừng
3.8.3.3. Nâng cao đời sống cho ngƣời dân địa phƣơng

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khám phá đa dạng sinh học Quảng Bình và các loài chim trĩ

Quảng Bình, nằm trong khu vực sinh thái toàn cầu Dãy Trường Sơn, là một trung tâm đa dạng sinh học quan trọng của Việt Nam và thế giới. Nơi đây sở hữu các hệ sinh thái rừng nhiệt đới phong phú, là ngôi nhà của nhiều loài động thực vật quý hiếm. Trong đó, họ Trĩ (Phasianidae) đóng vai trò như một chỉ số quan trọng cho sức khỏe của hệ sinh thái. Nghiên cứu về chim trĩ và đa dạng sinh học tại Quảng Bình không chỉ có giá trị khoa học mà còn cấp thiết cho các nỗ lực bảo tồn. Các báo cáo khoa học gần đây, đặc biệt là nghiên cứu chuyên sâu tại Rừng phòng hộ Động Châu, đã cung cấp những dữ liệu quý giá về thành phần loài, sự phân bố và tình trạng của các loài chim, đặc biệt là các loài gà lôi thuộc giống Lophura. Những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của khu vực đối với việc bảo tồn các loài đặc hữu và bị đe dọa trên toàn cầu.

1.1. Tổng quan khu hệ động vật miền Trung Việt Nam tại Quảng Bình

Quảng Bình là một phần không thể tách rời của khu hệ động vật miền Trung Việt Nam, một vùng chim đặc hữu (EBA) nổi tiếng với mức độ đa dạng và đặc hữu cao. Theo tài liệu của Phạm Văn Quá (2014), chỉ riêng tại Rừng phòng hộ Động Châu đã thống kê được 229 loài động vật có xương sống trên cạn, bao gồm 37 loài thú, 160 loài chim, 17 loài bò sát và 15 loài lưỡng cư. Sự đa dạng này được tạo nên bởi các kiểu thảm thực vật phong phú, từ rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới đến rừng trên núi đá vôi. Khu vực này có mối liên hệ mật thiết với hệ sinh thái Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, tạo thành một hành lang sinh học liên tục, có ý nghĩa sống còn đối với các loài có vùng hoạt động rộng như Gấu ngựa (Ursus thibetanus) và các loài linh trưởng.

1.2. Vai trò và tầm quan trọng của các loài gà lôi ở Quảng Bình

Việt Nam được xem là quê hương của các loài chim Trĩ ở Đông Dương, và Quảng Bình là một trong những địa bàn trọng yếu. Các loài gà lôi ở Quảng Bình, đặc biệt là các loài thuộc giống Lophura, không chỉ có giá trị thẩm mỹ, khoa học cao mà còn là mắt xích quan trọng trong lưới thức ăn. Chúng tham gia vào quá trình phát tán hạt giống, kiểm soát côn trùng, và là chỉ thị cho chất lượng sinh cảnh sống của họ Trĩ. Sự hiện diện của các loài như Trĩ sao (Rheinardia ocellata) hay Gà lôi hông tía (Lophura diardi) cho thấy hệ sinh thái rừng còn tương đối nguyên vẹn. Do đó, việc nghiên cứu và bảo vệ chúng chính là bảo vệ toàn bộ hệ sinh thái rừng nhiệt đới đất thấp Trung Bộ, một trong những vùng sinh thái được ưu tiên bảo tồn hàng đầu trên thế giới.

II. Phân tích các mối đe dọa chính đối với chim trĩ Quảng Bình

Mặc dù sở hữu giá trị đa dạng sinh học to lớn, quần thể chim trĩ và hệ sinh thái rừng Quảng Bình đang phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Các mối đe dọa đối với chim trĩ ngày càng gia tăng, đẩy nhiều loài đến bờ vực tuyệt chủng. Các hoạt động của con người là nguyên nhân chính gây ra sự suy giảm này. Việc khai thác tài nguyên không bền vững, sự phát triển kinh tế thiếu kiểm soát và năng lực quản lý còn hạn chế đã tạo ra một áp lực khổng lồ lên môi trường sống tự nhiên. Báo cáo nghiên cứu tại Rừng phòng hộ Động Châu đã chỉ ra rằng, săn bắt trái phép và suy thoái sinh cảnh là hai mối đe dọa trực tiếp và nguy hiểm nhất, đòi hỏi phải có những biện pháp can thiệp kịp thời và hiệu quả để ngăn chặn đà suy giảm của các loài chim quý hiếm.

2.1. Suy thoái sinh cảnh sống của họ Trĩ do khai thác gỗ

Suy thoái và mất sinh cảnh sống của họ Trĩ là mối đe dọa nền tảng. Các hoạt động khai thác gỗ trái phép, dù ở quy mô nhỏ lẻ hay có tổ chức, đều phá vỡ cấu trúc tầng tán của rừng, làm thay đổi vi khí hậu và giảm nguồn thức ăn tự nhiên của chim. Nghiên cứu của Phạm Văn Quá (2014) chỉ rõ rằng các kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, nơi phân bố chính của nhiều loài gà lôi, đang bị tác động mạnh. Khi rừng bị chia cắt, các quần thể chim trĩ sao và gà lôi bị cô lập, làm giảm khả năng giao phối và đa dạng di truyền, khiến chúng dễ bị tổn thương hơn trước dịch bệnh và các biến đổi môi trường.

2.2. Vấn nạn săn bắt và buôn bán động vật hoang dã

Săn bắt và buôn bán động vật hoang dã là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự suy giảm nhanh chóng số lượng các loài chim trĩ. Các loài có màu sắc đẹp, kích thước lớn như Gà lôi trắng, Trĩ sao thường là mục tiêu hàng đầu của thợ săn để làm thực phẩm, vật trang trí hoặc buôn bán. Các phương pháp săn bắt tận diệt như dùng bẫy dây, súng săn đã khiến nhiều khu vực từng có gà lôi sinh sống nay trở nên trống vắng. Đặc biệt, đối với các loài đặc hữu ở Quảng Bình như Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi), vốn có quần thể nhỏ và phân bố hẹp, áp lực săn bắt dù nhỏ cũng có thể dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng cục bộ.

2.3. Tác động từ gia tăng dân số và hạn chế trong quản lý

Nguyên nhân sâu xa của các mối đe dọa đến từ các vấn đề kinh tế - xã hội. Sự gia tăng dân số tại các xã vùng đệm như Kim Thủy, Lâm Thủy làm tăng nhu cầu về đất sản xuất và tài nguyên rừng. Theo thống kê, tỷ lệ hộ nghèo tại các xã này còn rất cao, dẫn đến sự phụ thuộc vào việc khai thác lâm sản. Bên cạnh đó, "năng lực quản lý và thực thi pháp luật còn hạn chế" (Phạm Văn Quá, 2014) cũng là một rào cản lớn. Lực lượng kiểm lâm mỏng, thiếu trang thiết bị và kinh phí đã gây khó khăn cho công tác tuần tra, bảo vệ rừng, tạo điều kiện cho các hoạt động trái phép tiếp diễn.

III. Phương pháp nghiên cứu quần thể chim trĩ tại Quảng Bình

Để đánh giá chính xác tình trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn hiệu quả, các nhà khoa học đã áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu hiện đại và truyền thống. Việc kết hợp giữa khảo sát thực địa, công nghệ và tri thức bản địa đã mang lại một bức tranh toàn diện về đa dạng sinh học chim tại khu vực. Nghiên cứu tại Rừng phòng hộ Động Châu là một ví dụ điển hình cho cách tiếp cận đa phương pháp này. Các phương pháp không chỉ giúp xây dựng danh lục các loài chim mà còn thu thập thông tin quý giá về sinh thái, tập tính và các mối đe dọa đối với những loài mục tiêu như các loài gà lôi thuộc giống Lophura. Đây là cơ sở khoa học vững chắc cho việc xây dựng các chương trình bảo tồn đa dạng sinh học trong tương lai.

3.1. Kỹ thuật khảo sát theo tuyến và phỏng vấn cộng đồng

Khảo sát theo tuyến là phương pháp nền tảng để ghi nhận sự hiện diện và phân bố của các loài chim. Các nhà nghiên cứu đã thiết lập 21 tuyến khảo sát với tổng chiều dài 85km tại Rừng phòng hộ Động Châu, đi qua nhiều dạng sinh cảnh khác nhau. Quan sát trực tiếp bằng ống nhòm và ghi nhận tiếng hót giúp định loại và ước tính sự phong phú của các loài. Song song đó, phương pháp phỏng vấn người dân địa phương và thợ săn, sử dụng các bộ ảnh nhận diện, đã cung cấp những thông tin quan trọng về các loài hiếm gặp, khó quan sát như Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi). Tổng cộng 141 phiếu phỏng vấn đã được thực hiện, giúp xác nhận sự tồn tại lịch sử của loài này trong khu vực.

3.2. Ứng dụng công nghệ bẫy ảnh trong giám sát đa dạng sinh học

Công nghệ bẫy ảnh (camera trap) là một công cụ hữu hiệu cho việc giám sát đa dạng sinh học, đặc biệt đối với các loài chim sống trên mặt đất và nhút nhát. Trong nghiên cứu, 10 bẫy ảnh đã được đặt tại các vị trí chiến lược như gần nguồn nước, đường mòn của động vật với tổng số 1.200 lượt điểm bẫy. Phương pháp này đã ghi nhận được những hình ảnh chân thực về các loài như Gà lôi hông tía (Lophura diardi) và Đuôi cụt bụng vằn (Pitta elliotii), cung cấp bằng chứng không thể chối cãi về sự hiện diện của chúng. Dữ liệu từ bẫy ảnh cũng giúp các nhà khoa học hiểu thêm về tập tính hoạt động và tương tác giữa các loài trong môi trường sống tự nhiên của chúng.

IV. Báo cáo khoa học về đa dạng sinh học chim trĩ Quảng Bình

Kết quả từ các đợt khảo sát thực địa và phân tích dữ liệu đã vẽ nên một bức tranh chi tiết về sự giàu có nhưng cũng đầy mong manh của khu hệ chim tại Quảng Bình. Báo cáo khoa học đa dạng sinh học tại Rừng phòng hộ Động Châu đã khẳng định đây là một "vùng chim quan trọng" (Important Bird Area - IBA) cần được ưu tiên bảo vệ. Các phát hiện không chỉ bổ sung nhiều loài vào danh lục chim của khu vực mà còn cập nhật tình trạng nguy cấp của các loài trĩ đặc hữu, đặc biệt là các loài thuộc giống Lophura. Những con số và dữ liệu này là lời cảnh báo và đồng thời là cơ sở khoa học quan trọng để các nhà quản lý và hoạch định chính sách đưa ra các quyết định phù hợp cho công tác bảo tồn.

4.1. Ghi nhận 160 loài chim tại Rừng phòng hộ Động Châu

Nghiên cứu đã thống kê được tổng cộng 160 loài chim thuộc 45 họ và 16 bộ tại Rừng phòng hộ Động Châu. Con số này chiếm khoảng 18% tổng số loài chim của Việt Nam, cho thấy mức độ đa dạng rất cao của một khu vực tương đối nhỏ. Trong số này, có nhiều loài có giá trị bảo tồn toàn cầu như Trĩ sao (Rheinardia ocellata) và 9 loài được đánh giá là sắp bị đe dọa (Near Threatened) theo IUCN. Khu vực này được xác định là một phần quan trọng của vùng chim đặc hữu đất thấp Trung Bộ, nơi trú ngụ của nhiều loài đặc hữu ở Quảng Bình và miền Trung Việt Nam.

4.2. Tình trạng báo động của Gà lôi lam mào trắng Lophura edwardsi

Một trong những phát hiện đáng lo ngại nhất là tình trạng của Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi). Loài này được IUCN xếp vào mức Rất nguy cấp (CR), tức là đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cực kỳ cao trong tự nhiên. Mặc dù không có ghi nhận trực tiếp trong đợt khảo sát, nhưng thông qua phỏng vấn, các nhà khoa học đã xác định được loài này từng phân bố tại đây. Sự vắng mặt của nó trong các quan sát gần đây cho thấy quần thể đã suy giảm nghiêm trọng hoặc thậm chí đã tuyệt chủng cục bộ. Điều này gióng lên hồi chuông báo động, đòi hỏi các nỗ lực tìm kiếm và bảo tồn khẩn cấp nếu còn hy vọng cứu loài chim biểu tượng này.

V. Hướng dẫn giải pháp bảo tồn chim trĩ Quảng Bình hiệu quả

Từ những kết quả nghiên cứu và phân tích các mối đe dọa, việc xây dựng và triển khai các giải pháp bảo tồn là nhiệm vụ cấp bách. Một chiến lược bảo tồn chim trĩ Quảng Bình thành công đòi hỏi một cách tiếp cận tổng thể, kết hợp giữa việc tăng cường thực thi pháp luật, nâng cao nhận thức cộng đồng và cải thiện sinh kế cho người dân địa phương. Các giải pháp phải mang tính thực tiễn, có sự tham gia của nhiều bên liên quan từ chính quyền, các nhà khoa học, tổ chức phi chính phủ đến cộng đồng dân cư sống ven rừng. Mục tiêu cuối cùng là bảo vệ môi trường sống, giảm thiểu áp lực săn bắt và đảm bảo sự tồn tại bền vững của các quần thể chim trĩ và toàn bộ hệ sinh thái.

5.1. Tăng cường quản lý tại Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu Khe Nước Trong

Nâng cấp Rừng phòng hộ Động Châu thành Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong là một bước đi chiến lược. Việc này sẽ giúp tăng cường khung pháp lý và nguồn lực cho công tác bảo vệ. Cần nâng cao năng lực cho ban quản lý và lực lượng kiểm lâm thông qua đào tạo, cung cấp trang thiết bị hiện đại cho việc tuần tra và giám sát đa dạng sinh học. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng để xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và động vật hoang dã. Thiết lập các vùng bảo vệ nghiêm ngặt cho các sinh cảnh quan trọng của họ Trĩ là một ưu tiên hàng đầu.

5.2. Xây dựng chương trình bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng

Bảo tồn không thể thành công nếu thiếu sự tham gia của người dân địa phương. Cần xây dựng các chương trình bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng, trong đó người dân được xem là đối tác. Các hoạt động tuyên truyền, giáo dục cần được thực hiện thường xuyên tại trường học và thôn bản để nâng cao nhận thức về giá trị của rừng và các loài chim quý hiếm. Quan trọng hơn, cần hỗ trợ người dân phát triển các mô hình sinh kế bền vững như nông lâm kết hợp, du lịch sinh thái cộng đồng. Khi đời sống được cải thiện và người dân nhận thấy lợi ích từ việc bảo vệ rừng, họ sẽ trở thành những người bảo vệ hiệu quả nhất cho di sản thiên nhiên của chính mình.

22/09/2025
Nghiên cứu tính đa dạng của khu hệ chim và tình trạng của loài chim trĩ thuộc giống lopura ở rừng phòng hộ động châu tỉnh quảng bình và đề xuất giải pháp bảo tồn

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Tài nguyên sinh vật nói chung và tài nguyên chim nói riêng có vai trò to lớn trong đời sống hàng ngày của con ngƣời. Trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam rất đƣợc quan tâm, nhiều công trình nghiên cứu đƣợc triển khai theo hƣớng đánh giá tài nguyên, đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nằm trong khu vực Đông Nam Á, nơi có tiềm năng về đa dạng sinh học cao, Việt Nam có khu hệ chim rất đa dạng và phong phú với 887 loài thuộc 88 họ của 20 bộ[29]. Riêng đối với bảo tồn chim đã xác lập đƣợc 63 vùng chim quan trọng ở Việt Nam [32].

Đây là những biện pháp tích cực, nhằm góp phần bảo tồn ĐDSH, duy trì sự cân bằng sinh thái, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nƣớc. Các hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở vùng sinh thái toàn cầu Dãy Trƣờng Sơn có sự đa dạng cao về thành phần loài chim nhƣ: VQG Bạch Mã (Thừa thiên - Huế) với 358 loài, 186 giống thuộc 55 họ, 15 bộ [16]; VQG Cát Tiên (Đồng Nai) với 351 loài thuộc 64 họ, 18 bộ [38]; VQG Cúc Phƣơng (Ninh Bình) với 262 loài thuộc 52 họ, 16 bộ [16],… Rừng phòng hộ Động Châu là một phần của “vùng sinh thái toàn cầu Dãy Trƣờng Sơn” nên cũng có khu hệ chim rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, cho đến nay mới có một số ít công trình nghiên cứu về chim ở đây. Những nghiên cứu này chƣa phản ánh đầy đủ sự đa dạng về thành phần loài chim ở Rừng phòng hộ Động Châu, do vậy cần phải có những nghiên cứu tiếp.

Việt Nam đƣợc coi là quê hƣơng của các loài chim Trĩ ở Đông Dƣơng, với nhiều loài đặc hữu, quý hiếm, có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn cao và các loài chim Trĩ luôn đƣợc quan tâm điều tra, nghiên cứu, bảo vệ. Các loài chim Trĩ nói chung và giống Lophura trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam đã có lịch sử nghiên cứu khá lâu. Năm 1975, Hiệp Hội Chim Trĩ Thế giới (World Pheasant Association) đƣợc thành lập, có trụ sở tại Anh Quốc, hàng năm Hội đã xuất bản những bản tin và tạp chí của Hội. Mục đích nhằm phát triển, thúc đẩy và hỗ trợ bảo tồn tất cả các loài chim thuộc bộ Gà, trong đó có các loài giống Lophura.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 2 Trong những năm gần đây, do tình trạng săn bắt quá mức, sinh cảnh sống bị thu hẹp, các loài chim Trĩ thuộc giống Lophura đã bị suy giảm nghiêm trọng về trữ lƣợng. Hiện nay, chim Trĩ đang đứng trƣớc nguy cơ bị diệt vong nếu không có những biện pháp bảo vệ cấp bách và hữu hiệu. Trong Danh lục đỏ Thế giới của IUCN về các loài bị đe doạ toàn cầu (The IUCN Red List of the Threatened Species) và đặc biệt là Sách Đỏ Việt Nam (2007) đã có các loài chim Trĩ đặc hữu, quý hiếm đƣợc ghi nhận và xếp ở các cấp đe dọa khác nhau. Đặc biệt loài Gà lôi lam mào trắng Lophura edwardsi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) xếp vào bậc nguy cấp (EN) và Danh Lục Đỏ của IUCN (2014) xếp vào bậc Rất nguy cấp (CR).

Cho đến nay, có rất ít các thông tin ghi nhận trực tiếp về loài này mà chỉ ghi nhận đƣợc chúng qua phỏng vấn ngƣời dân địa phƣơng. Các hoạt động của con ngƣời đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trƣờng sống của các loài chim nhƣ khai thác gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ, khai thác khoáng sản, săn bắt và buôn bán động vật,. Vì vậy, việc xác định các mối đe doạ và các khu vực bị tác động ở Rừng phòng hộ Động Châu là một trong những nhiệm vụ quan trọng, giúp các nhà quản lý có những biện pháp kiểm soát các tác động tiêu cực nhằm bảo tồn và phát triển bền vững khu hệ chim của khu vực này. Nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn cấp bách đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng của khu hệ chim và tình trạng của các loài chim Trĩ thuộc giống Lophura ở Rừng phòng hộ Động Châu, tỉnh Quảng Bình và đề xuất giải pháp bảo tồn”.

Mục tiêu của đề tài: - Xác định đƣợc tính đa dạng về thành phần loài chim ở Rừng phòng hộ Động Châu. - Xác định tình trạng của các loài chim Trĩ thuộc giống Lophura ở Rừng phòng hộ Động Châu. - Xác định các mối đe dọa đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học trong đó có khu hệ chim ở Rừng phòng hộ Động Châu và đề xuất các giải pháp bảo tồn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 3 Nội dung của đề tài: - Xây dựng đƣợc danh lục các loài chim, phân tích tính đa dạng về thành phần loài và mức độ phong phú của khu hệ chim Rừng phòng hộ Động Châu.

- Thu thập số liệu, phân tích đánh giá về tình trạng của các loài chim Trĩ thuộc giống Lophura ở Rừng phòng hộ Động Châu. - Phân tích các nguyên nhân gây suy thoái về loài và sinh cảnh và đề xuất các giải pháp bảo tồn tính đa dạng của khu hệ chim ở khu vực nghiên cứu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Lịch sử nghiên cứu chim Việt Nam Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có sự phân hóa cao về địa hình, khí hậu, môi trƣờng sống,. trải dài từ Bắc tới Nam, nên có khu hệ chim rất phong phú và đa dạng ở khu vực Đông Nam Á. Cho đến nay, đã ghi nhận đƣợc 887 loài chim trên phạm vi toàn quốc [29]. Tuy nhiên, đây chỉ là những con số đã đƣợc thống kê, không thể đƣa ra con số chính xác bởi có thể những loài đã bị tuyệt chủng, hoặc có những loài mới chƣa đƣợc phát hiện.

Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn trước năm 1975 Thời kỳ này, các công trình nghiên cứu về chim ở Việt Nam chủ yếu đƣợc tiến hành bởi một số nhà khoa học nƣớc ngoài nhƣ: Linnaeus (1758), Gmélin (1788), Lesson (1831) và Bonaparte (1856), Pier (1872). Các kết quả ở thời kỳ này còn rất sơ lƣợc. Trong khoảng thời gian từ 1875 – 1877, Tirant đã sƣu tầm đƣợc một bộ sƣu tập chim khá lớn ở miền Nam Việt Nam gồm khoảng 1.000 tiêu bản với 353 loài và phân loài [22]. Suốt thời gian đó, các nghiên cứu chim đều do ngƣời nƣớc ngoài thực hiện trên cả vùng Đông Dƣơng, trong đó có Việt Nam nhƣ: Nghiên cứu của Oustalet và Germain, 1905 – 1907 với công trình “Danh sách chim miền Nam Bộ”.

Ở miền Bắc Việt Nam có Boutan (1905) với các sƣu tầm chim ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và một số điểm thuộc Hà Đông và vùng ven Hà Nội. Tác giả đã ghi nhận đƣợc 90 loài và các dẫn liệu về sinh học của một số loài. Năm 1918, Kloss và cộng sự đã tiến hành tổ chức cuộc sƣu tầm chim lớn nhất kể từ trƣớc cho đến thời điểm đó ở Đông Dƣơng, từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1918 ở các vùng Phan Rang, Langbiang của Việt Nam; kết quả đã thu thập đƣợc 1.525 tiêu bản của 235 loài và phân loài, trong đó có 34 dạng mới cho khoa học [22]. Năm 1924, Delacour và Jabouille đã thu thập đƣợc hơn 2.000 tiêu bản ở Quảng Trị, trong đó có 12 dạng mới.

Cùng thời gian đó, Steven đã sƣu tầm đƣợc một số lƣợng lớn tiêu bản chim ở vùng Tây Bắc Việt Nam, với 219 loài và phân loài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 5 cùng một số dẫn liệu về sinh học và đã mô tả thêm 11 loài và phân loài chim mới ở miền Bắc Việt Nam [22]. Năm 1931, Delacour và Jabuille đã xuất bản công trình nghiên cứu tổng hợp về chim Đông Dƣơng gồm 4 tập với 954 loài và phân loài, trong đó có các loài chim của Việt Nam [45, 46, 47, 48]. Đây là công trình tổng hợp từ kết quả điều tra nghiên cứu chim của tác giả và một số ngƣời khác đƣợc tiến hành chủ yếu qua 5 cuộc điều tra từ năm 1924 đến 1930. Trong khoảng thời gian từ năm 1926 đến 1945, Delacour và nhiều tác giả khác cũng đã có các công trình nghiên cứu tại các tỉnh phía Bắc và vùng Đông Bắc nhƣ: Hà Tây, Hà Nội và một số nơi khác khác thuộc đồng bằng Bắc Bộ.

Trong đó đáng chú ý là các kết quả nghiên cứu về sinh học, sinh thái của một số loài chim ở Lào Cai (Sa Pa, Fan Si Pan), Lạng Sơn, Vĩnh Phúc (Vĩnh Yên, Tam Đảo) và Bắc Kạn,. Các kết quả nghiên cứu tiếp theo từ năm 1931 đến trƣớc năm 1945 đƣợc Delacour bổ sung cho danh lục chim Đông Dƣơng (1951) với 1.085 loài và phân loài [22]. Từ năm 1945, công tác nghiên cứu chim bị gián đoạn do chiến tranh và chỉ đƣợc thực hiện trở lại từ sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc Việt Nam, năm 1957. Bắt đầu thời kỳ này, các tác giả Việt Nam đã có điều kiện để tiến hành điều tra nhiên cứu và đã có nhiều công trình đƣợc công bố.

Phần lớn các công trình đƣợc công bố đều tập trung ở miền Bắc Việt Nam. Năm 1961, Võ Quý, Trần Gia Huấn đã khảo sát khu hệ chim vùng Chi Nê, tỉnh Hòa Bình, kết quả đã thống kê đƣợc 137 loài chim và chỉ ra sự phân bố của các loài theo sinh cảnh [19]; Võ Quý, Đỗ Ngọc Quang, 1965: Kết quả sƣu tầm chim ở vùng Bảo Lạc, Trùng Khánh (Cao Bằng) và Mẫu Sơn (Lạng Sơn) [20]; Đào Văn Tiến, Võ Quý, 1969: Kết quả điều tra sƣu tầm động vật có sƣơng sống ở trên cạn ở vùng Chợ Rã (Bắc Kạn) [31]. Năm 1971, Võ Quý đã xuất bản cuốn sách “Sinh học của những loài chim thƣờng gặp ở miền Bắc Việt Nam”. Trong sách tác giả có dẫn chứng đầy đủ về đặc điểm nơi ở, thức ăn, sinh sản và một số tập tính khác của gần 200 loài chim ở miền Bắc mà đa số là các loài có ý nghĩa về mặt kinh tế [22].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn sau năm 1975 Sau năm 1975, hàng loạt các công trình nghiên cứu về điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên ở nƣớc ta, trong đó có khu hệ chim của nhiều vùng đƣợc công bố dƣới các hình thức khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ