Nghiên cứu đa dạng chim và bảo tồn chim trĩ Lophura tại Quảng Bình

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu tính đa dạng của khu hệ chim và tình trạng của các loài chim trĩ thuộc giống lophura ở, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2014

84
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lịch sử nghiên cứu chim Việt Nam

1.2. Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn trƣớc năm 1975

1.3. Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn sau năm 1975

1.4. Nghiên cứu tại RPH Động Châu và vùng phụ cận

1.5. Khái quát về điều kiện tự nhiên ở RPH Động Châu

1.5.1. Vị trí địa lý

1.5.2. Địa hình, địa chất

1.5.3. Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn

1.5.4. Khu hệ thực vật và động vật

1.6. Đặc điểm kinh tế - xã hội ở khu vực nghiên cứu

1.6.1. Dân tộc và dân số

1.6.2. Hoạt động sản xuất

1.6.3. Cơ sở hạng tầng

2. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TƢ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm và thời gian

2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.2.1. Phƣơng pháp điều tra khảo sát

2.2.2. Dụng cụ cứu chính

2.2.3. Khảo sát theo tuyến

2.2.4. Phƣơng pháp đặt máy bẫy ảnh

2.2.5. Thu thập các di vật

2.2.6. Định loại chim trên hiện trƣờng

2.2.7. Điều tra, xác định các yếu tố đe doạ đến khu hệ chim và sinh cảnh

2.2.8. Phƣơng pháp nghiên cứu nội nghiệp

2.2.9. Phân tích, xử lý số liệu

2.2.10. Đánh giá các loài chim có giá trị khoa học

2.2.11. Lựa chọn hệ thống phân loại học để xây dựng danh lục chim ở RPH Động Châu

2.2.12. Tƣ liệu nghiên cứu dùng để viết luận văn

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Tính đa dạng thành phần loài của khu hệ chim

3.1.1. Thành phần loài chim ở RPH Động Châu

3.1.2. Các loài chim có giá trị bảo tồn

3.1.3. Tầm quan trọng của RPH Động Châu đối với vùng chim đặc hữu đất thấp Trung Bộ

3.1.4. So sánh sự đa dạng khu hệ chim ở RPH Động Châu đối với các VQG và KBTTN thuộc 3 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị

3.2. Một số mối quan hệ của khu hệ chim với sinh cảnh sống

3.2.1. Cơ sở phân chia sinh cảnh

3.2.2. Sự phân bố của chim theo các dạng sinh cảnh

3.3. Tình trạng của các loài chim Trĩ thuộc giống Lophura ở RPH Động Châu

3.3.1. Gà lôi lam mào trắng – Lophura edwardsi (Oustalet, 1896)

3.3.2. Gà lôi trắng – Lophura nycthemera (Linnaeus, 1758)

3.3.3. Gà lôi hông tía - Lophura diardi (Bonaparte, 1856)

3.4. Các tác nhân đe doạ và đề xuất các giải pháp thích hợp cho việc quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên chim ở khu vực nghiên cứu

3.4.1. Các tác nhân đe doạ đến khu hệ chim

3.4.1.1. Khai thác gỗ
3.4.1.2. Săn bắt và buôn bán động vật hoang dã
3.4.1.3. Khai thác lâm sản ngoài gỗ
3.4.1.4. Chăn thả gia súc

3.4.2. Nguyên nhân gây ra các mối đe doạ

3.4.2.1. Sự gia tăng dân số
3.4.2.2. Năng lực quản lý và thực thi pháp luật còn hạn chế

3.4.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý, bảo tồn và phát triển tài nguyên chim ở RPH Động Châu

3.4.3.1. Nâng cao năng lực quản lý và tăng cƣờng lực lƣợng quản lý, bảo vệ rừng
3.4.3.2. Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ rừng
3.4.3.3. Nâng cao đời sống cho ngƣời dân địa phƣơng

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Chim Trĩ Quảng Bình Đa Dạng và Giá Trị

Nghiên cứu về chim trĩ tại Quảng Bình là vô cùng quan trọng do khu vực này sở hữu đa dạng sinh học cao và là nơi sinh sống của nhiều loài chim quý hiếm ở Quảng Bình. Các khu rừng, đặc biệt là Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàngrừng phòng hộ Động Châu, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn các loài chim bản địa, trong đó có chim trĩ. Việc nghiên cứu sinh thái học chim trĩmôi trường sống chim trĩ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quần thể chim trĩ và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại của chúng. Công tác bảo tồn chim trĩ cần được ưu tiên hàng đầu, nhằm duy trì đa dạng sinh học Quảng Bình và ngăn chặn nguy cơ tuyệt chủng của các loài chim đặc hữu. Theo nghiên cứu của Phạm Văn Quá (2014), khu hệ chim ở Rừng phòng hộ Động Châu rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên, những nghiên cứu này chưa phản ánh đầy đủ sự đa dạng về thành phần loài chim ở đây. Việc xác định các mối đe dọa và các khu vực bị tác động là một trong những nhiệm vụ quan trọng, giúp các nhà quản lý có những biện pháp kiểm soát các tác động tiêu cực nhằm bảo tồn và phát triển bền vững khu hệ chim của khu vực này. Do đó, các chương trình nghiên cứu chim trĩ và các dự án bảo tồn chim trĩ cần được đầu tư và triển khai một cách hiệu quả. Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Quảng Bình đóng vai trò quan trọng trong việc cứu hộ và phục hồi các cá thể chim trĩ bị thương hoặc bị tịch thu từ các hoạt động buôn bán trái phép.

1.1. Vị Trí Địa Lý và Vai Trò Sinh Thái Rừng Quảng Bình

Quảng Bình, với địa hình đa dạng từ vùng núi đá vôi đến đồng bằng ven biển, tạo nên môi trường sống lý tưởng cho nhiều loài chim, trong đó có chim trĩ. Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàngrừng phòng hộ Động Châu là những khu vực có giá trị bảo tồn cao, nơi sinh sống của nhiều loài chim quý hiếm ở Quảng Bình. Các khu rừng này không chỉ cung cấp môi trường sống cho chim trĩ mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, bảo vệ nguồn nước và ngăn ngừa xói mòn đất. Việc bảo vệ và phục hồi các khu rừng này là yếu tố then chốt trong việc bảo tồn đa dạng sinh học Quảng Bình và duy trì quần thể chim trĩ khỏe mạnh.

1.2. Tầm Quan Trọng của Nghiên Cứu Khoa Học về Chim Trĩ

Các nghiên cứu khoa học về chim trĩ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin chính xác và tin cậy về sinh thái học chim trĩ, môi trường sống chim trĩ, và các mối đe dọa đối với sự tồn tại của chúng. Những nghiên cứu này giúp các nhà quản lý và các tổ chức bảo tồn đưa ra các quyết định dựa trên bằng chứng khoa học, từ đó xây dựng các biện pháp bảo tồn chim trĩ hiệu quả. Việc thu thập và phân tích dữ liệu về phân bố chim trĩ Quảng Bình, kích thước quần thể, và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh sản là rất cần thiết để đánh giá tình trạng bảo tồn và xây dựng các kế hoạch hành động cụ thể.

II. Thách Thức Bảo Tồn Chim Trĩ Mất Môi Trường Sống Săn Bắt

Mặc dù có giá trị sinh thái và bảo tồn cao, chim trĩQuảng Bình đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Mất môi trường sống do khai thác rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, và các hoạt động phát triển kinh tế là một trong những mối đe dọa chính. Săn bắt chim trĩ trái phép để buôn bán và tiêu thụ cũng gây áp lực lớn lên quần thể chim trĩ. Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, và sự xâm lấn của các loài ngoại lai cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đa dạng sinh học Quảng Bìnhtình trạng bảo tồn chim trĩ. Theo Phạm Văn Quá (2014), các hoạt động của con người đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường sống của các loài chim như khai thác gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ, khai thác khoáng sản, săn bắt và buôn bán động vật. Việc xác định các mối đe dọa và các khu vực bị tác động là một trong những nhiệm vụ quan trọng, giúp các nhà quản lý có những biện pháp kiểm soát các tác động tiêu cực. Do đó, cần có các biện pháp bảo tồn chim trĩ mạnh mẽ và hiệu quả để giảm thiểu các tác động tiêu cực này.

2.1. Ảnh Hưởng của Khai Thác Rừng và Mất Môi Trường Sống

Khai thác rừng, cả hợp pháp và trái phép, gây ra sự suy giảm đáng kể về diện tích rừng tự nhiên, làm mất đi môi trường sống của chim trĩ và các loài chim khác. Việc chuyển đổi rừng sang các mục đích sử dụng khác, như trồng cây công nghiệp, xây dựng khu dân cư, hoặc phát triển du lịch, cũng làm giảm môi trường sống chim trĩ và gây фрагментация môi trường sống. Sự фрагментация môi trường sống làm giảm khả năng di chuyển, tìm kiếm thức ăn, và sinh sản của chim trĩ, dẫn đến sự suy giảm quần thể chim trĩ.

2.2. Tác Động của Săn Bắt và Buôn Bán Chim Trĩ Trái Phép

Săn bắt chim trĩ trái phép để buôn bán và tiêu thụ là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với tình trạng bảo tồn chim trĩQuảng Bình. Chim trĩ bị săn bắt để cung cấp cho các nhà hàng, làm thú nuôi, hoặc sử dụng trong y học cổ truyền. Hoạt động này không chỉ làm giảm số lượng chim trĩ mà còn gây ảnh hưởng đến cấu trúc tuổi và giới tính của quần thể chim trĩ, làm giảm khả năng phục hồi tự nhiên.

III. Cách Bảo Tồn Chim Trĩ Quảng Bình Giải Pháp và Hướng Đi Mới

Để bảo tồn chim trĩ hiệu quả ở Quảng Bình, cần có một chiến lược toàn diện và phối hợp, bao gồm nhiều biện pháp bảo tồn chim trĩ khác nhau. Bảo vệ và phục hồi môi trường sống, kiểm soát săn bắt trái phép, nâng cao nhận thức cộng đồng, và tăng cường năng lực quản lý là những yếu tố then chốt. Các dự án bảo tồn chim trĩ cần được thiết kế dựa trên cơ sở khoa học, có sự tham gia của cộng đồng địa phương, và được giám sát và đánh giá thường xuyên. Phát triển du lịch sinh thái bền vững có thể tạo ra nguồn thu nhập thay thế cho người dân địa phương, từ đó giảm áp lực lên tài nguyên chim trĩ.

3.1. Tăng Cường Bảo Vệ và Phục Hồi Môi Trường Sống

Việc bảo vệ và phục hồi môi trường sống chim trĩ là ưu tiên hàng đầu trong công tác bảo tồn. Cần tăng cường kiểm soát khai thác rừng trái phép, ngăn chặn chuyển đổi mục đích sử dụng đất, và phục hồi các khu rừng bị suy thoái. Thiết lập và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn, như Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàngrừng phòng hộ Động Châu, là rất quan trọng để bảo vệ quần thể chim trĩ và các loài chim khác.

3.2. Kiểm Soát Săn Bắt Trái Phép và Buôn Bán Chim Trĩ

Cần tăng cường tuần tra, kiểm soát để ngăn chặn săn bắt chim trĩ trái phép. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, tịch thu tang vật, và truy tố trước pháp luật. Nâng cao nhận thức cộng đồng về tác hại của săn bắt và buôn bán chim trĩ, khuyến khích người dân tham gia vào công tác bảo tồn.

3.3. Nâng Cao Nhận Thức Cộng Đồng và Giáo Dục Môi Trường

Nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của đa dạng sinh học Quảng Bình và tầm quan trọng của bảo tồn chim trĩ là rất cần thiết. Tổ chức các chương trình giáo dục môi trường, tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông, và xây dựng các mô hình du lịch sinh thái cộng đồng để nâng cao ý thức bảo tồn của người dân.

IV. Ứng Dụng Nghiên Cứu Khoa Học Bảo Tồn Chim Trĩ Sao và Gà Lôi

Các kết quả nghiên cứu khoa học về chim trĩ cần được ứng dụng vào thực tiễn quản lý và bảo tồn. Thông tin về phân bố chim trĩ Quảng Bình, sinh thái học chim trĩ, và các mối đe dọa đối với chim trĩ sao, chim trĩ đỏ khoang cổ, chim trĩ lôi, và các loài chim trĩ khác cần được sử dụng để xây dựng các kế hoạch hành động cụ thể. Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Quảng Bình cần được tăng cường năng lực để cứu hộ và phục hồi các cá thể chim trĩ bị thương hoặc bị tịch thu.

4.1. Nghiên Cứu và Bảo Tồn Chim Trĩ Sao Rheinardia ocellata

Chim trĩ sao là một loài chim quý hiếm và đặc hữu của khu vực Đông Nam Á, trong đó có Quảng Bình. Cần có các nghiên cứu chuyên sâu về sinh thái học chim trĩ sao, đặc biệt là về môi trường sống, thức ăn, và sinh sản. Việc bảo vệ môi trường sống của chim trĩ sao và ngăn chặn săn bắt trái phép là rất quan trọng để bảo tồn loài chim này.

4.2. Đánh Giá Tình Trạng và Bảo Tồn Gà Lôi Lam Mào Trắng Lophura edwardsi

Gà lôi lam mào trắng là một loài chim đặc hữu và đang bị đe dọa nghiêm trọng ở Việt Nam. Cần có các cuộc khảo sát thực địa để đánh giá tình trạng quần thể chim trĩ này và xác định các khu vực quan trọng cần bảo tồn. Việc bảo vệ môi trường sống và ngăn chặn săn bắt trái phép là rất cần thiết để cứu loài chim này khỏi nguy cơ tuyệt chủng.

V. Dự Án Bảo Tồn Chim Trĩ Đầu Tư Hợp Tác và Phát Triển Bền Vững

Để bảo tồn chim trĩ hiệu quả, cần có các dự án bảo tồn chim trĩ được đầu tư và triển khai một cách bài bản và khoa học. Các dự án này cần có sự tham gia của các nhà khoa học, các tổ chức bảo tồn, cộng đồng địa phương, và chính quyền địa phương. Hợp tác quốc tế và trao đổi kinh nghiệm với các quốc gia khác cũng rất quan trọng để học hỏi các biện pháp bảo tồn chim trĩ hiệu quả. Phát triển du lịch sinh thái bền vững có thể tạo ra nguồn thu nhập thay thế cho người dân địa phương, từ đó giảm áp lực lên tài nguyên chim trĩ.

5.1. Vai Trò của Các Tổ Chức Bảo Tồn và Cộng Đồng Địa Phương

Các tổ chức bảo tồn, cả trong nước và quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các dự án bảo tồn chim trĩ về mặt kỹ thuật, tài chính, và quản lý. Cộng đồng địa phương là đối tác quan trọng trong công tác bảo tồn, cần được tham gia vào quá trình lập kế hoạch, triển khai, và giám sát các dự án.

5.2. Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Bền Vững và Nguồn Thu Nhập Thay Thế

Phát triển du lịch sinh thái bền vững có thể tạo ra nguồn thu nhập thay thế cho người dân địa phương, từ đó giảm áp lực lên tài nguyên chim trĩ và các loài chim quý hiếm ở Quảng Bình. Cần có các quy định và hướng dẫn cụ thể để đảm bảo rằng du lịch sinh thái không gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống của chim trĩ.

VI. Tương Lai Bảo Tồn Chim Trĩ Quảng Bình Nghiên Cứu Hành Động

Tương lai của bảo tồn chim trĩQuảng Bình phụ thuộc vào việc tiếp tục các nghiên cứu chim trĩ sâu rộng, triển khai các biện pháp bảo tồn chim trĩ hiệu quả, và tăng cường sự hợp tác giữa các bên liên quan. Cần xây dựng một hệ thống giám sát và đánh giá thường xuyên để theo dõi tình trạng bảo tồn chim trĩ và điều chỉnh các chiến lược bảo tồn khi cần thiết. Đầu tư vào giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng là chìa khóa để đảm bảo rằng các thế hệ tương lai sẽ tiếp tục bảo vệ đa dạng sinh học Quảng Bình và các loài chim trĩ.

6.1. Tiếp Tục Nghiên Cứu và Giám Sát Quần Thể Chim Trĩ

Cần tiếp tục các nghiên cứu chim trĩ về sinh thái học chim trĩ, môi trường sống chim trĩ, và các mối đe dọa đối với sự tồn tại của chúng. Xây dựng một hệ thống giám sát và đánh giá thường xuyên để theo dõi quần thể chim trĩ và đánh giá hiệu quả của các biện pháp bảo tồn chim trĩ.

6.2. Tăng Cường Hợp Tác và Chia Sẻ Thông Tin

Tăng cường hợp tác giữa các nhà khoa học, các tổ chức bảo tồn, cộng đồng địa phương, và chính quyền địa phương trong công tác bảo tồn chim trĩ. Chia sẻ thông tin và kinh nghiệm với các quốc gia khác để học hỏi các biện pháp bảo tồn chim trĩ hiệu quả.

22/09/2025
Nghiên cứu tính đa dạng của khu hệ chim và tình trạng của các loài chim trĩ thuộc giống lophura ở rừng phòng hộ động châu tỉnh quảng bình và đề xuất giải pháp bảo tồn

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Tài nguyên sinh vật nói chung và tài nguyên chim nói riêng có vai trò to lớn trong đời sống hàng ngày của con ngƣời. Trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam rất đƣợc quan tâm, nhiều công trình nghiên cứu đƣợc triển khai theo hƣớng đánh giá tài nguyên, đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nằm trong khu vực Đông Nam Á, nơi có tiềm năng về đa dạng sinh học cao, Việt Nam có khu hệ chim rất đa dạng và phong phú với 887 loài thuộc 88 họ của 20 bộ[29]. Riêng đối với bảo tồn chim đã xác lập đƣợc 63 vùng chim quan trọng ở Việt Nam [32].

Đây là những biện pháp tích cực, nhằm góp phần bảo tồn ĐDSH, duy trì sự cân bằng sinh thái, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nƣớc. Các hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở vùng sinh thái toàn cầu Dãy Trƣờng Sơn có sự đa dạng cao về thành phần loài chim nhƣ: VQG Bạch Mã (Thừa thiên - Huế) với 358 loài, 186 giống thuộc 55 họ, 15 bộ [16]; VQG Cát Tiên (Đồng Nai) với 351 loài thuộc 64 họ, 18 bộ [38]; VQG Cúc Phƣơng (Ninh Bình) với 262 loài thuộc 52 họ, 16 bộ [16],… Rừng phòng hộ Động Châu là một phần của “vùng sinh thái toàn cầu Dãy Trƣờng Sơn” nên cũng có khu hệ chim rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, cho đến nay mới có một số ít công trình nghiên cứu về chim ở đây. Những nghiên cứu này chƣa phản ánh đầy đủ sự đa dạng về thành phần loài chim ở Rừng phòng hộ Động Châu, do vậy cần phải có những nghiên cứu tiếp.

Việt Nam đƣợc coi là quê hƣơng của các loài chim Trĩ ở Đông Dƣơng, với nhiều loài đặc hữu, quý hiếm, có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn cao và các loài chim Trĩ luôn đƣợc quan tâm điều tra, nghiên cứu, bảo vệ. Các loài chim Trĩ nói chung và giống Lophura trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam đã có lịch sử nghiên cứu khá lâu. Năm 1975, Hiệp Hội Chim Trĩ Thế giới (World Pheasant Association) đƣợc thành lập, có trụ sở tại Anh Quốc, hàng năm Hội đã xuất bản những bản tin và tạp chí của Hội. Mục đích nhằm phát triển, thúc đẩy và hỗ trợ bảo tồn tất cả các loài chim thuộc bộ Gà, trong đó có các loài giống Lophura.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 2 Trong những năm gần đây, do tình trạng săn bắt quá mức, sinh cảnh sống bị thu hẹp, các loài chim Trĩ thuộc giống Lophura đã bị suy giảm nghiêm trọng về trữ lƣợng. Hiện nay, chim Trĩ đang đứng trƣớc nguy cơ bị diệt vong nếu không có những biện pháp bảo vệ cấp bách và hữu hiệu. Trong Danh lục đỏ Thế giới của IUCN về các loài bị đe doạ toàn cầu (The IUCN Red List of the Threatened Species) và đặc biệt là Sách Đỏ Việt Nam (2007) đã có các loài chim Trĩ đặc hữu, quý hiếm đƣợc ghi nhận và xếp ở các cấp đe dọa khác nhau. Đặc biệt loài Gà lôi lam mào trắng Lophura edwardsi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) xếp vào bậc nguy cấp (EN) và Danh Lục Đỏ của IUCN (2014) xếp vào bậc Rất nguy cấp (CR).

Cho đến nay, có rất ít các thông tin ghi nhận trực tiếp về loài này mà chỉ ghi nhận đƣợc chúng qua phỏng vấn ngƣời dân địa phƣơng. Các hoạt động của con ngƣời đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trƣờng sống của các loài chim nhƣ khai thác gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ, khai thác khoáng sản, săn bắt và buôn bán động vật,. Vì vậy, việc xác định các mối đe doạ và các khu vực bị tác động ở Rừng phòng hộ Động Châu là một trong những nhiệm vụ quan trọng, giúp các nhà quản lý có những biện pháp kiểm soát các tác động tiêu cực nhằm bảo tồn và phát triển bền vững khu hệ chim của khu vực này. Nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn cấp bách đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng của khu hệ chim và tình trạng của các loài chim Trĩ thuộc giống Lophura ở Rừng phòng hộ Động Châu, tỉnh Quảng Bình và đề xuất giải pháp bảo tồn”.

Mục tiêu của đề tài: - Xác định đƣợc tính đa dạng về thành phần loài chim ở Rừng phòng hộ Động Châu. - Xác định tình trạng của các loài chim Trĩ thuộc giống Lophura ở Rừng phòng hộ Động Châu. - Xác định các mối đe dọa đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học trong đó có khu hệ chim ở Rừng phòng hộ Động Châu và đề xuất các giải pháp bảo tồn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 3 Nội dung của đề tài: - Xây dựng đƣợc danh lục các loài chim, phân tích tính đa dạng về thành phần loài và mức độ phong phú của khu hệ chim Rừng phòng hộ Động Châu.

- Thu thập số liệu, phân tích đánh giá về tình trạng của các loài chim Trĩ thuộc giống Lophura ở Rừng phòng hộ Động Châu. - Phân tích các nguyên nhân gây suy thoái về loài và sinh cảnh và đề xuất các giải pháp bảo tồn tính đa dạng của khu hệ chim ở khu vực nghiên cứu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Lịch sử nghiên cứu chim Việt Nam Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có sự phân hóa cao về địa hình, khí hậu, môi trƣờng sống,. trải dài từ Bắc tới Nam, nên có khu hệ chim rất phong phú và đa dạng ở khu vực Đông Nam Á. Cho đến nay, đã ghi nhận đƣợc 887 loài chim trên phạm vi toàn quốc [29]. Tuy nhiên, đây chỉ là những con số đã đƣợc thống kê, không thể đƣa ra con số chính xác bởi có thể những loài đã bị tuyệt chủng, hoặc có những loài mới chƣa đƣợc phát hiện.

Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn trước năm 1975 Thời kỳ này, các công trình nghiên cứu về chim ở Việt Nam chủ yếu đƣợc tiến hành bởi một số nhà khoa học nƣớc ngoài nhƣ: Linnaeus (1758), Gmélin (1788), Lesson (1831) và Bonaparte (1856), Pier (1872). Các kết quả ở thời kỳ này còn rất sơ lƣợc. Trong khoảng thời gian từ 1875 – 1877, Tirant đã sƣu tầm đƣợc một bộ sƣu tập chim khá lớn ở miền Nam Việt Nam gồm khoảng 1.000 tiêu bản với 353 loài và phân loài [22]. Suốt thời gian đó, các nghiên cứu chim đều do ngƣời nƣớc ngoài thực hiện trên cả vùng Đông Dƣơng, trong đó có Việt Nam nhƣ: Nghiên cứu của Oustalet và Germain, 1905 – 1907 với công trình “Danh sách chim miền Nam Bộ”.

Ở miền Bắc Việt Nam có Boutan (1905) với các sƣu tầm chim ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và một số điểm thuộc Hà Đông và vùng ven Hà Nội. Tác giả đã ghi nhận đƣợc 90 loài và các dẫn liệu về sinh học của một số loài. Năm 1918, Kloss và cộng sự đã tiến hành tổ chức cuộc sƣu tầm chim lớn nhất kể từ trƣớc cho đến thời điểm đó ở Đông Dƣơng, từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1918 ở các vùng Phan Rang, Langbiang của Việt Nam; kết quả đã thu thập đƣợc 1.525 tiêu bản của 235 loài và phân loài, trong đó có 34 dạng mới cho khoa học [22]. Năm 1924, Delacour và Jabouille đã thu thập đƣợc hơn 2.000 tiêu bản ở Quảng Trị, trong đó có 12 dạng mới.

Cùng thời gian đó, Steven đã sƣu tầm đƣợc một số lƣợng lớn tiêu bản chim ở vùng Tây Bắc Việt Nam, với 219 loài và phân loài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 cùng một số dẫn liệu về sinh học và đã mô tả thêm 11 loài và phân loài chim mới ở miền Bắc Việt Nam [22]. Năm 1931, Delacour và Jabuille đã xuất bản công trình nghiên cứu tổng hợp về chim Đông Dƣơng gồm 4 tập với 954 loài và phân loài, trong đó có các loài chim của Việt Nam [45, 46, 47, 48]. Đây là công trình tổng hợp từ kết quả điều tra nghiên cứu chim của tác giả và một số ngƣời khác đƣợc tiến hành chủ yếu qua 5 cuộc điều tra từ năm 1924 đến 1930. Trong khoảng thời gian từ năm 1926 đến 1945, Delacour và nhiều tác giả khác cũng đã có các công trình nghiên cứu tại các tỉnh phía Bắc và vùng Đông Bắc nhƣ: Hà Tây, Hà Nội và một số nơi khác khác thuộc đồng bằng Bắc Bộ.

Trong đó đáng chú ý là các kết quả nghiên cứu về sinh học, sinh thái của một số loài chim ở Lào Cai (Sa Pa, Fan Si Pan), Lạng Sơn, Vĩnh Phúc (Vĩnh Yên, Tam Đảo) và Bắc Kạn,. Các kết quả nghiên cứu tiếp theo từ năm 1931 đến trƣớc năm 1945 đƣợc Delacour bổ sung cho danh lục chim Đông Dƣơng (1951) với 1.085 loài và phân loài [22]. Từ năm 1945, công tác nghiên cứu chim bị gián đoạn do chiến tranh và chỉ đƣợc thực hiện trở lại từ sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc Việt Nam, năm 1957. Bắt đầu thời kỳ này, các tác giả Việt Nam đã có điều kiện để tiến hành điều tra nhiên cứu và đã có nhiều công trình đƣợc công bố.

Phần lớn các công trình đƣợc công bố đều tập trung ở miền Bắc Việt Nam. Năm 1961, Võ Quý, Trần Gia Huấn đã khảo sát khu hệ chim vùng Chi Nê, tỉnh Hòa Bình, kết quả đã thống kê đƣợc 137 loài chim và chỉ ra sự phân bố của các loài theo sinh cảnh [19]; Võ Quý, Đỗ Ngọc Quang, 1965: Kết quả sƣu tầm chim ở vùng Bảo Lạc, Trùng Khánh (Cao Bằng) và Mẫu Sơn (Lạng Sơn) [20]; Đào Văn Tiến, Võ Quý, 1969: Kết quả điều tra sƣu tầm động vật có sƣơng sống ở trên cạn ở vùng Chợ Rã (Bắc Kạn) [31]. Năm 1971, Võ Quý đã xuất bản cuốn sách “Sinh học của những loài chim thƣờng gặp ở miền Bắc Việt Nam”. Trong sách tác giả có dẫn chứng đầy đủ về đặc điểm nơi ở, thức ăn, sinh sản và một số tập tính khác của gần 200 loài chim ở miền Bắc mà đa số là các loài có ý nghĩa về mặt kinh tế [22].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn sau năm 1975 Sau năm 1975, hàng loạt các công trình nghiên cứu về điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên ở nƣớc ta, trong đó có khu hệ chim của nhiều vùng đƣợc công bố dƣới các hình thức khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ