MỞ ĐẦU Tài nguyên sinh vật nói chung và tài nguyên chim nói riêng có vai trò to lớn trong đời sống hàng ngày của con ngƣời. Trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam rất đƣợc quan tâm, nhiều công trình nghiên cứu đƣợc triển khai theo hƣớng đánh giá tài nguyên, đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nằm trong khu vực Đông Nam Á, nơi có tiềm năng về đa dạng sinh học cao, Việt Nam có khu hệ chim rất đa dạng và phong phú với 887 loài thuộc 88 họ của 20 bộ[29]. Riêng đối với bảo tồn chim đã xác lập đƣợc 63 vùng chim quan trọng ở Việt Nam [32].
Đây là những biện pháp tích cực, nhằm góp phần bảo tồn ĐDSH, duy trì sự cân bằng sinh thái, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nƣớc. Các hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở vùng sinh thái toàn cầu Dãy Trƣờng Sơn có sự đa dạng cao về thành phần loài chim nhƣ: VQG Bạch Mã (Thừa thiên - Huế) với 358 loài, 186 giống thuộc 55 họ, 15 bộ [16]; VQG Cát Tiên (Đồng Nai) với 351 loài thuộc 64 họ, 18 bộ [38]; VQG Cúc Phƣơng (Ninh Bình) với 262 loài thuộc 52 họ, 16 bộ [16],… Rừng phòng hộ Động Châu là một phần của “vùng sinh thái toàn cầu Dãy Trƣờng Sơn” nên cũng có khu hệ chim rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, cho đến nay mới có một số ít công trình nghiên cứu về chim ở đây. Những nghiên cứu này chƣa phản ánh đầy đủ sự đa dạng về thành phần loài chim ở Rừng phòng hộ Động Châu, do vậy cần phải có những nghiên cứu tiếp.
Việt Nam đƣợc coi là quê hƣơng của các loài chim Trĩ ở Đông Dƣơng, với nhiều loài đặc hữu, quý hiếm, có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn cao và các loài chim Trĩ luôn đƣợc quan tâm điều tra, nghiên cứu, bảo vệ. Các loài chim Trĩ nói chung và giống Lophura trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam đã có lịch sử nghiên cứu khá lâu. Năm 1975, Hiệp Hội Chim Trĩ Thế giới (World Pheasant Association) đƣợc thành lập, có trụ sở tại Anh Quốc, hàng năm Hội đã xuất bản những bản tin và tạp chí của Hội. Mục đích nhằm phát triển, thúc đẩy và hỗ trợ bảo tồn tất cả các loài chim thuộc bộ Gà, trong đó có các loài giống Lophura.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 2 Trong những năm gần đây, do tình trạng săn bắt quá mức, sinh cảnh sống bị thu hẹp, các loài chim Trĩ thuộc giống Lophura đã bị suy giảm nghiêm trọng về trữ lƣợng. Hiện nay, chim Trĩ đang đứng trƣớc nguy cơ bị diệt vong nếu không có những biện pháp bảo vệ cấp bách và hữu hiệu. Trong Danh lục đỏ Thế giới của IUCN về các loài bị đe doạ toàn cầu (The IUCN Red List of the Threatened Species) và đặc biệt là Sách Đỏ Việt Nam (2007) đã có các loài chim Trĩ đặc hữu, quý hiếm đƣợc ghi nhận và xếp ở các cấp đe dọa khác nhau. Đặc biệt loài Gà lôi lam mào trắng Lophura edwardsi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) xếp vào bậc nguy cấp (EN) và Danh Lục Đỏ của IUCN (2014) xếp vào bậc Rất nguy cấp (CR).
Cho đến nay, có rất ít các thông tin ghi nhận trực tiếp về loài này mà chỉ ghi nhận đƣợc chúng qua phỏng vấn ngƣời dân địa phƣơng. Các hoạt động của con ngƣời đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trƣờng sống của các loài chim nhƣ khai thác gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ, khai thác khoáng sản, săn bắt và buôn bán động vật,. Vì vậy, việc xác định các mối đe doạ và các khu vực bị tác động ở Rừng phòng hộ Động Châu là một trong những nhiệm vụ quan trọng, giúp các nhà quản lý có những biện pháp kiểm soát các tác động tiêu cực nhằm bảo tồn và phát triển bền vững khu hệ chim của khu vực này. Nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn cấp bách đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng của khu hệ chim và tình trạng của các loài chim Trĩ thuộc giống Lophura ở Rừng phòng hộ Động Châu, tỉnh Quảng Bình và đề xuất giải pháp bảo tồn”.
Mục tiêu của đề tài: - Xác định đƣợc tính đa dạng về thành phần loài chim ở Rừng phòng hộ Động Châu. - Xác định tình trạng của các loài chim Trĩ thuộc giống Lophura ở Rừng phòng hộ Động Châu. - Xác định các mối đe dọa đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học trong đó có khu hệ chim ở Rừng phòng hộ Động Châu và đề xuất các giải pháp bảo tồn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 3 Nội dung của đề tài: - Xây dựng đƣợc danh lục các loài chim, phân tích tính đa dạng về thành phần loài và mức độ phong phú của khu hệ chim Rừng phòng hộ Động Châu.
- Thu thập số liệu, phân tích đánh giá về tình trạng của các loài chim Trĩ thuộc giống Lophura ở Rừng phòng hộ Động Châu. - Phân tích các nguyên nhân gây suy thoái về loài và sinh cảnh và đề xuất các giải pháp bảo tồn tính đa dạng của khu hệ chim ở khu vực nghiên cứu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Lịch sử nghiên cứu chim Việt Nam Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có sự phân hóa cao về địa hình, khí hậu, môi trƣờng sống,. trải dài từ Bắc tới Nam, nên có khu hệ chim rất phong phú và đa dạng ở khu vực Đông Nam Á. Cho đến nay, đã ghi nhận đƣợc 887 loài chim trên phạm vi toàn quốc [29]. Tuy nhiên, đây chỉ là những con số đã đƣợc thống kê, không thể đƣa ra con số chính xác bởi có thể những loài đã bị tuyệt chủng, hoặc có những loài mới chƣa đƣợc phát hiện.
Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn trước năm 1975 Thời kỳ này, các công trình nghiên cứu về chim ở Việt Nam chủ yếu đƣợc tiến hành bởi một số nhà khoa học nƣớc ngoài nhƣ: Linnaeus (1758), Gmélin (1788), Lesson (1831) và Bonaparte (1856), Pier (1872). Các kết quả ở thời kỳ này còn rất sơ lƣợc. Trong khoảng thời gian từ 1875 – 1877, Tirant đã sƣu tầm đƣợc một bộ sƣu tập chim khá lớn ở miền Nam Việt Nam gồm khoảng 1.000 tiêu bản với 353 loài và phân loài [22]. Suốt thời gian đó, các nghiên cứu chim đều do ngƣời nƣớc ngoài thực hiện trên cả vùng Đông Dƣơng, trong đó có Việt Nam nhƣ: Nghiên cứu của Oustalet và Germain, 1905 – 1907 với công trình “Danh sách chim miền Nam Bộ”.
Ở miền Bắc Việt Nam có Boutan (1905) với các sƣu tầm chim ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và một số điểm thuộc Hà Đông và vùng ven Hà Nội. Tác giả đã ghi nhận đƣợc 90 loài và các dẫn liệu về sinh học của một số loài. Năm 1918, Kloss và cộng sự đã tiến hành tổ chức cuộc sƣu tầm chim lớn nhất kể từ trƣớc cho đến thời điểm đó ở Đông Dƣơng, từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1918 ở các vùng Phan Rang, Langbiang của Việt Nam; kết quả đã thu thập đƣợc 1.525 tiêu bản của 235 loài và phân loài, trong đó có 34 dạng mới cho khoa học [22]. Năm 1924, Delacour và Jabouille đã thu thập đƣợc hơn 2.000 tiêu bản ở Quảng Trị, trong đó có 12 dạng mới.
Cùng thời gian đó, Steven đã sƣu tầm đƣợc một số lƣợng lớn tiêu bản chim ở vùng Tây Bắc Việt Nam, với 219 loài và phân loài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 cùng một số dẫn liệu về sinh học và đã mô tả thêm 11 loài và phân loài chim mới ở miền Bắc Việt Nam [22]. Năm 1931, Delacour và Jabuille đã xuất bản công trình nghiên cứu tổng hợp về chim Đông Dƣơng gồm 4 tập với 954 loài và phân loài, trong đó có các loài chim của Việt Nam [45, 46, 47, 48]. Đây là công trình tổng hợp từ kết quả điều tra nghiên cứu chim của tác giả và một số ngƣời khác đƣợc tiến hành chủ yếu qua 5 cuộc điều tra từ năm 1924 đến 1930. Trong khoảng thời gian từ năm 1926 đến 1945, Delacour và nhiều tác giả khác cũng đã có các công trình nghiên cứu tại các tỉnh phía Bắc và vùng Đông Bắc nhƣ: Hà Tây, Hà Nội và một số nơi khác khác thuộc đồng bằng Bắc Bộ.
Trong đó đáng chú ý là các kết quả nghiên cứu về sinh học, sinh thái của một số loài chim ở Lào Cai (Sa Pa, Fan Si Pan), Lạng Sơn, Vĩnh Phúc (Vĩnh Yên, Tam Đảo) và Bắc Kạn,. Các kết quả nghiên cứu tiếp theo từ năm 1931 đến trƣớc năm 1945 đƣợc Delacour bổ sung cho danh lục chim Đông Dƣơng (1951) với 1.085 loài và phân loài [22]. Từ năm 1945, công tác nghiên cứu chim bị gián đoạn do chiến tranh và chỉ đƣợc thực hiện trở lại từ sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc Việt Nam, năm 1957. Bắt đầu thời kỳ này, các tác giả Việt Nam đã có điều kiện để tiến hành điều tra nhiên cứu và đã có nhiều công trình đƣợc công bố.
Phần lớn các công trình đƣợc công bố đều tập trung ở miền Bắc Việt Nam. Năm 1961, Võ Quý, Trần Gia Huấn đã khảo sát khu hệ chim vùng Chi Nê, tỉnh Hòa Bình, kết quả đã thống kê đƣợc 137 loài chim và chỉ ra sự phân bố của các loài theo sinh cảnh [19]; Võ Quý, Đỗ Ngọc Quang, 1965: Kết quả sƣu tầm chim ở vùng Bảo Lạc, Trùng Khánh (Cao Bằng) và Mẫu Sơn (Lạng Sơn) [20]; Đào Văn Tiến, Võ Quý, 1969: Kết quả điều tra sƣu tầm động vật có sƣơng sống ở trên cạn ở vùng Chợ Rã (Bắc Kạn) [31]. Năm 1971, Võ Quý đã xuất bản cuốn sách “Sinh học của những loài chim thƣờng gặp ở miền Bắc Việt Nam”. Trong sách tác giả có dẫn chứng đầy đủ về đặc điểm nơi ở, thức ăn, sinh sản và một số tập tính khác của gần 200 loài chim ở miền Bắc mà đa số là các loài có ý nghĩa về mặt kinh tế [22].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn sau năm 1975 Sau năm 1975, hàng loạt các công trình nghiên cứu về điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên ở nƣớc ta, trong đó có khu hệ chim của nhiều vùng đƣợc công bố dƣới các hình thức khác nhau.