CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH THÁO LŨ KIỂU GIẾNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ THỦY LỰC TRONG GIẾNG THÁO LŨ 1. TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG HỒ CHỨA NƯỚC Ở VIỆT NAM Hồ chứa nước ở Việt Nam là biện pháp công trình chủ yếu để chống lũ cho các vùng hạ du, cấp nước tưới ruộng, công nghiệp, sinh hoạt, phát điện, phát triển du lịch, cải tạo môi trường nuôi trồng thủy sản, phát triển giao thông, thể thao, văn hóa. Đa phần là hồ chứa vừa và nhỏ (cấp IV chiếm 62%; hồ có lưu vực F < 10 km2 chiếm 65,6 %, hồ chứa nước tưới không quá 500 ha chiếm 82%, hồ có dung tích không vượt quá 10 triệu (m3) chiếm 26,07%, số hồ có dung tích lớn hơn chiếm tỷ lệ nhỏ. Hồ có dung tích từ 20 triệu (m3) trở lên có 51 hồ (trong đó có 10 hồ do nghành thủy điện quản lý).
Những hồ nhỏ nằm nằm rải rác khắp nơi tạo nên những thế mạnh nhất định (vốn ít, sớm đưa vào phục vụ, phù hợp với nền sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, đi đến từng thôn bản phục vụ đắc lực cho phát triển nông nghiệp và nông thôn). Hồ lớn tuy ít về số lượng, nhưng có vai trò quyết định tạo đà phát triển trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phòng chống lũ, phát điện, khả năng vượt tải cao nên chống hạn tốt. Hồ chứa nước chỉ có thể xây dựng ở những vùng có địa hình, địa chất phù hợp. Xây dựng hồ chứa cần chú ý tới các vùng miền.
Ở những vùng có ít hồ (ví dụ như ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên), đặc biệt ở vùng thiếu quá nhiều hồ lớn (như ở Tây Nguyên) thì việc chống lũ, chống hạn, cải tạo môi trường sinh thái, cung cấp nước sạch còn gặp rất nhiều khó khăn. Theo thời gian, trước năm 1964 việc xây dựng hồ chứa diễn ra chậm, có ít hồ chứa được xây dựng trong giai đoạn này. Sau năm 1964, đặc biệt từ khi nước nhà thống nhất thì việc xây dựng hồ chứa phát triển mạnh. Từ năm 1976 4 đến nay số hồ chứa mới xây dựng chiếm 67%.
Không những tốc độ phát triển nhanh, mà cả về quy mô công trình cũng lớn lên không ngừng. Hiện nay, đã bắt đầu xây dựng hồ lớn, đập cao ở những nơi có điều kiện tự nhiên phức tạp. Hình thức kết cấu và kỹ thuật xây dựng từng loại công trình ở hồ chứa nước còn đơn điệu, ít có đổi mới, đa dạng hóa. Việc áp dụng vật liệu mới, công nghệ mới hiện đang được quan tâm [6].
ĐẶC ĐIỂM HỒ CHỨA VÀ ĐIỀU KIỆN ỨNG DỤNG CÔNG TRÌNH THÁO LŨ KIỂU GIẾNG 1. Bố trí công trình tháo lũ ở hồ chứa 1. Nhiệm vụ công trình tháo lũ Trong đầu mối công trình thủy lợi hồ chứa nước, ngoài một số công trình như đập dâng, công trình lấy nước, công trình chuyên môn, còn phải làm các công trình để tháo nước lũ thừa không thể chứa được trong hồ, có lúc đặt ở độ sâu để đảm nhận thêm việc tháo cạn một phần hay toàn bộ hồ chứa khi cần thiết phải kiểm tra sữa chữa hoặc tháo bùn cát trong hồ. Có công trình tháo lũ thì hồ mới làm việc được bình thường và an toàn [3].
Các hình thức bố trí công trình tháo lũ 1. Công trình tháo lũ trong thân đập a) Đập tràn Đập tràn vừa làm nhiệm vụ chắn dâng nước và tháo nước. Loại này sử dụng khi đập dâng nước làm bằng bê tông hoặc đá xây. Chiều dài đoạn tràn nước có thể bằng chiều dài toàn đập dâng hoặc nhỏ hơn (xác định bằng cách so sách các phương án B t ).
Để tăng khả năng tháo nước, trên đập tràn cũng có thể bố trí kết hợp lỗ xả sâu (như ở đập Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu), hoặc đặt lỗ xả sâu ở phần đập không tràn (ví dụ đập Tân Giang, Lông, Định Bình) [1]. Đập tràn Định Bình [1] b) Xi phông tháo lũ Xi phông tháo lũ thường sử dụng với đập bê tông, nhưng cũng có thể dùng với đập đất, đập đá. Xi phông là loại công trình tháo nước kiểu kín, làm việc tự động tháo lũ nhanh do sử dụng chân không để hút nước làm đầy ống. Khi công trình sử dụng một bộ phận gồm nhiều ống xi phông (như ở hồ Xuân Hương – Đà Lạt) cần bố trí ống thông khí của các xi phông có cao độ lệch nhau để tránh việc tất cả các xi phông cùng mở máy đồng thời gây rung động, mất ổn định cho đập.
Xi phông sử dụng thích hợp với hồ có lũ tập trung nhanh, hay khi địa hình phức tạp, bố trí đường tràn hở sẽ không kinh tế [1].a) Xi phông tháo lũ trong đập bê tông;b) Xi phông trong đập đất [1] 1. Đỉnh ngưỡng tràn; 2. Lỗ thông khí; 3. Lưỡi gà hắt nước; 6.
Bể tiêu năng 2. Công trình tháo lũ ngoài thân đập a) Đường tràn dọc Đường tràn dọc là loại đường tràn hở có hướng nước vào ngưỡng trùng với hướng của đường tháo sau ngưỡng. Thành phần của một đường tràn dọc bao gồm có: kênh dẫn vào, ngưỡng tràn, đường tháo và bộ phận nối tiếp hạ lưu. Ngưỡng tràn là loại đập tràn đỉnh rộng hay thực dụng, tùy theo chiều cao tương đối của ngưỡng so với đáy kênh dẫn vào.
Đường tháo hở có thể chọn dạng dốc nước hay bậc nước. Bộ phận nối tiếp hạ lưu bao gồm thiết bị tiêu năng và kênh dẫn ra sông hạ lưu. Bố trí đường tràn dọc ở đầu đập [1] a ) Mặt bằng tổng thể; b) mặt cắt dọc; c) mặt cắt ngang Thiết bị tiêu năng cuối dốc có thể bố trí hình thức đáy (bể tiêu năng hoặc bể-tường kết hợp), hay hình thức phóng xa (mũi phun thẳng, mũi phun lệch…). Cửa của kênh hạ lưu dẫn nước xả ra sông cần bố trí xa chân đập và xa các công trình khác trong đầu mối (âu thuyền, nhà máy thủy điện…) để tránh ảnh hưởng đến chúng.
Đường tràn dọc là loại công trình tháo nước được ứng dụng rộng rãi nhất ở nước ta hiện nay. Loại này sử dụng hợp lý khi địa hình khu đầu mối tương đối thoải. Có thể bố trí đường tràn dọc theo núi, ở một đầu đập, hoặc thậm chí cả hai đầu đập [1]. b) Đường tràn ngang Đường tràn ngang cũng là một loại đường tràn hở, có hướng nước vào ngưỡng gần vuông góc với hướng của đường tháo sau ngưỡng.
Đây là đặc điểm để phân biệt đường tràn dọc và đường tràn ngang. 8 Thành phần của đường tràn ngang gồm: Kênh dẫn vào (có thể là rất ngắn hoặc không có), ngưỡng, máng bên đặt trực tiếp sau ngưỡng và đường tháo nối tiếp sau máng bên (hình 1-4). Do đổi hướng dòng chảy từ ngưỡng sang máng bên, dòng chảy trong máng có chế độ chảy phức tạp (dòng biến lượng chảy xoắn ốc). Trong tính toán thủy lực đường tràn ngang, cần xác định đường mực nước trong máng để kiểm tra trạng thái chảy qua ngưỡng.
Để đảm bảo an toàn, thường khống chế trạng thái chảy qua ngưỡng là tự do. Đường tràn ngang [1] 1. công trình nối tiếp; 4. ngưỡng tràn 9 c) Giếng tháo lũ Giếng tháo lũ là công trình tháo nước kiểu kín.
Thành phần công trình gồm: miệng vào, giếng đứng, đường hầm tháo nước và bộ phận nối tiếp hạ lưu. Để tăng diện tích tràn nước vào có thể bố trí theo kiểu hoa hồng nhiều cánh. Bộ phận giếng thường có trục thẳng đứng, mặt cắt không đổi hoặc thu hẹp dần theo chiều dòng chảy để tránh chân không. Đường tháo nước nằm ngang thường được kết hợp tháo lũ thi công.
Chế độ thủy lực trong hầm tháo nước có thể không áp hoặc có áp. Giếng tháo lũ được sử dụng khi tại khu đầu mối không có vị trí thích hợp để bố trí đường tràn hở [1]. Miệng vào giếng tháo lũ theo kiểu hoa hồng nhiều cánh (Dự án thủy lợi Phước Hòa) Hình 1-7. Giếng tháo lũ Pontezi (Ý) [3] 11 Hình 1-8.
Giếng tháo lũ trong công trình Melrin ở Iran [3] Hình 1-9. Giếng tháo lũ trong thân đập đất [3] 12 d) Tháo lũ kiểu gáo Đây là công trình tháo lũ kiểu kín, có thể đặt ở bờ sông hay thân đập. Các bộ phận của công trình này gồm: Ngưỡng tràn, các ống tháo và thiết bị tiêu năng hạ lưu (hình 1-10). Ngưỡng tràn ba phía có dạng mặt cắt thực dụng hoặc mặt cắt hình thang đỉnh mỏng.
Qua ngưỡng tràn, nước chảy vào gáo rồi được tháo theo các ống xuống hạ lưu. Cao trình đỉnh ngưỡng tràn bằng mực nước dâng bình thường. Cột nước trên đỉnh tràn thường từ 1 ÷ 1,5m nên chiều dài ngưỡng tràn tương đối dài. a) b) 4 II 3 2 3 5 2 I 1 6 I II c) I I-I I I -I 3 4 H 7 2 6 6 Hình 1-10.
Đường tràn kiểu gáo [7] 1. tường hướng dòng; 5. ngưỡng tràn; 6. lớp bảo vệ; 7.
13 Ngưỡng tràn ở mặt chính diện phải đủ dài để có thể bố trí miệng vào của các ống tháo nước. Miệng vào của các ống tháo nước được mở rộng dần để dòng chảy vào thuận. Mặt cắt các ống tháo có dạng tròn hoặc vuông. Các ống này thường làm bằng bê tông cốt thép.
Tại cửa ra của ống, bố trí các thiết bị tiêu năng [7]. Việc lựa chọn hình thức công trình tháo lũ cần phải thõa mãn các điều kiện an toàn và kinh tế. ở Việt Nam, các công trình tháo lũ kiểu hở như đập tràn, tràn dọc được áp dụng phổ biến. Tuy nhiên khi điều kiện địa hình địa chất không thuận lợi để bố trí tràn hở (chẳng hạn khi địa hình chật hẹp, bờ dốc, núi đá) thì cần nghiên cứu bố trí các hình thức công trình tháo lũ khác.
Tháo lũ kiểu giếng là một hình thức công trình hợp lý, loại công trình này cho khả năng tháo nước lớn trong khi chỉ chiếm một phạm vi nhỏ trong mặt bằng tổng thể công trình. Tuy nhiên, chế độ thủy lực trong giếng khá phức tạp, đòi hỏi cần có nghiên cứu để vừa đảm bảo khả năng tháo nước, vừa đảm bảo an toàn trong quá trình vận hành. Do vậy việc nghiên cứu chế độ thủy lực trong công trình tháo lũ kiểu giếng và áp dụng cho một phương án thiết kế hồ Cửa Đạt là cần thiết có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Đồng thời đề tài cũng giúp cho các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh có cơ sở khoa học trong thiết kế mới hoặc sữa chữa, nâng cấp các hồ chứa nước sau này.
Đặc điểm bố trí và làm việc của công trình tháo lũ kiểu giếng 1. Bố trí các bộ phận của giếng tháo lũ Giếng tháo lũ bao gồm các thành phần sau đây (hình 1-11). - Miệng tràn: Trên mặt bằng, miệng tràn có dạng hình tròn đồng tâm với giếng đứng.