MỞ ĐẦU Nước là một yếu tố sinh thái không thể thiếu đối với sự sống và là nguồn tự nhiên có khả năng tái tạo vô cùng quý giá đối với con người. Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và tạo cảnh quan môi trường. Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt. Jonnes, 97,41% thể tích nước Trái Đất nằm trong biển và đại dương, 1,98% trong băng tuyết hai cực, núi cao, còn lại 0,61% nằm rải rác trong không khí và các thuỷ vực mặt, ngầm ở lục địa [11].
Hệ thống sông suối của Việt Nam khá phát triển, nhưng phân bố không đều. Mật độ trung bình 0,6 km/km, lớn nhất 2 - 4 km/km ở châu thổ sông Hồng - Thái Bình và Cửu Long, do nhu cầu tiêu thoát nước lớn trong khi địa hình bằng phẳng, biên độ triều lớn và khả năng can thiệp của con người cao [5]. Mật độ sông suối lớn tạo ra những thuận lợi cho đối tượng trực tiếp dùng nước, tạo điều kiện phát triển giao thông thủy. Cùng với sự phát triển đất nước theo hướng CNH – HĐH, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng đang bị tác động rất lớn.
Chất lượng nước các con sông đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, đồng thời khả năng tiếp nhận chất thải của chúng cũng bị mất dần như sông Nhuệ, Tô Lịch, sông Đồng Nai, sông Sài Gòn,…vùng thượng lưu cũng như hạ lưu các con sông đã chịu tác động mạnh mẽ từ các hoạt động sinh hoạt, y tế, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và công nghiệp… từ các tỉnh trong lưu vực sông [2]. Sông Công là một chi lưu của sông Cầu. Sông Công bắt nguồn từ vùng Ba Lá, huyện Định Hóa, chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Môi trường nước sông Công đang có biểu hiện bị ô nhiễm do nguồn thải từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, dịch vụ chủ yếu qua khu vực thị xã sông Công.
Với vai trò trong việc phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Thái Nguyên, việc bảo vệ tổng thể môi trường nước sông Công là hết sức cần thiết. Trước những yêu cầu về việc bảo vệ môi trường nước sông Công, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu hiện trạng chất lượng nước sông Công đoạn từ hạ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lưu Hồ Núi Cốc đến điểm hợp lưu sông Cầu và đề xuất giải pháp bảo vệ”, với mục tiêu sau: Đánh giá hiện trạng và diễn biến chất lượng nước Sông Công. Đánh giá khả năng chịu tải của dòng sông. Đánh giá các sức ép của phát triển kinh tế - xã hội, của các hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông, lâm ngư nghiệp.
lên môi trường nước Sông Công; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường nước vùng Sông Công. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Hiện trạng môi trƣờng nƣớc mặt của Việt Nam Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc, trong đó có 13 hệ thống sông lớn có diện tích trên 10000 km2.
Tài nguyên nước mặt tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới. Tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Kông khoảng 500 km3, chiếm tới 59% tổng lượng dòng chảy năm của các sông trong cả nước. Hệ thống sông Hồng 126,5 km3 (14,9%), hệ thống sông Đồng Nai 36,3 km3 (4,3%), sông Mã, sông Cả, Thu Bồn có tổng lượng dòng chảy gần bằng nhan khoảng 20 km3 (2,3-2,6%), các hệ thống sông Kỳ Cùng, sông Thái Bình và sông Ba cũng xấp xỉ nhau khoảng 9km3 (1%), các sông còn lại là 94,5 km3 (11,1%) [2]. Đây là nguồn tài nguyên nước vô cùng quý giá góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, nước mặt ở Việt Nam hiện đang đối mặt với tình trạng suy kiệt và ô nhiễm trên diện rộng [2]. Theo thống kê của Cục quản lý tài nguyên nước, tổng trữ lượng nước mặt của Việt Nam chỉ đạt khoảng hơn 830-840 tỷ km3, trong đó hơn 60% lượng nước được sản sinh từ nước ngoài. Tình trạng suy kiệt nguồn nước trong các hệ thống sông ngòi, kênh, hồ chứa đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng mà nguyên nhân chủ yếu là do khai thác quá mức tài nguyên nước và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Khả năng cung cấp nước cũng khác nhau đối với các vùng khác nhau trên lãnh thổ.
Đối với LV hệ thống sông Đồng Nai (khu vực có đóng góp đến 40% tổng sản phẩm quốc nội cả nước), hiện tại có khả năng cung cấp nước đạt 2.350 m3/người/năm và có thể giảm xuống còn khoảng 1.600 m3/người/năm vào 2025 nếu dân số vẫn tiếp tục tăng như xu hướng hiện nay. Tình hình này còn xấu hơn tại LVS Cầu, khả năng cung cấp nước hiện tại là 656 m3/người/năm. LVS Nhuệ - Đáy con số này là 2. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tổng quan về lƣu vực sông Công 1. Điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lý Sông Công bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá, huyện Định Hóa (106036’00’’, 21052’00’’), ở độ cao 275m, đây là phụ lưu lớn nhất trong số 26 phụ lưu ra nhập sông Cầu (không kể sông Thương), chạy dọc theo chân núi Tam Đảo dòng sông bị ngăn lại ở huyện Đại Từ tạo thành hồ núi Cốc. Sông Công có chiều dài từ nguồn đến đập Núi Cốc là 54km và đến cửa ra nơi nhập lưu với sông Cầu là 95km, có tổng diện tích lưu vực sông Công là 951km2, tính đến đập Núi Cốc là 536km2, độ dốc trung bình 27,3%, mật độ sông suối 1,20 km/km². Tổng lượng nước 0,794 km³ ứng với lưu lượng trung bình năm 25 m³/s, môđun dòng chảy năm 26 l/s.
Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10, chiếm 74,7% lượng nước cả năm; tháng 8 có lượng dòng chảy lớn nhất chiếm 19,30% lượng nước [20]. - Đặc điểm khí hậu Toàn bộ lưu vực sông Công nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm ướt, gió mùa chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc. Hướng gió thịnh hành trên lưu vực là hướng gió Tây Bắc-Đông Nam. Độ ẩm khá lớn 86-90%.
Nhiệt độ trung bình năm đạt khoảng 23,6 oC trong đó nhiệt độ trung bình cao nhất đạt 28,9oC (thời gian tháng 6) và trung bình thấp nhất khoảng 17oC. Nhiệt độ cao nhất trong năm là 40,1oC. Biên độ nhiệt ngày khá cao, từ 7,0 - 7,3oC. Nhiệt độ không khí trung bình qua các tháng (năm 2010) Tháng 01 02 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 o C 17,5 17 20,3 24,1 27,3 28,9 27,9 28,2 25,5 25,6 22,8 18,6 Độ ẩm không khí Thái Nguyên là khu vực có độ ẩm khá cao, trung bình năm đạt tới 82% và độ ẩm trung bình lớn nhất 88% và thấp nhất đạt 77%.
Độ ẩm trung bình các tháng trong năm tại Thái Nguyên (2010) Tháng 01 02 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 % 79 77 88 86 81 81 88 86 85 83 77 78 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lƣợng mƣa Với lượng mưa khá lớn, trung bình khoảng 1. Theo thời gian, lượng mưa tập trung khoảng 87% vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) trong đó riêng lượng mưa tháng 8 chiếm đến gần 30% tổng lượng mưa cả năm và vì vậy thường gây ra những trận lũ lụt. Vào mùa khô, đặc biệt là tháng 12, tháng 1, lượng mưa trong tháng chỉ bằng 0,5% lượng mưa cả năm. Tổng lượng mưa các tháng trong năm (mm) Năm Trung bình Tổng 2005 145,4 1744,4 2006 141,3 1695,9 2007 120,9 1451,3 2008 169,2 2030,2 Nguồn: Trạm khí tượng Thái Nguyên Chế độ thủy văn Sông Công là một phụ lưu cấp I của sông Cầu, toàn bộ chiều dài của sông Công đều nằm trọn trên địa phận tỉnh Thái Nguyên.
Sông Công có diện tích lưu vực khá lớn 951km2. Sông Công chảy theo hướng Tây Bắc Đông nam và nhập vào sông Cầu tại Hương Ninh, Hợp Thịnh, Bắc Giang. Lưu vực sông Công có độ cao trung bình 224m, độ dốc 27,3%. Tổng lượng nước sông Công trung bình năm vào khoảng 0,794.106 m3, lưu lượng trung bình năm 25 m3/s và modul dòng chảy năm vào khoảng 26 l/s.
Trên Sông Công có 14 nhánh cấp I. Trong 14 nhánh cấp I của Sông Công có 8 nhánh ở thượng lưu đập Hồ Núi Cốc. Sáu nhánh cấp I còn lại chảy nhập vào sông Công ở hạ lưu đập (5 nhánh bên phải và một nhánh bên trái) [22]. Hiện trạng kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu a.
Dân số Tổng dân số toàn vùng là 161914 người. Trong cơ cấu dân số, tỷ lệ nam là 49,9% và nữ là 50,1% (dân số toàn vùng). Về độ tuổi gồm các mức 0-14 tuổi chiếm 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 40,31% dân số, 15-19 tuổi 10,24%, 20-54 tuổi 57,08% và trên 54 tuổi chỉ có 20% trong đó trên 80 tuổi là 0,7%. Nhìn chung tỷ lệ người có tuổi ít hơn so với các vùng khác trên cả nước.
chung, các xã có sự phân bố dân cư không đồng đều. Tình hình phát triển dân số của các xã liên quan đến vùng nghiên cứu được tóm tắt tại bảng sau: Bảng 1. Tình hình phát triển dân số khu vực nghiên cứu Năm 2010 Huyện, xã Ngƣời Mật độ (ngƣời/km2) Thành phố Thái Nguyên 55035 - Tích Lương 11468 702 Thịnh Đức 6782 403 Tân Cương 5096 343 Phúc Trìu 5373 218 Phúc Xuân 4834 285 Thịnh Đán 11253 1832 Lương Sơn 10239 1092 Thị xã Sông Công 49778 520 Huyện Phổ Yên 138115 519 Tổng 242928 - Nguồn: [14, 15, 16] b. Hiện trạng phát triển kinh tế Các hộ sống trong vùng nghiên cứu thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp.
Trong đó từ trồng trọt chiếm 80-85%; từ chăn nuôi là 15-20%. - Ngành nông - lâm nghiệp - thủy sản + Trồng trọt Ngành trồng trọt của tất cả xã nằm trong khu vực nghiên cứu đều tập trung vào các loại cây lúa, ngô (cây lương thực) và cây chè (cây cho sản phẩm hàng hóa chủ lực). + Chăn nuôi Ngành chăn nuôi của tất cả xã vùng hạ lưu Hồ Núi Cốc vẫn còn phát triển theo hướng tự phát, nhỏ lẻ, mặc dù điều kiện tự nhiên của vùng rất thuận lợi cho phát triển 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chăn nuôi theo mô hình trang trại lớn tập trung như: có diện tích đồng cỏ chăn nuôi thả lớn dưới tán rừng, đồng cỏ tự nhiên. Do kĩ thuật chăn nuôi còn lạc hậu, giống gia súc gia cầm chủ yếu là giống địa phương có tầm vóc nhỏ, tăng trưởng chậm, đặc biệt là khả năng phòng chống dịch kém nên hiệu quả kinh tế ngành chăn nuôi chưa cao.