Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu - Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương 5: Kết luận 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về dịch vụ, dịch vụ hành chính công 2. Khái niệm Theo Gronroos (1990), một dịch vụ là "một hoạt động hoặc một loạt các hoạt động có tính chất vô hình ít hoặc nhiều thường diễn ra trong các mối liên hệ giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực hoặc hàng hóa và/hoặc các hệ thống của nhà cung cấp dịch vụ được cung cấp như là giải pháp cho các vấn đề của khách hàng". Tương tự, với phương pháp tiếp cận hệ thống, Lakhe và Mohanty (1995) đã xác định dịch vụ là "hệ thống sản xuất, nơi các đầu vào khác nhau được xử lý, chuyển đổi và được bổ sung giá trị để tạo thành một số đầu ra có ích cho người tìm kiếm dịch vụ không chỉ từ khía cạnh kinh tế mà còn hỗ trợ cuộc sống con người nói chung".
Gần đây, trong lĩnh vực Marketing, Kotler (2012) đã định nghĩa: “Dịch vụ là một dạng hàng hóa cấu thành từ những hoạt động, lợi ích hay sự thỏa mãn được cung cấp cho khách hàng, trong đó, dạng hàng hóa này là hoàn toàn vô hình và không mang đến bất cứ một sự sở hữu nào”. Mặc dù các định nghĩa về dịch vụ có cách tiếp cận khác nhau nhưng đều thống nhất ở các nội dung đó là: dịch vụ là sự tương tác giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và ít nhiều mang tính vô hình. Đặc điểm Theo Schneider và White (2004) cho rằng có ba đặc điểm làm cho dịch vụ khách biệt hoàn toàn với hàng hóa hữu hình đó là: Tính vô hình (Intangibility), tính không thể tách rời (Inseparability) và tính không đồng nhất (heterogeneous). Tính vô hình: Khác với hàng hóa hữu hình, dịch vụ không có hình thái vật chất cụ thể như màu sắc, kích thước, hình dáng, mùi vị… để khách hàng có thể nhận thức dựa trên các giác quan.
Vì vậy, khách hàng cũng gặp nhiều khó khăn hơn trong quá trình xem xét và đánh giá để lựa chọn dịch vụ phù hợp với nhu cầu. Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng phần lớn các dịch vụ là không thể được đo, đếm, thống kê, thử nghiệm và chứng nhận trước khi dịch vụ được cung cấp. 13 Tính không thể tách rời: Nếu hàng hóa hữu hình có quá trình sản xuất, tích trữ, phân phối và tiêu dùng tách biệt nhau thì phần lớn dịch vụ đều có quá trình cung cấp và tiêu dung diễn ra cùng thời điểm. Sự tiếp xúc giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng là điều kiện tiên quyết để quá trình cung cấp dịch vụ có thể diễn ra.
Đối với một số dịch vụ, khách hang còn phải có mặt thường xuyên trong suốt quá trình cung cấp. Chính vì không thể tác rời quá trình cung cấp dịch vụ mà dịch vụ không thể được dự trữ như hàng hóa hữu hình. Dịch vụ chỉ chỉ tồn tại vào thời điểm xảy ra sự tương tác giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ - thời điểm dịch vụ được cung cấp; vì vậy, người cung cấp dịch vụ cũng không thể sản xuất dịch vụ hàng loạt rồi đưa vào kho dự trữ và mang ra bán khi khách hàng có nhu cầu. Tính không đồng nhất: Bởi không thể cất trữ được như hàng hóa hữu hình, dịch vụ khó có thể được cung cấp hàng loạt và với chất lượng đồng nhất.
Trong quá trình cung cấp dịch vụ, hành vi, thái độ và chuyên môn của nhân viên ảnh hưởng đến sự tương tác giữa nhân viên và khách hàng và cả kết quả dịch vụ mà khách hàng thụ hưởng. Do đó, việc đảm bảo chất lượng dịch vụ theo một tiêu chuẩn thống nhất là khó khả thi. Bên cạnh đó, chuẩn chủ quan khách hàng sử dụng dịch vụ cũng là yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến chất được dịch vụ được cảm nhận; vì vậy, khi phạm vi cung cấp dịch vụ càng rộng thì việc đảm bảo tính đồng nhất trong chất lượng dịch vụ sẽ gặp khó khăn. Dịch vụ hành chính công 2.
Khái niệm Ở góc độ học thuật, Chương trình Phát triển của Liên Hiệp quốc (2009) cho rằng dịch vụ công là “những hoạt động phục vụ các lợi ích chung, thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân do Nhà nước trực tiếp thực hiện hoặc chuyển giao cho các cơ sở ngoài Nhà nước thực hiện nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng”. Quan điểm này cũng được thừa nhận bởi các học giả tại Việt Nam khi nghiên cứu về dịch vụ hành chính công (Nguyễn Ngọc Hiến, 2006). Từ định nghĩa dịch vụ công của Chương trình Phát triển của Liên Hiệp quốc (2009), Nguyễn Văn Đồng (2017) cho rằng “dịch vụ hành chính công là một loại hình dịch vụ công do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện để phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân. Nói cách khác, dịch vụ hành chính công là những hoạt động 14 phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính - pháp lý của Nhà nước”.
Từ góc độ pháp lý, Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày ngày 10 tháng 04 năm 2007 quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước định nghĩa ‘’Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanh nghiệp được ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý”. Định nghĩa này tiếp tục được nhắc lại tại Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13 tháng 06 năm 2011 quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan Nhà nước. Dù tiếp cận ở góc độ học thuật hay pháp lý, các định nghĩa về dịch vụ hành chính công vẫn thống nhất với nhau ở các nội dung đó là những dịch vụ được cung cấp bởi cơ quan Nhà nước hoặc cơ quan được Nhà nước ủy quyền nhằm phục vụ lợi ích công cộng, giải quyết các quyền và nghĩa vụ của tổ chức và công dân và được thể hiện dưới hình thức là các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong lĩnh vực quản lý nhà nước. Đặc điểm Theo Nguyễn Văn Đồng (2017), dịch vụ hành chính công có những đặc điểm cơ bản như sau: - Dịch vụ hành chính công có cơ sở nền tảng là thẩm quyền hành chính - pháp lý của các cơ quan hành chính nhà nước.
Thẩm quyền hành chính - pháp lý là thẩm quyền được tổ chức điều hành đời sống xã hội bằng pháp luật theo quy định của pháp luật phù hợp với mục tiêu, chức năng của cơ quan quản lý nhà nước. Thẩm quyền hành chính - pháp lý được thể hiện ở việc tổ chức, chỉ đạo thực thi các chính sách, pháp luật của Nhà nước và đảm bảo thực thi các quyền và nghĩa vụ pháp lý của tổ chức và công dân trong xã hội thông qua việc cấp các loại giấy tờ mang tính pháp lý như giấy khai sinh, căn cước công dân, công chứng. - Dịch vụ hành chính công phái sinh từ chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức và cá nhân bắt buộc phải thực hiện. Chức năng quản lý nhà nước 15 đặt ra các yêu cầu cụ thể đối với cá nhân và tổ chức phải thực hiện một số hoạt động, thủ tục nhất định.
Tổ chức, công dân yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước cung cấp dịch vụ hành chính công nhưng về bản chất đó không phải là nhu cầu tự thân của họ mà trước hết đó là yêu cầu phát sinh từ chức năng quản lý nhà nước. - Dịch vụ hành chính công là nghĩa vụ pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với tổ chức, công dân và không vị mục tiêu lợi nhuận, mà là nghĩa vụ có tính pháp lý của Nhà nước trước nhân dân. Kinh phí để Nhà nước trang trải cho các hoạt động này là nguồn thu ngân sách. Việc thu tiền khi thực hiện dịch vụ hành chính công chỉ được thực hiện dưới dạng lệ phí nhằm hạn chế tổn thất của xã hội do tình trang cung cấp miễn phí gây ra.
Khoản thu từ lệ ph phải nộp vào ngân sách nhà nước và cơ quan, công chức, viên chức trực tiếp thực hiện dịch vụ công không được hưởng lợi trực tiếp từ nguồn thu này. - Dịch vụ hành chính công được cung cấp bình đẳng cho mọi tổ chức và công dân - đối tượng phục vụ của chính quyền. Cơ quan quản lý nhà nước có nghĩa vụ cung cấp dịch vụ hành chính công theo đúng quy định của pháp luật cho mọi tổ chức, công dân không phân biệt điều kiện kinh tế, địa vị xã hội, dân tộc, tôn giáo, học vấn. Phân loại Theo quy định của pháp luật Việt Nam, dịch vụ hành chính công thông thường được chia thành 5 loại hình cơ bản đó là: - Cấp các loại giấy phép cho các tổ chức và công dân để thừa nhận rằng tổ chức, cá nhân có quyền tiến hành một hoạt động nhất định phù hợp với các quy định hiện hành của pháp luật trong phạm vi quản lý nhà nước của cơ quan cấp phép.
- Cấp các loại giấy xác nhận, chứng thực cho các tổ chức và công dân nhằm xác nhận các thông tin liên quan đến tổ chức, công dân; xác lập quyền sở hữu hợp pháp như: cấp căn cước công dân, giấy khai sinh, giấy khai tử, giấy đăng ký kết hôn, thủ tục công chứng, đăng ký quyền sở hữu đối với ô tô, xe máy, tàu thuyền. - Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và chứng chỉ hành nghề. cho tổ chức và công dân để các tổ chức cá nhân có thể hoạt động, thực hiện nghề nghiệp theo các quy định của pháp luật. 16 - Thu các khoản đóng góp của tổ chức, công dân vào ngân sách và các quỹ của Nhà nước bao gồm: thuế, phí, lệ phí và các khoản huy động khác theo quy định của pháp luật.