Chương 1 9 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ, VIÊN CHỨC TRONG TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Cán bộ, viên chức Trước đây ở nước ta không phân biệt công chức, viên chức mà xếp chung vào một nhóm là “cán bộ công chức viên chức”. Thuật ngữ “viên chức” được nêu trong Hiến pháp năm 1992.
Điều 8 Hiến pháp quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân…”. Như vậy, Hiến pháp quan niệm những người phục vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước bao gồm cán bộ, viên chức. Theo quy định tại Khoản 1, khoản 2, Điều 4 Luật cán bộ công chức năm 2008, và điều 2 Luật viên chức năm 2010 thì: - Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Thuật ngữ “viên chức” được hiểu theo nghĩa rất rộng gồm tất cả những người trong biên chế của các cơ quan, tổ chức sự nghiệp của nhà nước thực hiện các công việc của cơ quan, tổ chức đó. Để thực hiện và cụ thể hóa Hiến pháp, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 và được sửa đổi, bổ sung năm 2003 để phân biệt cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước với cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước.
Theo đó, Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp gọi tắt cán bộ, công 10 chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước là viên chức. Năm 2008, Quốc Hội thông qua Luật Cán bộ, Công chức và đến năm 2010, Quốc hội thông qua Luật Viên chức. Khái niệm Viên chức được quy định tại Điều 2, Luật Viên chức số 58/2010 ngày 15/11/2010 được hiểu như sau: “ Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.” Bên cạnh khái niệm viên chức, Luật viên chức số 58/2010 cũng đề cập đến khái niệm Viên chức quản lý. Khoản 1, điều 3 Luật Viên chức giải thích : “Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý”.
Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập, khác với lao động của công chức mang tính chất quyền lực công. Còn đơn vị sự nghiệp công lập, đó là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước. Đào tạo Theo đại từ điển do Nguyễn Như Ý chủ biên (Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 2011), Đào tạo: đó là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp; còn Bồi dưỡng- đó là làm cho -1) khỏe thêm, mạnh thêm và -2) tốt hơn, giỏi hơn.
11 Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, 2005: “Đào tạo: làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”; “Bồi dưỡng: làm cho năng lực hoặc phẩm chất tăng thêm”. Theo tác giả Trần Xuân Cầu: Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, khả năng thuộc một nghề, một chuyên môn nhất định để người lao động thực hiện có hiệu quả chức năng và nhiệm vụ của mình [7, tr. Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học. Đối với viên chức hiện nay, Nghị định 101/NĐ-CP ngày 01/09/2017 quy định đối tượng đào tạo viên chức bậc học sau đại học.
Đào tạo được hiểu là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình. Nói một cách cụ thể đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể một cách tốt nhất. Đào tạo chính là việc tổ chức những cơ hội cho người học được học tập, nhằm giúp cho tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằng việc tăng năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất là con người, là cán bộ, công chức, viên chức trong tổ chức. Đào tạo tác động đến con người trong tổ chức, làm cho họ có thể làm việc tốt hơn, cho phép họ sử dụng tốt hơn các khả năng, tiềm năng vốn có của họ, phát huy hết năng lực làm việc của họ.
Trong phạm vi nghiên cứu, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng viên chức của một đơn vị sự nghiệp là một quá trình nhằm cung cấp tới học viên những kiến thức, kỹ năng phục vụ cho công việc, gồm cả hai quá trình đào tạo và bồi dưỡng. Đơn vị sự nghiệp không đặt nặng nhiệm vụ tổ chức đào tạo các trình 12 độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học cho viên chức. Bởi lẽ, khi được tuyển dụng và bổ nhiệm vào một vị trí nhất định, người viên chức phải đáp ứng các tiêu chuẩn của vị trí đó, trong đó có tiêu chuẩn về trình độ đào tạo. Đào tạo cán bộ, viên chức trong đơn vị sự nghiệp thiên nhiều về việc xác định nhu cầu để từ đó tổ chức các khóa học nhằm bù đắp các thiếu hụt về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, thái độ cũng như nâng cao khả năng thích ứng với công việc trong từng giai đoạn của tổ chức.
Công tác đào tạo Qua nghiên cứu các tài liệu, giáo trình, các luận văn của các tác giả khác, tác giả đã đưa ra khái niệm: Công tác đào tạo là quá trình bao gồm xác định nhu cầu, mục tiêu, đối tượng đào tạo; xây dựng chương trình và lựa chọn phương pháp đào tạo; thực hiện đào tạo và đánh giá chất lượng sau đào tạo. Hoàn thiện công tác đào tạo là quá trình phân tích, đánh giá các bước trong quá trình đào tạo, từ đó chỉ ra được những tồn tại, hạn chế trong công tác đào tạo và đưa ra những giải pháp để khắc phục những tồn tại, hạn chế đó. Nội dung công tác đào tạo cán bộ, viên chức Công tác đào tạo của bất cứ tổ chức nào cũng cần tuân theo quy trình nhất định. Đối với mỗi đơn vị sự nghiệp thì việc đào tạo, bồi dưỡng viên chức phải tuân theo các quy định của Nhà nước.
Nghị định 101/2017/NĐ-CP (có hiệu lực ngày 21/10/2017) về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức đưa ra các nguyên tắc đào tạo, bồi dưỡng viên chức. Trong đó: - Đào tạo phải căn cứ vào tiêu chuẩn Ngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; vị trí việc làm; gắn với công tác sử dụng, quản lý cán bộ, công chức, viên chức, phù hợp với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị. 13 - Đề cao ý thức tự học và việc lựa chọn chương trình bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức. Bên cạnh các nguyên tắc được đề cập trên, việc đào tạo cán bộ, viên chức cũng cần tuân thủ các nguyên tắc: - Hữu ích và kế thừa.
Nghĩa là đào tạo, bồi dưỡng viên chức phải phục vụ dài lâu cho công việc, khuyến khích áp dụng công nghệ thông tin để đa dạng hóa hình thức đào tạo, tăng cường tính tự giác của người học. - Công khai, công bằng, cạnh tranh, chọn được người giỏi. Việc lên kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng phải được lấy ý kiến, thông báo rộng rãi đến toàn thể viên chức và tạo cơ hội để những viên chức ở cùng vị trí việc làm có thể tham gia đào tạo, bồi dưỡng và việc đánh giá kết quả đào tạo phải chính xác, chi tiết giúp cho người giỏi được nhìn nhận đúng đắn. - Lý luận gắn với thực tế, học tập gắn liền với ứng dụng, coi trọng hiệu quả thiết thực; chú trọng rèn luyện năng lực thực hành của viên chức trong thực tiễn.
- Đào tạo gắn với nhu cầu. Nguyên tắc này thể hiện tính chủ động của cơ quan, đơn vị trong quản lý và sử dụng nguồn nhân lực trong nhiều khâu, trong đó thể hiện cụ thể trong đào tạo và bồi dưỡng. Đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với nhu cầu đơn vị và nhu cầu cá nhân viên chức. Quy trình đào tạo, bồi dưỡng bao gồm nhiều bước cần phải tuân thủ để đem lại hiệu quả.
Các bước có thể được xác định mang tính tương đối. Nội dung công tác đào tạo cán bộ, viên chức có thể được mô tả theo trình tự 7 bước sau: Bước thứ nhất: Xác định nhu cầu đào tạo Bước thứ hai: Xác định mục tiêu đào tạo Bước thứ ba: Xác định đối tượng đào tạo Bước thứ tư: Xây dựng chương trình và lựa chọn phương pháp đào tạo Bước thứ năm: Dự trù chi phí đào tạo, lựa chọn giáo viên 14 Bước thứ sáu: Xác định thời gian tiến hành đào tạo, tổ chức đào tạo Bước thứ bảy: Đánh giá chất lượng sau đào tạo (Đánh giá kết quả đào tạo cán bộ, viên chức) Có thể mô tả 7 bước trên thành một quy trình khép kín, có thể được lặp đi lặp lại nhiều lần trong một tổ chức như sơ đồ: Sơ đồ 1.1: Khái quát nội dung đào tạo cán bộ, viên chức 1. Xác định nhu cầu đào tạo Xác định nhu cầu đào tạo nhằm trả lời các câu hỏi chính như: Những kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết cho vị trí công việc? Những kiến thức, kỹ năng, thái độ mà viên chức hiện có? Những kiến thức, kỹ năng, thái độ còn thiếu của viên chức đối với vị trí công việc?