MỞ ĐẦU Là một trong những quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có hệ thực vật đa dạng và phong phú, cây làm thuốc chiếm khoảng 30%. Nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc của hệ thực vật Việt Nam mang lại nhiều đóng góp to lớn cho việc bảo vệ sức khỏe con người. Loài thực vật có tác dụng chữa bệnh cho con người thì để lại ít tác dụng phụ hơn so với thuốc có nguồn gốc tổng hợp. Do đó với tình trạng ngày càng gia tăng về bệnh tật như tim mạch, ung thư, gan…thì việc nghiên cứu về các loài thực vật để làm thuốc có tính ý nghĩa về khoa học và thời sự [1].
Dứa dại (Pandanaceae) là một họ thực vật có hoa có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, phân bố từ Tây Phi đến Thái Bình Dương. Trong đó Pandanus là chi lớn và quan trọng nhất với khoảng 600 loài, có thể dùng làm nguồn thực phẩm và làm thuốc. Ở Việt Nam, họ Dứa dại (Pandanaceae) gồm 23 loài thuộc 2 chi là Freycinetia (3 loài) và Pandanus (20 loài). Theo các tài liệu y học cổ truyền, có 9 loài thuộc chi Pandanus được dùng làm thuốc ở Việt Nam, chủ yếu có tác dụng với các bệnh về thận (lợi tiểu, chữa sỏi thận, sỏi mật, viêm đường tiết niệu,…), các bệnh về gan (viêm gan, xơ gan cổ trướng), thanh nhiệt, hạ sốt, bệnh ngoài da,…[2], [3].
Loài dứa dại Pandanus tonkinensis Mart. Stone còn gọi là dứa Bắc bộ có mặt từ vùng núi trung du Bắc bộ tới miền Trung, Tây Nguyên, Bình Thuận, Long An là một trong 9 loài nói trên mà đọt non, lá, rễ và quả có thể dùng làm thuốc [2]. Trong chương trình Khoa học công nghệ phát triển bền vững vùng Tây bắc, đã công bố kết quả điều tra, nghiên cứu về bài thuốc điều trị bệnh gan mật, trong đó dịch chiết nước của bài thuốc với hai vị Trứng quốc (Stixis suaveolens) và Dứa dại (Pandanus tonkinensis) đã được chứng minh là có hiệu quả bảo vệ gan tốt, cao hơn so với sylimarin [4]. Hiện nay chưa có nghiên cứu nào về thành phần hóa học và tác dụng dược lý của loài dứa dại Pandanus tonkinensis [5].
Để có được những bằng chứng khoa học về thành phần, hoạt tính sinh học cũng như kiểm soát chất lượng dược liệu và các sản phẩm bào chế theo hướng bảo vệ gan, luận án với tên đề tài: “Nghiên cứu phân tích thành phần, cấu trúc hóa học của các hợp chất từ loài Dứa dại (Pandanus tonkinensis Mart.Stone) bằng các phương pháp hóa lý hiện đại” đã được đề xuất và thực hiện. Mục tiêu của luận án: - Phân tích được thành phần, cấu trúc hóa học và hoạt tính định hướng bảo vệ gan của các hợp chất từ loài Pandanus tonkinensis. - Xác định được chất đánh dấu từ loài Pandanus tonkinensis theo hướng bảo vệ gan và xây dựng được quy trình phân tích định lượng các chất đánh dấu trong 2 dược liệu phục vụ việc kiểm soát chất lượng và phát triển chế phẩm từ dược liệu này. Nội dung luận án bao gồm: - Sử dụng các kỹ thuật tách chiết, phân lập, các phương pháp hóa lý sinh hiện đại để phân tích thành phần, cấu trúc hóa học và hoạt tính sinh học của các hợp chất được phân lập từ loài Pandanus tonkinensis.
- Lựa chọn chất đánh dấu cho loài Pandanus tonkinensis theo hướng bảo vệ gan; chiết xuất, tinh chế, phân tích kiểm tra độ tinh khiết của chất đánh dấu từ dược liệu này. - Xây dựng và thẩm định quy trình phân tích định lượng các chất đánh dấu trong dược liệu Pandanus tonkinensis. Áp dụng quy trình, phân tích hàm lượng chất đánh dấu trong dược liệu thu hái tại một số địa phương. Giới thiệu sơ lược về chi Pandanus Theo hệ thống phân loại thực vật có hoa APG IV (2018) [6] được phát triển bởi Angiosperm Phylogeny Group, chi Pandanus có vị trí phân loại như sau: Giới (regnum): Plantae Ngành (divisio): Magnoliophyta Lớp (class) : Liliopsida Bộ (ordo): Pandanales Họ (familia): Pandanaceae Chi (genus): Pandanus 1.1 Đặc điểm hình thái chung của chi Pandanus Dứa dại (Pandanaceae) là một họ thực vật có hoa có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của Cổ thế giới, từ Tây Phi đến Thái Bình Dương.
Theo các nghiên cứu hiện nay đã thống kê được họ này có 5 chi, 982 loài trong đó Pandanus là chi lớn và quan trọng nhất, với khoảng 600 loài, gồm các loài được sử dụng làm nguồn thực phẩm quan trọng như dứa thơm (Pandanus amaryllifolius) và dứa julian (Pandanus julianettii); và nhiều loài khác được sử dụng làm thuốc. Đây là một họ cổ có niên đại từ đầu đến giữa kỷ Phấn trắng và đây cũng là một họ chưa được nghiên cứu kỹ đầy đủ [7,8,9,10,11]. Họ Pandanaceae bao gồm cây gỗ, cây bụi, bụi trườn, dây leo, cây thảo, sống lâu năm. Thân có thể là thân đơn hoặc phân nhánh thành các bụi lớn và có thể có rễ chống trên không.
Thân có các vết sẹo nổi rõ do các lá rụng để lại. Lá đơn mọc cách theo hình xoắn ốc, phiến lá rất dài và hẹp, có bẹ, không cuống, không chia thùy, có các gân song song; mép lá và gân chính giữa thường có gai. Cây thuộc loại đơn tính. Cụm hoa dạng chùm đơn hoặc kép, mọc ở đỉnh thân hoặc nách lá, hoa thường màu trắng hoặc có thể có màu sắc rực rỡ.
Hoa nhỏ và không có bao hoa. Hoa đực chứa nhiều nhị hoa với các chỉ nhị rời hoặc hợp nhất. Hoa cái có một hoa, không có vòi nhụy, thường gồm nhiều lá noãn xếp thành vòng, nhưng có thể giảm thành một hàng lá noãn hoặc một lá noãn. Quả mọng hoặc quả hạch, thường gồm nhiều quả xếp sít với nhau [7,8,9].
Trên thế giới, họ Pandanaceae bao gồm năm chi: Benstonea, Freycinetia, Martellidendron, Pandanus và Sararanga. Chi Pandanus ở Việt Nam và sơ bộ về phân bố các loài Ở Việt Nam, họ Dứa dại (Pandanaceae) gồm 23 loài thuộc 2 chi là Freycinetia (3 loài) và Pandanus (20 loài) [10,11,12]. Có 2 loài thuộc chi Pandanus ở Việt Nam được nhập trồng làm cảnh là Pandanus utilis và Pandanus furcatus; 18 loài là cây mọc tự nhiên, trong đó có tới 8 loài là đặc hữu ở Việt Nam như Dứa chót chẻ - P. bipollicaris (mới thấy ở núi Bạch Mã – Thừa Thiên Huế); Dứa nha trang - P.
ceratostigma (Nha Trang – Khánh Hòa); Dứa sừng - P. cornifer (Phú Yên, Khánh Hòa); Dứa nhẵn - P. monodon (Đà Nẵng); Dứa nhiều chân - P. multidrupaceus (Lâm Đồng và Đồng Nai); Dứa gỗ - P.
tectorius (ven biển nhiều tỉnh ở Việt Nam) và Dứa Bắc bộ - P. tonkinensis (mọc rải rác ở các tỉnh miền núi phía Bắc tới Khánh Hòa.1 trình bày về phân bố và đặc điểm sinh thái của chi Pandanus ở Việt Nam hiện nay. Tóm tắt các thông tin cơ bản các loài thuộc chi Pandanus ở Việt Nam hiện nay Tên Việt Nam TT / Tên khoa Phân bố Đặc điểm sinh thái học Dứa cam - P. Mọc thành bụi ở affinis Kurz (P.
Ở miền Trung, còn có ở Malaysia, vùng trung du, đồng 1 aurantiacus Indonesia và Philippin bằng, trong đầm lầy, Ridl.) trảng cỏ Dứa thơm - Được trồng nhiều nơi ở Việt Nam Pandanus Mọc thành bụi ở để lấy lá làm hương liệu, còn có ở 2 amaryllifolius vùng núi, trung du Xri Lanca, Thái Lan, Malaysia, Roxb. và đồng bằng Indonesia và Philippin odorus Ridl.) Mọc thành bụi ở Dứa chót chẻ - vùng núi, trung du, 3 P. bipollicaris Thừa Thiên Huế (Bạch Mã) trong rừng, ven suối, St.400m Bình Dương (Thủ Dầu Một, Thị Mọc thành bụi ở Dứa nhiếm - P. Tính, Lái Thiêu), Tây Ninh, thành vùng núi, trung du, 4 capusii Mart.
phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai (Biên trong rừng, trảng cỏ, Hòa), còn có ở Thái Lan, ven bờ sông suối. Có 5 Campuchia quả tháng 5-6. Dứa Nha Mọc thành bụi ở Trang - P. Loài đặc hữu của Việt Nam, gặp ở trung du, đồng bằng 5 ceratostigma Khánh Hòa (Nha Trang) và ven biển, trong Mart.
trảng cỏ, đầm lầy Dứa sừng - P. Mọc thành bụi ở Phú Yên, Khánh Hòa (Nha Trang, 6 cornifer St. vùng núi, trong rừng, Hòn Tre) John trảng cỏ Dứa nước - P. Phú Yên, Khánh Hòa (Nha Trang, Mọc thành bụi ở 7 fibrosus Phú Hữu), còn có ở Thái Lan, Trung vùng trung du, đồng Gagnep.
Quốc, Lào bằng và ven biển Dứa dạng nĩa - Cây bụi, mọc thành 8 P. furcatus Tp Hồ Chí Minh còn có ở Ấn Độ bụi rải rác Roxb. Dứa nuốm Mọc thành bụi ở ngang - P. Kiên Giang (Phú Quốc, Hòn Thơm), vùng đồng bằng, ven 9 horizonatalis còn có ở Malaysia.
biển, trong rừng, St. John trảng cỏ Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam (Hội Mít), Mọc thành bụi ở Khánh Hòa (Nha Trang, Phước Dứa núi - P. vùng núi đá, trong 10 Thành), Lâm Đồng (Bảo Lộc), Tây humilis Lour. rừng, ở độ cao Ninh, Đồng Nai (Biên Hòa, Bảo 1.500m Chánh, Trảng Bom), Bà Rịa Vũng Tàu (Bà Rịa).
Còn có ở Lào, Thái Lan, Campuchia và Malaisia Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội (Bất Bạt), Mọc thành bụi ở Dứa kaida - P. 11 vùng núi, trung du, kaida Kurz Còn có ở Campuchia và Hải Nam trong rừng, trảng cỏ (Trung Quốc) Dứa nhẵn - P. Mọc thành bụi ở 12 Nam bộ Việt Nam laevis Rumph. miền núi, trong rừng.
monodon Mọc thành bụi ở 13 Đà Nẵng (Gaudich.) miền núi, trong rừng Balf. Mọc thành bụi ở Dứa nhiều vùng núi, trung du, chân - P. Lâm Đồng (Đà Lạt), Đồng Nai 14 trong rừng, trảng cỏ, multidrupaceus (Long Thành) ven sông suối, ở độ St.500 m Mọc thành bụi ở Dứa bụi nhỏ - Hà Nội (Ba Vì: Làng Cốc), còn có ở vùng núi, trong rừng, 15 P. trảng cỏ, ở độ cao tới B.000m Quảng Ninh (Uông Bí), Hà Nam (Kim Bảng, Kiện Khê, Võ Xá), Ninh Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa (Nha Trang, Cam Ranh, Hòn Mọc thành bụi, ở Dứa dại - P.
Miếu), Bình Thuận (Phan Thiết: đồng bằng, ven biển, 16 odoratissimus Mũi Né), Đồng Nai (Biên Hòa), Bà vùng nước mặn, đất L. Rịa – Vũng Tàu (Phước Tuy), Kiên cát Giang (PhúQuốc). Còn có ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Lào, Campuchia, Thái Lan, Xri Lanca, Malaixia và Philippin Mọc thành bụi ở Dứa gỗ - P. Mọc nhiều ở các vùng ven biển Việt vùng đồng bằng, ven 17 tectorius Nam biển.
Ra hoa tháng 6 Parkins - 9, hoa đực rất thơm Mọc thành bụi ở Hà Nội (Ba Vì), Quảng Bình, Dứa Bắc bộ - vùng núi, trong rừng, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà 18 P.200 Nẵng, Quảng Nam, Đắc Lắc, Khánh Mart. Mùa hoa quả Hòa (Nha Trang, Hòn Hèo) tháng 2 - 5 7 Hà Nam (Kim Bảng, Kiện Khê), Nghệ An (Cô Ba), Hà Tĩnh, Quảng Bụi cao 1 – 2 m, Dứa đuôi - P.