Nghiên Cứu Cấu Trúc Gây Khiến - Kết Quả Trong Tiếng Anh Và Tiếng Việt

Khám phá luận án tiến sĩ về ngôn ngữ học cấu trúc, phân tích sự khác biệt giữa tiếng Anh và tiếng Việt trong việc gây khiến kết quả.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lý Luận Ngôn Ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ ngôn ngữ học

2010

248
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Tình hình nghiên cứu cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh

1.2. Cơ sở lí thuyết về cấu trúc gây khiến - kết quả

2. CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CẤU TRÚC GÂY KHIỂN - KẾT QUẢ TRONG TIẾNG ANH

2.1. Đặc điểm chung của cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh

2.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh

2.3. Đặc điểm ngữ pháp của cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh

2.4. Các kiểu cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh

2.5. Ý nghĩa của động từ make trong cấu trúc gây khiến - kết quả cú pháp tiếng Anh

3. CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT CẤU TRÚC GÂY KHIỂN - KẾT QUẢ TRONG TIẾNG VIỆT

3.1. Vấn đề nhận diện cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Việt

3.2. Phân biệt cấu trúc gây khiến - kết quả với cấu trúc cầu khiến

3.3. Đặc điểm chung của cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Việt

3.4. Đặc điểm ngữ nghĩa của cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Việt

3.5. Đặc điểm ngữ pháp của cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Việt

3.6. Mô hình cú pháp của cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Việt

3.7. Phân loại cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Việt

3.8. Các kiểu cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Việt

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU - CHUYỂN DỊCH CẤU TRÚC GÂY KHIỂN - KẾT QUẢ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

4.1. Đối chiếu cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh và tiếng Việt

4.2. Những điểm tương đồng giữa cấu trúc gây khiến - kết quả của tiếng Anh và tiếng Việt

4.3. Những nét khác biệt giữa cấu trúc gây khiến - kết quả tiếng Anh và tiếng Việt

4.4. Khả năng chuyển dịch cấu trúc gây khiến - kết quả giữa tiếng Anh và tiếng Việt

4.5. Một số đề xuất liên quan đến việc dạy, học và dịch cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh và tiếng Việt

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Cấu Trúc Gây Khiến Kết Quả

Cấu trúc gây khiến - kết quả là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ học. Nó thể hiện mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả trong câu. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngữ pháp mà còn về ngữ nghĩa của ngôn ngữ. Cấu trúc này tồn tại trong cả tiếng Anh và tiếng Việt, nhưng có những đặc điểm riêng biệt. Việc phân tích cấu trúc này sẽ giúp làm sáng tỏ những khác biệt và tương đồng giữa hai ngôn ngữ.

1.1. Định Nghĩa Cấu Trúc Gây Khiến Kết Quả

Cấu trúc gây khiến - kết quả được định nghĩa là mối quan hệ giữa hai sự kiện, trong đó sự kiện đầu tiên là nguyên nhân và sự kiện thứ hai là kết quả. Theo McCawley (1968), cấu trúc này thể hiện sự phụ thuộc lôgíc giữa hai sự kiện.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Cấu Trúc Này

Nghiên cứu cấu trúc gây khiến - kết quả giúp làm rõ các vấn đề lý thuyết trong ngữ pháp. Nó cũng góp phần vào việc phát triển lý thuyết ngữ pháp mới, đặc biệt trong việc so sánh giữa các ngôn ngữ khác nhau.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Nghiên Cứu Cấu Trúc Gây Khiến

Mặc dù cấu trúc gây khiến - kết quả đã được nghiên cứu nhiều, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc nhận diện và phân tích. Các nhà nghiên cứu gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa cấu trúc này và các cấu trúc khác. Điều này dẫn đến sự nhầm lẫn trong việc áp dụng các lý thuyết ngữ pháp.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Nhận Diện Cấu Trúc

Việc nhận diện cấu trúc gây khiến - kết quả không phải lúc nào cũng rõ ràng. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng có sự chồng chéo giữa các cấu trúc khác nhau, gây khó khăn trong việc phân loại.

2.2. Sự Khác Biệt Giữa Các Ngôn Ngữ

Các ngôn ngữ khác nhau có cách thể hiện cấu trúc gây khiến - kết quả khác nhau. Điều này tạo ra thách thức trong việc so sánh và đối chiếu giữa tiếng Anh và tiếng Việt.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Cấu Trúc Gây Khiến Kết Quả

Để nghiên cứu cấu trúc gây khiến - kết quả, các nhà nghiên cứu thường sử dụng phương pháp mô tả và so sánh. Phương pháp này giúp phân tích các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của cấu trúc trong cả hai ngôn ngữ.

3.1. Phương Pháp Mô Tả

Phương pháp mô tả được sử dụng để khảo sát các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của cấu trúc gây khiến - kết quả. Điều này giúp làm rõ mối quan hệ giữa các thành phần trong câu.

3.2. Phương Pháp So Sánh

Phương pháp so sánh giúp chỉ ra những tương đồng và khác biệt giữa cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh và tiếng Việt. Điều này rất quan trọng để hiểu rõ hơn về đặc điểm loại hình của từng ngôn ngữ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Cấu Trúc Gây Khiến

Kết quả nghiên cứu cấu trúc gây khiến - kết quả có thể được áp dụng trong giảng dạy và học tập ngôn ngữ. Việc hiểu rõ cấu trúc này giúp người học nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác hơn.

4.1. Ứng Dụng Trong Giảng Dạy

Nghiên cứu cấu trúc gây khiến - kết quả có thể giúp giáo viên thiết kế các bài học hiệu quả hơn. Điều này giúp học sinh hiểu rõ hơn về cách sử dụng cấu trúc trong giao tiếp.

4.2. Ứng Dụng Trong Dịch Thuật

Kết quả nghiên cứu cũng có thể hỗ trợ trong việc dịch thuật. Hiểu rõ cấu trúc này giúp người dịch tránh được những lỗi thường gặp khi chuyển đổi giữa tiếng Anh và tiếng Việt.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Cấu Trúc Gây Khiến Kết Quả

Nghiên cứu cấu trúc gây khiến - kết quả là một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học. Nó không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngữ pháp mà còn về ngữ nghĩa của ngôn ngữ. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc phát triển lý thuyết ngữ pháp và cải thiện việc giảng dạy ngôn ngữ.

5.1. Tóm Tắt Những Điểm Chính

Nghiên cứu đã chỉ ra những tương đồng và khác biệt giữa cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh và tiếng Việt. Điều này giúp làm rõ các đặc điểm loại hình của từng ngôn ngữ.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc gây khiến - kết quả trong các ngôn ngữ khác nhau. Điều này sẽ giúp mở rộng hiểu biết về ngôn ngữ học và các lý thuyết ngữ pháp.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học cấu trúc gây khiến kết quả trong tiếng anh và tiếng việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYET 1. Tình hình nghiên cứu cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh Cho đến nay đã có rất nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về cấu trúc gây khiến - kết quả trong các ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Anh nói riêng, đáng chú ý là: William Frawley (1992), Talmy (1988), Lewis (1973), Jae Jung Song (1991, 2001, 2005), Anna Wierzbicka (1987, 1988, 1996, 2006), Cliff Goddard (1997, 1998, 2005), Jasper Holmes (1999). Trong công trinh “ Linguistic Typology Morphology and Syntax” Jae Jung Song da dua ra việc phan loại loại hình học của cau trúc gây khiến - kết quả dựa trên đặc điểm hình thái học. Trong số 3 loại gây khiến - kết quả theo sự phân loại loại hình học thì loại gây khiến - kết quả hình thái học trong nhiều năm đã nhận được sự chú ý của hầu hết các nhà nghiên cứu.

Gần đây Song (1996) đã chứng minh răng sự nhắn mạnh thái quá về loại gây khiến - kết quả hình thái học đã góp phần vào việc chưa quan tâm đúng mức đến các loại gây khiến - kết quả khác, đặc biệt là loại cấu trúc gây khiến - kết quả cú pháp trong các ngôn ngữ trên thé giới. Dựa trên cơ sở dữ liệu của 613 ngôn ngữ ông đã đưa ra một cách phân loại hình học khác trong đó có 3 loại cấu trúc gây khiến - kết quả khác nhau là: loại COMPACT, loại AND và loại PURP (cụ thể hơn, xem mục 1. Mặc dù nghiên cứu của ông chưa có sức thuyết phục lớn nhưng công trình của ông cũng đã có đóng góp rất lớn cho việc nghiên cứu cấu trúc gây khiến - kết quả. Anna Wierzbicka, trong công trình “The Semantics of Grammar” cũng đã dành gần 20 trang để viết về cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh và so sánh cấu trúc này trong tiếng Anh với những ngôn ngữ khác như tiếng Nhật, tiếng Hindi, tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Nga.

William Frawly (1992) trong công trình “Linguistic Semantics” (Ngữ nghĩa học) lại đi sâu về cấu trúc ngữ nghĩa quan hệ của cấu trúc gây khiến - kết quả. Ông đưa ra cách nhìn lôgíc về cấu trúc gây khiến - kết quả giữa hai sự kiện; hai đặc tính của gây khiến - kết quả - sự trực tiếp của nguyên nhân và mức độ tham gia của các thành phần - có ảnh hưởng đến cấu trúc bề mặt của cấu trúc gây khiến - kết quả; các thành phần trong một sự kiện gây khiến - kết quả, mối quan hệ giữa các thành phần và sự giải mã của mối quan hệ này. Trong công trình “Semantic Analysis. A Practical Introduction” (Phan tích ngữ nghĩa.

Dan luận thực hành) Goddard bàn về vai trò của tir because (bởi vì) trong việc giải thích cấu trúc gây khiến - kết quả. Ông còn đưa ra cách giải thích cho cau trúc gây khiến - kết quả với những động từ make (làm), have (bảo), break (vỡ/ làm vỡ), clean (lau) va kill (giết chết). Trong công trình “Longman English Grammar” (Ngũ pháp tiếng Anh Longman), Alexander dé cập đến vai trò có ý nghĩa nhấn mạnh khi dùng cau trúc gây khiến - kết quả với mục đích muốn ai đó làm việc gì cho chúng ta. Cấu trúc gây khiến - kết quả còn được nhắc đến ở một số công trình nghiên cứu khác như “Guide to Patterns and Usage in English” (Hướng dan các mau thức va cách sử dung trong tiếng Anh) của A.

Hornby; “A New Approach to English Grammar on Semantic Principles” (Một cách tiếp cận ngữ pháp tiếng Anh mới trên các nguyên tắc ngữ nghĩa học) của Dixon. Trong nghiên cứu của mình Dixon đã gọi động từ gây khiến - kết quả là “making verb” (động từ khiến tác) và phân chia chúng thành nhiều loại khác nhau tuỳ theo cách kết hợp của chúng với các yếu tố khác. Jasper Holmes (“The Syntax and Semantics of Causative Verbs”, 1999) khi nói về cú pháp va ngữ nghĩa của động từ gây khiến - kết quả, ngoài việc giải thích một động từ gây khiến - kết quả bằng cấu trúc chủ đề - vị ngữ, ông đã mô hình hoá cách giải thích này dé thé hiện rõ ý nghĩa của động từ gây khiến - kết quả. Ví dụ: KILL:[ CAUSE (x, [BECOME (y, [DEAD ])])] Event Being VY VY y ee er er er result result x+—— Killing -————> Dying——————> Dead sense KILL Hình 1.

Cau trúc ngữ nghĩa - từ vung của killing, nghĩa của kill. (Holmes, 1999) Dé hiểu đầy đủ hơn quan niệm của các nhà nghiên cứu về cấu trúc gây khiến - kết quả trong các ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Anh nói riêng, dưới đây chúng tôi sẽ trình bày bôn hướng tiêp cận khác nhau của các tác giả: (i) cách tiếp cận theo hướng lôgíc học, (ii) cách tiếp cận theo hướng ngữ 10 nghĩa, (iii) cách tiếp cận theo hướng chức năng, và (iv) cách tiếp cận theo hướng loại hình. Cách tiếp cận theo hướng lôgíc học Cách tiếp cận cấu trúc gây khiến - kết quả theo hướng lôgíc có nguồn gốc từ triết học. Nhiều nhà triết học đã cho rằng dù quan hệ nhân- quả là gì thì nó cũng được hình thành từ tư duy của con người.

Trong công trình “Enquiries Concerning the Human Understanding” (Những nghiên cứu liên quan đến sự hiểu biết của con người), Hume (1902 [1777]) đã khang định rằng nguyên nhân và kết quả chỉ là những sự kiện mà chúng ta thấy là “luôn luôn gắn kết với nhau”. Trong công trình có nhan dé “System of Logic” (Hệ thông của lôgíc) Mill (1960 [1843]) (chương 4) cố gắng giải thích quan hệ nhân - quả (causation) tính theo “những chuỗi các sự kiện xảy ra đều đặn”. Ông lập luận rằng dé nói là A gây ra B thì chỉ nói là B xảy ra ngay sau A và tat cả những gì tương tự như A luôn luôn được theo sau bởi những gì tương tự như B. Từ quan điểm ngữ nghĩa học, những cố gắng để định nghĩa quan hệ nhân - quả theo “những chuỗi các sự kiện xảy ra’ đều đi đến những van dé phức tạp.

Trước tiên, trong một số trường hợp B luôn luôn theo sau A mà không do A gây ra; ví dụ như cái chết luôn theo sau sự ra đời nhưng thật vô lý khi nói rằng sự ra đời gây ra cái chết. Thứ hai, một sự kiện nguyên nhân có thể xảy ra cùng lúc với sự kiện kết quả; ví dụ một cái bút chì có thể chuyền động vi tay người cầm bút đang chuyển động. Thứ ba, sự miêu tả của cả Hume và Mill đều hướng đến việc giải thích “những luật nhân - qua” hơn là những cách dùng hằng ngày của từ “because”, và khó biết được là họ có thé áp dụng thế nào với những câu như: “Anh ấy đi vì bị cô ấy xúc phạm.” hay “T6i cưới cô ay vì tôi yêu cô ây. 11 Một hướng khác dé định nghĩa quan hệ nhân - quả là cấu trúc tương tác, ví dụ như cấu trúc ngữ pháp trong câu: Nếu X không xảy ra thì Y đã không xảy ra.

Nhà ngôn ngữ học Masayoshi Shibatani (1976) đã mô tả tình huống nhân - quả như một mỗi quan hệ giữa hai sự kiên, một sự kiện xảy ra vào thời điểm T¡ va một sự kiện xảy ra và thời điểm T> sau Tì¡, và việc xảy ra của sự kiện thứ hai “phụ thuộc hoản toàn” vào việc xảy ra vào thời điểm thứ nhất. Sự phụ thuộc của hai sự kiện này phải đến mức nó cho phép người nói cảm nhận được tác động mà sự kiện thứ hai sẽ không xảy ra tại một thời điểm cụ thể nếu sự kiện thứ nhất không xảy ra. Shibatani đề nghị là ý niệm của “BECAUSE” có thê được phân tích theo cấu trúc tương tác và phủ định như: “nếu sự kiện X không xảy ra thì sự kiện Y cũng không xảy ra”. Mỗi quan hệ giữa hai sự kiện X và Y được hiểu theo cách lập luận “Sự kiện Y xảy ra vì sự kiện X đã xảy ra”.

Shibatani cho rằng mối quan hệ giữa hai sự kiện này cũng tương tự như khi chúng được đặt trong cấu trúc tương tác và phủ định “Nếu không có X thì cũng không có Y”. Cách tiếp cận theo hướng ngữ nghĩa Nhà ngôn ngữ hoc Leonard Talmy (1988) đã đưa ra một cách phân tích khác về mối quan hệ nhân quả. Ông đưa ra một lược đồ cho “hệ thống ước lượng co bản” mà ông gọi là “tính động” (force dynamics). Giả thuyết này được coi như là “một sự khái quát quan niệm ngôn ngữ học truyền thống về quan hệ nhân quả”.

Hệ thống này được dựa trên những ý tưởng về một sự đối lập giữa hai thực thể biểu lộ một lực nội tại. Một trong những thực thể này là trung tâm - nội lực/bị thé (the Agonist). Đối lập với bi thé là yêu tổ lực thứ hai - kháng lực/ tác thé (the Antagonist). Van dé nổi bật trong bat cứ một chuỗi lực nào là liệu bị thé sẽ bộc lộ hướng lực của nó hay sẽ bị lan at bởi một kháng lực mạnh hơn.

12 Từ quan điểm ký hiệu học, một sơ đồ không bao giờ đứng một mình; nó luôn phụ thuộc vào một hệ thống những lời chú thích. Talmy miêu tả các chuỗi động lực bằng những biểu đồ, những yếu tố cơ bản có thé được trình bày qua 4 nội dung với những ký hiệu được quy ước như sau: (i). những thể lực; trong đó |] thể hiện nội lực, C) thé hién khang luc; (ii). hướng nội lực; trong đó > thé hiện hướng về phía hành động, e thể hiện hướng về phía tĩnh; (ii).

sự cân bằng của các lực; trong đó + thé hiện thực thể mạnh hơn, — thé hiện thực thé yếu hơn; và (iv). kết quả của sự tương tác lực; trong đó ———>— thể hiện sự hoạt động, ——®— thể hiện sự không hoạt động. Những dạng tính động cơ bản nhất không bao gồm sự thay đổi theo thời gian có thể được trình bày trong những ví dụ được thể hiện qua các sơ đồ dưới đây: (1.1) ¬ + L ° The ball kept rolling because of the wind blowing on it.2) - ( + ` The shed kept standing despite the gale wind blowing against it. ——e ~~~" (Nhà kho vẫn đứng im mặc dù một con gió mạnh đang théi.3) ¬ | >t ) | The ball kept rolling despite the stiff grass.

(Quả bóng vẫn lăn mặc dù cỏ cứng.) (14) ( { > ) \ + | _ The log kept lying on the incline because of the ridge there. ° (Khúc gô vẫn năm dưới dôc vì cái gờ ở đó. Những sơ đồ thé hiện tính động cơ bản nhất Những câu đưa ra minh họa được chọn từ lĩnh vực vận động, nhưng theo Talmy, chúng nên được lấy cân bằng từ lĩnh vực tâm lý hay xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Cấu Trúc Gây Khiến - Kết Quả Trong Tiếng Anh Và Tiếng Việt" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà các cấu trúc ngữ pháp ảnh hưởng đến ý nghĩa trong hai ngôn ngữ này. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt mà còn mở ra những cơ hội để áp dụng kiến thức vào việc học ngôn ngữ hiệu quả hơn.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học kết cấu nghĩa của nhóm từ chỉ hành động nói năng speak say tell talk trong tiếng anh và các đơn vị tương ứng trong trong tiếng việt, nơi bạn sẽ tìm thấy những phân tích chi tiết về các nhóm từ chỉ hành động. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ đối chiếu ngữ nghĩa của các giới từ không gian out in up down trong tiếng anh với ra vào lên xuống trong tiếng việt theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách mà các giới từ hoạt động trong cả hai ngôn ngữ. Cuối cùng, tài liệu A study of syntactic and semantic features of the english reporting verbs and their vietnamese equivalents sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các động từ báo cáo và sự tương đồng của chúng trong tiếng Việt. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá để bạn khám phá thêm về ngôn ngữ học và cấu trúc ngữ pháp.