CHƯƠNG 1 TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYET 1. Tình hình nghiên cứu cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh Cho đến nay đã có rất nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về cấu trúc gây khiến - kết quả trong các ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Anh nói riêng, đáng chú ý là: William Frawley (1992), Talmy (1988), Lewis (1973), Jae Jung Song (1991, 2001, 2005), Anna Wierzbicka (1987, 1988, 1996, 2006), Cliff Goddard (1997, 1998, 2005), Jasper Holmes (1999). Trong công trinh “ Linguistic Typology Morphology and Syntax” Jae Jung Song da dua ra việc phan loại loại hình học của cau trúc gây khiến - kết quả dựa trên đặc điểm hình thái học. Trong số 3 loại gây khiến - kết quả theo sự phân loại loại hình học thì loại gây khiến - kết quả hình thái học trong nhiều năm đã nhận được sự chú ý của hầu hết các nhà nghiên cứu.
Gần đây Song (1996) đã chứng minh răng sự nhắn mạnh thái quá về loại gây khiến - kết quả hình thái học đã góp phần vào việc chưa quan tâm đúng mức đến các loại gây khiến - kết quả khác, đặc biệt là loại cấu trúc gây khiến - kết quả cú pháp trong các ngôn ngữ trên thé giới. Dựa trên cơ sở dữ liệu của 613 ngôn ngữ ông đã đưa ra một cách phân loại hình học khác trong đó có 3 loại cấu trúc gây khiến - kết quả khác nhau là: loại COMPACT, loại AND và loại PURP (cụ thể hơn, xem mục 1. Mặc dù nghiên cứu của ông chưa có sức thuyết phục lớn nhưng công trình của ông cũng đã có đóng góp rất lớn cho việc nghiên cứu cấu trúc gây khiến - kết quả. Anna Wierzbicka, trong công trình “The Semantics of Grammar” cũng đã dành gần 20 trang để viết về cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh và so sánh cấu trúc này trong tiếng Anh với những ngôn ngữ khác như tiếng Nhật, tiếng Hindi, tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Nga.
William Frawly (1992) trong công trình “Linguistic Semantics” (Ngữ nghĩa học) lại đi sâu về cấu trúc ngữ nghĩa quan hệ của cấu trúc gây khiến - kết quả. Ông đưa ra cách nhìn lôgíc về cấu trúc gây khiến - kết quả giữa hai sự kiện; hai đặc tính của gây khiến - kết quả - sự trực tiếp của nguyên nhân và mức độ tham gia của các thành phần - có ảnh hưởng đến cấu trúc bề mặt của cấu trúc gây khiến - kết quả; các thành phần trong một sự kiện gây khiến - kết quả, mối quan hệ giữa các thành phần và sự giải mã của mối quan hệ này. Trong công trình “Semantic Analysis. A Practical Introduction” (Phan tích ngữ nghĩa.
Dan luận thực hành) Goddard bàn về vai trò của tir because (bởi vì) trong việc giải thích cấu trúc gây khiến - kết quả. Ông còn đưa ra cách giải thích cho cau trúc gây khiến - kết quả với những động từ make (làm), have (bảo), break (vỡ/ làm vỡ), clean (lau) va kill (giết chết). Trong công trình “Longman English Grammar” (Ngũ pháp tiếng Anh Longman), Alexander dé cập đến vai trò có ý nghĩa nhấn mạnh khi dùng cau trúc gây khiến - kết quả với mục đích muốn ai đó làm việc gì cho chúng ta. Cấu trúc gây khiến - kết quả còn được nhắc đến ở một số công trình nghiên cứu khác như “Guide to Patterns and Usage in English” (Hướng dan các mau thức va cách sử dung trong tiếng Anh) của A.
Hornby; “A New Approach to English Grammar on Semantic Principles” (Một cách tiếp cận ngữ pháp tiếng Anh mới trên các nguyên tắc ngữ nghĩa học) của Dixon. Trong nghiên cứu của mình Dixon đã gọi động từ gây khiến - kết quả là “making verb” (động từ khiến tác) và phân chia chúng thành nhiều loại khác nhau tuỳ theo cách kết hợp của chúng với các yếu tố khác. Jasper Holmes (“The Syntax and Semantics of Causative Verbs”, 1999) khi nói về cú pháp va ngữ nghĩa của động từ gây khiến - kết quả, ngoài việc giải thích một động từ gây khiến - kết quả bằng cấu trúc chủ đề - vị ngữ, ông đã mô hình hoá cách giải thích này dé thé hiện rõ ý nghĩa của động từ gây khiến - kết quả. Ví dụ: KILL:[ CAUSE (x, [BECOME (y, [DEAD ])])] Event Being VY VY y ee er er er result result x+—— Killing -————> Dying——————> Dead sense KILL Hình 1.
Cau trúc ngữ nghĩa - từ vung của killing, nghĩa của kill. (Holmes, 1999) Dé hiểu đầy đủ hơn quan niệm của các nhà nghiên cứu về cấu trúc gây khiến - kết quả trong các ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Anh nói riêng, dưới đây chúng tôi sẽ trình bày bôn hướng tiêp cận khác nhau của các tác giả: (i) cách tiếp cận theo hướng lôgíc học, (ii) cách tiếp cận theo hướng ngữ 10 nghĩa, (iii) cách tiếp cận theo hướng chức năng, và (iv) cách tiếp cận theo hướng loại hình. Cách tiếp cận theo hướng lôgíc học Cách tiếp cận cấu trúc gây khiến - kết quả theo hướng lôgíc có nguồn gốc từ triết học. Nhiều nhà triết học đã cho rằng dù quan hệ nhân- quả là gì thì nó cũng được hình thành từ tư duy của con người.
Trong công trình “Enquiries Concerning the Human Understanding” (Những nghiên cứu liên quan đến sự hiểu biết của con người), Hume (1902 [1777]) đã khang định rằng nguyên nhân và kết quả chỉ là những sự kiện mà chúng ta thấy là “luôn luôn gắn kết với nhau”. Trong công trình có nhan dé “System of Logic” (Hệ thông của lôgíc) Mill (1960 [1843]) (chương 4) cố gắng giải thích quan hệ nhân - quả (causation) tính theo “những chuỗi các sự kiện xảy ra đều đặn”. Ông lập luận rằng dé nói là A gây ra B thì chỉ nói là B xảy ra ngay sau A và tat cả những gì tương tự như A luôn luôn được theo sau bởi những gì tương tự như B. Từ quan điểm ngữ nghĩa học, những cố gắng để định nghĩa quan hệ nhân - quả theo “những chuỗi các sự kiện xảy ra’ đều đi đến những van dé phức tạp.
Trước tiên, trong một số trường hợp B luôn luôn theo sau A mà không do A gây ra; ví dụ như cái chết luôn theo sau sự ra đời nhưng thật vô lý khi nói rằng sự ra đời gây ra cái chết. Thứ hai, một sự kiện nguyên nhân có thể xảy ra cùng lúc với sự kiện kết quả; ví dụ một cái bút chì có thể chuyền động vi tay người cầm bút đang chuyển động. Thứ ba, sự miêu tả của cả Hume và Mill đều hướng đến việc giải thích “những luật nhân - qua” hơn là những cách dùng hằng ngày của từ “because”, và khó biết được là họ có thé áp dụng thế nào với những câu như: “Anh ấy đi vì bị cô ấy xúc phạm.” hay “T6i cưới cô ay vì tôi yêu cô ây. 11 Một hướng khác dé định nghĩa quan hệ nhân - quả là cấu trúc tương tác, ví dụ như cấu trúc ngữ pháp trong câu: Nếu X không xảy ra thì Y đã không xảy ra.
Nhà ngôn ngữ học Masayoshi Shibatani (1976) đã mô tả tình huống nhân - quả như một mỗi quan hệ giữa hai sự kiên, một sự kiện xảy ra vào thời điểm T¡ va một sự kiện xảy ra và thời điểm T> sau Tì¡, và việc xảy ra của sự kiện thứ hai “phụ thuộc hoản toàn” vào việc xảy ra vào thời điểm thứ nhất. Sự phụ thuộc của hai sự kiện này phải đến mức nó cho phép người nói cảm nhận được tác động mà sự kiện thứ hai sẽ không xảy ra tại một thời điểm cụ thể nếu sự kiện thứ nhất không xảy ra. Shibatani đề nghị là ý niệm của “BECAUSE” có thê được phân tích theo cấu trúc tương tác và phủ định như: “nếu sự kiện X không xảy ra thì sự kiện Y cũng không xảy ra”. Mỗi quan hệ giữa hai sự kiện X và Y được hiểu theo cách lập luận “Sự kiện Y xảy ra vì sự kiện X đã xảy ra”.
Shibatani cho rằng mối quan hệ giữa hai sự kiện này cũng tương tự như khi chúng được đặt trong cấu trúc tương tác và phủ định “Nếu không có X thì cũng không có Y”. Cách tiếp cận theo hướng ngữ nghĩa Nhà ngôn ngữ hoc Leonard Talmy (1988) đã đưa ra một cách phân tích khác về mối quan hệ nhân quả. Ông đưa ra một lược đồ cho “hệ thống ước lượng co bản” mà ông gọi là “tính động” (force dynamics). Giả thuyết này được coi như là “một sự khái quát quan niệm ngôn ngữ học truyền thống về quan hệ nhân quả”.
Hệ thống này được dựa trên những ý tưởng về một sự đối lập giữa hai thực thể biểu lộ một lực nội tại. Một trong những thực thể này là trung tâm - nội lực/bị thé (the Agonist). Đối lập với bi thé là yêu tổ lực thứ hai - kháng lực/ tác thé (the Antagonist). Van dé nổi bật trong bat cứ một chuỗi lực nào là liệu bị thé sẽ bộc lộ hướng lực của nó hay sẽ bị lan at bởi một kháng lực mạnh hơn.
12 Từ quan điểm ký hiệu học, một sơ đồ không bao giờ đứng một mình; nó luôn phụ thuộc vào một hệ thống những lời chú thích. Talmy miêu tả các chuỗi động lực bằng những biểu đồ, những yếu tố cơ bản có thé được trình bày qua 4 nội dung với những ký hiệu được quy ước như sau: (i). những thể lực; trong đó |] thể hiện nội lực, C) thé hién khang luc; (ii). hướng nội lực; trong đó > thé hiện hướng về phía hành động, e thể hiện hướng về phía tĩnh; (ii).
sự cân bằng của các lực; trong đó + thé hiện thực thể mạnh hơn, — thé hiện thực thé yếu hơn; và (iv). kết quả của sự tương tác lực; trong đó ———>— thể hiện sự hoạt động, ——®— thể hiện sự không hoạt động. Những dạng tính động cơ bản nhất không bao gồm sự thay đổi theo thời gian có thể được trình bày trong những ví dụ được thể hiện qua các sơ đồ dưới đây: (1.1) ¬ + L ° The ball kept rolling because of the wind blowing on it.2) - ( + ` The shed kept standing despite the gale wind blowing against it. ——e ~~~" (Nhà kho vẫn đứng im mặc dù một con gió mạnh đang théi.3) ¬ | >t ) | The ball kept rolling despite the stiff grass.
(Quả bóng vẫn lăn mặc dù cỏ cứng.) (14) ( { > ) \ + | _ The log kept lying on the incline because of the ridge there. ° (Khúc gô vẫn năm dưới dôc vì cái gờ ở đó. Những sơ đồ thé hiện tính động cơ bản nhất Những câu đưa ra minh họa được chọn từ lĩnh vực vận động, nhưng theo Talmy, chúng nên được lấy cân bằng từ lĩnh vực tâm lý hay xã hội.