Luận án tiến sĩ về câu bị động trong tiếng Pháp và phương thức biểu đạt tương đương trong tiếng Việt

Phân tích toàn diện về câu bị động trong tiếng Pháp và cách diễn đạt tương đương trong tiếng Việt, đề xuất mô hình mới, nâng cao hiệu quả ứng dụng

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2006

204
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG NỘI DUNG LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Những quan niệm chung về dạng bị động

1.2. Những lý luận phổ biến liên quan đến dạng bị động của tiếng Pháp

1.3. Vấn đề "bị động" trong tiếng Việt

1.4. Phong cách học và dạng bị động

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG PHƯƠNG DIỆN CƠ BẢN CỦA DẠNG BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG PHÁP

2.1. Dạng bị động nhìn từ phương diện cấu trúc hình thức

2.2. Một số nhận xét và miêu tả dạng bị động trong tiếng Pháp

2.3. Các kiểu cấu trúc bị động có trong ngữ liệu

2.4. Tần số sử dụng của dạng bị động trong các dạng văn bản tiếng Pháp

2.5. Dạng bị động nhìn từ phương diện ngữ nghĩa

2.6. Những ràng buộc về mặt ngữ nghĩa của dạng bị động

2.7. Chức năng của dạng bị động trong tiếng Pháp

3. CHƯƠNG 3: VIỆC CHUYỂN DỊCH CẤU TRÚC BỊ ĐỘNG TỪ TIẾNG PHÁP SANG TIẾNG VIỆT

3.1. Một số miêu tả việc chuyển dịch cấu trúc bị động tiếng Pháp sang tiếng Việt

3.2. Việc chuyển dịch cấu trúc bị động tiếng Pháp sang tiếng Việt

3.3. Việc diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Việt

3.4. Những nét tương đồng giữa dạng bị động của tiếng Pháp với việc diễn đạt ý nghĩa bị động của tiếng Việt

3.5. Những nét dị biệt giữa dạng bị động của tiếng Pháp với lối nói tiếp thụ-bị động của tiếng Việt

4. CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG DẠNG BỊ ĐỘNG Ở NGƯỜI VIỆT NAM HỌC TIẾNG PHÁP

4.1. Một số lỗi thường gặp trong cách sử dụng dạng bị động

4.2. Nguyên nhân mắc lỗi trong cách sử dụng dạng bị động

4.3. Một số đề xuất về hướng giải quyết

NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về câu bị động trong tiếng Pháp

Câu bị động trong tiếng Pháp, hay còn gọi là dạng bị động, là một hiện tượng ngữ pháp quan trọng. Nó cho phép người nói chuyển đổi vị trí của chủ thể và đối tượng trong câu, từ đó nhấn mạnh vào hành động hơn là người thực hiện hành động. Ví dụ, câu 'L'agneau a été mangé par le loup' (Con cừu non bị con sói ăn thịt) cho thấy sự chuyển đổi này. Câu bị động không chỉ đơn thuần là một cấu trúc ngữ pháp mà còn mang lại nhiều sắc thái ý nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào ngữ cảnh sử dụng. Việc nghiên cứu câu bị động trong tiếng Pháp không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngữ pháp mà còn mở rộng khả năng diễn đạt trong giao tiếp. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc học ngôn ngữ, khi mà người học cần nắm vững cách sử dụng câu bị động để tránh những hiểu lầm trong giao tiếp.

1.1. Định nghĩa và cấu trúc của câu bị động

Câu bị động trong tiếng Pháp được định nghĩa là câu mà trong đó chủ thể không phải là người thực hiện hành động mà là người nhận hành động. Cấu trúc cơ bản của câu bị động thường bao gồm động từ 'être' kết hợp với phân từ quá khứ của động từ chính. Ví dụ, trong câu 'Le livre a été lu par Marie' (Cuốn sách đã được Marie đọc), 'le livre' là chủ thể nhận hành động, trong khi 'Marie' là tác nhân thực hiện hành động. Việc sử dụng câu bị động giúp người nói có thể tránh nêu rõ tác nhân, từ đó tạo ra sự tập trung vào đối tượng của hành động. Điều này có thể rất hữu ích trong các tình huống mà tác nhân không quan trọng hoặc không muốn được nhắc đến.

II. Cách diễn đạt tương đương trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt, câu bị động được thể hiện qua các cấu trúc như 'bị', 'được', và 'do'. Những từ này giúp chuyển tải ý nghĩa tương tự như câu bị động trong tiếng Pháp. Ví dụ, câu 'Cuốn sách bị Marie đọc' tương đương với câu tiếng Pháp đã nêu ở trên. Tuy nhiên, việc sử dụng các từ này trong tiếng Việt có những quy tắc và sắc thái riêng, điều này có thể gây khó khăn cho người học. Việc hiểu rõ cách sử dụng các từ này sẽ giúp người học có thể diễn đạt ý nghĩa bị động một cách chính xác và tự nhiên hơn. Hơn nữa, việc so sánh giữa câu bị động trong tiếng Pháp và tiếng Việt sẽ giúp làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, từ đó nâng cao khả năng giao tiếp của người học.

2.1. Các cấu trúc bị động trong tiếng Việt

Tiếng Việt sử dụng các từ như 'bị', 'được', và 'do' để tạo thành câu bị động. Mỗi từ này có những sắc thái nghĩa riêng. 'Bị' thường mang nghĩa tiêu cực, thể hiện sự chịu đựng, trong khi 'được' thường mang nghĩa tích cực, thể hiện sự cho phép hoặc thành công. Ví dụ, câu 'Cô ấy bị mắng' thể hiện sự chịu đựng, trong khi 'Cô ấy được khen' thể hiện sự thành công. Việc nắm vững cách sử dụng các từ này sẽ giúp người học tiếng Việt có thể diễn đạt ý nghĩa bị động một cách chính xác và tự nhiên hơn. Điều này cũng cho thấy sự phong phú và đa dạng trong cách diễn đạt ý nghĩa bị động giữa hai ngôn ngữ.

III. So sánh ngữ nghĩa giữa tiếng Pháp và tiếng Việt

Việc so sánh ngữ nghĩa giữa câu bị động trong tiếng Pháp và tiếng Việt cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong cách diễn đạt. Trong tiếng Pháp, câu bị động thường được sử dụng để nhấn mạnh vào hành động và đối tượng của hành động, trong khi trong tiếng Việt, việc sử dụng các từ như 'bị' hay 'được' có thể thay đổi sắc thái của câu. Điều này có thể dẫn đến những hiểu lầm trong quá trình dịch thuật hoặc giao tiếp. Việc hiểu rõ những khác biệt này sẽ giúp người học có thể sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả hơn. Hơn nữa, việc nghiên cứu sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Pháp cho người Việt Nam.

3.1. Những điểm tương đồng và khác biệt

Mặc dù có nhiều khác biệt trong cách sử dụng câu bị động giữa tiếng Pháp và tiếng Việt, nhưng cũng có những điểm tương đồng. Cả hai ngôn ngữ đều sử dụng câu bị động để chuyển tải ý nghĩa hành động mà không cần nêu rõ tác nhân. Tuy nhiên, cách thức và ngữ cảnh sử dụng lại khác nhau. Trong tiếng Pháp, câu bị động thường được sử dụng trong văn viết và các phong cách trang trọng, trong khi trong tiếng Việt, việc sử dụng các từ như 'bị' hay 'được' có thể phổ biến hơn trong giao tiếp hàng ngày. Điều này cho thấy sự phong phú và đa dạng trong cách diễn đạt ý nghĩa bị động giữa hai ngôn ngữ.

IV. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về câu bị động trong tiếng Pháp và cách diễn đạt tương đương trong tiếng Việt không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn cao. Việc hiểu rõ cách sử dụng câu bị động sẽ giúp người học có thể giao tiếp hiệu quả hơn trong cả hai ngôn ngữ. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng góp phần vào việc cải thiện chất lượng dạy và học tiếng Pháp cho người Việt Nam, từ đó nâng cao khả năng giao tiếp và hiểu biết văn hóa giữa hai ngôn ngữ. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi mà việc giao tiếp giữa các nền văn hóa và ngôn ngữ ngày càng trở nên cần thiết.

4.1. Ứng dụng trong giảng dạy và dịch thuật

Nghiên cứu về câu bị động có thể được áp dụng trong giảng dạy tiếng Pháp cho người Việt Nam. Việc hiểu rõ cấu trúc và cách sử dụng câu bị động sẽ giúp giáo viên có thể thiết kế các bài học hiệu quả hơn, từ đó nâng cao khả năng tiếp thu của học sinh. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng có thể giúp các dịch giả hiểu rõ hơn về cách chuyển tải ý nghĩa bị động từ tiếng Pháp sang tiếng Việt, từ đó giảm thiểu những sai sót trong quá trình dịch thuật. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng dịch thuật mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát triển ngôn ngữ.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu : Những vấn đề chung Phần nội dung : Chƣơng 1 : Những nội dung lý luận liên quan đến đề tài Những quan niệm chung về dạng bị động Những lý luận phổ biến liên quan đến dạng bị động của tiếng Pháp Vấn đề "bị động" trong tiếng Việt Phong cách học và dạng bị động Chƣơng 2 : Những phƣơng diện cơ bản của dạng bị động trong tiếng Pháp 2. Dạng bị động nhìn từ phƣơng diện cấu trúc hình thức 2. Một số nhận xét và miêu tả dạng bị động trong tiếng Pháp 2. Các kiểu cấu trúc bị động có trong ngữ liệu 2.

Tần số sử dụng của dạng bị động trong các dạng văn bản tiếng Pháp 2. Dạng bị động nhìn từ phƣơng diện ngữ nghĩa 2. Những ràng buộc về mặt ngữ nghĩa của dạng bị động 2. Chức năng của dạng bị động trong tiếng Pháp Chƣơng 3 : Việc chuyển dịch cấu trúc bị động từ tiếng Pháp sang tiếng Việt 3.

Một số miêu tả việc chuyển dịch cấu trúc bị động tiếng Pháp sang tiếng Việt 3. Việc chuyển dịch cấu trúc bị động tiếng Pháp sang tiếng Việt 3. Việc diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Việt 3. Những nét tƣơng đồng giữa dạng bị động của tiếng Pháp với việc diễn đạt ý nghĩa bị động của tiếng Việt 3.

Những nét dị biệt giữa dạng bị động của tiếng Pháp với lối nói tiếp thụ-bị động của tiếng Việt Chƣơng 4 : Thực trạng của việc sử dụng dạng bị động ở ngƣời Việt Nam học tiếng Pháp 4. Một số lỗi thƣờng gặp trong cách sử dụng dạng bị động 4. Nguyên nhân mắc lỗi trong cách sử dụng dạng bị động 4. Một số đề xuất về hƣớng giải quyết Kết luận Tài liệu tham khảo 14 z CHƢƠNG 1 : NHỮNG NỘI DUNG LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Chƣơng này nhằm giới thiệu những vấn đề mang tính lý luận làm cơ sở cho luận án.

Trƣớc tiên sẽ là các quan điểm cơ bản về dạng bị động nói chung. Phần tiếp theo sẽ đƣợc dành riêng để trình bày những lý luận phổ biến có liên quan đến dạng bị động của tiếng Pháp. Một số quan niệm cơ bản về vấn đề "bị động" trong tiếng Việt sẽ là nội dung chính của phần thứ 3 của chƣơng này. Phần thứ 4 của chƣơng sẽ đƣợc dành cho những lý luận liên quan đến vấn đề phong cách.

Những quan niệm chung về dạng bị động Ở phần này, đề tài sẽ điểm qua các cách quan niệm cơ bản về dạng bị động nói chung để có thể có đƣợc một bức tranh chung về hiện tƣợng ngữ pháp này. Trƣớc tiên, chúng ta sẽ điểm qua một số khái niệm cơ bản có liên quan đến dạng bị động nhƣ : dạng, dạng bị động, kết cấu bị động, câu bị động, sau đó sẽ là quan niệm về dạng bị động trong các trƣờng phái ngữ pháp khác nhau. Dạng và dạng bị động 1. Dạng là gì ? Có nhiều tác giả đã đƣa ra các định nghĩa về "dạng của động từ".

Nhìn chung, dạng đƣợc coi là một phạm trù ngữ pháp phổ biến của động từ, giống nhƣ giống, số, cách, ngôi, v.v… Theo Maurice Grévisse, "Dạng thể hiện mối quan hệ giữa một bên là động từ, với một bên là chủ ngữ (hoặc bổ ngữ chỉ tác nhân) và bổ ngữ trực tiếp. Theo quan niệm này, trong tiếng Pháp có dạng chủ động, dạng bị động và dạng phản thân. - Dạng chủ động : khi chủ ngữ chính là chủ thể hành động, còn bổ ngữ trực tiếp của động từ chính là đối tƣợng của hành động : "Les spectateurs ont piétiné la pelouse."(Khán giả giẫm lên thảm cỏ.); 15 z - Dạng bị động : khi câu có một ngoại động từ và có thể cải biến sao cho nghĩa sâu (sens profond) không thay đổi nhƣng có thể cho phép đối tƣợng của hành động lên giữ vị trí chủ ngữ, chủ thể của hành động nếu xuất hiện trong câu thì sẽ xuống giữ vai trò bổ ngữ chỉ tác nhân, còn động từ thì sẽ có một dạng đặc biệt đó là sự kết hợp giữa trợ động từ être và phân từ quá khứ: "La pelouse a été piétinée par les spectateurs." (Thảm cỏ bị khán giả giẫm lên.); - Dạng phản thân : khi động từ có bổ ngữ chỉ đối tƣợng hình thức là một đại từ có quy chiếu là chủ ngữ (G. Mauger, 117: 291) : Les vendanges se font à la fin de l'été.

(Vụ thu hoạch nho diễn ra vào mùa thu.) Trong cuốn sách: “Dẫn luận ngôn ngữ học” của Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết [26:238] có định nghĩa nhƣ sau : "Dạng (thái): là phạm trù ngữ pháp của động từ, biểu thị quan hệ giữa hành động với các sự vật nói ở chủ ngữ và bổ ngữ của động từ ấy. Nếu dạng thức của động từ nói lên rằng sự vật nêu ở chủ ngữ là đối tƣợng mà hành động hƣớng vào, còn kẻ thực hiện hành động là sự vật nêu ở bổ ngữ, thì đó là dạng bị động của động từ." Trong A Dictionary of Linguistics & Phonetics của David Crystal, dạng đƣợc định nghĩa nhƣ sau :"Dạng là một phạm trù được dùng trong việc mô tả cấu trúc câu hoặc mệnh đề chủ yếu liên quan đến động từ, để thể hiện cách mà các câu có thể lựa chọn mối quan hệ giữa chủ ngữ và bổ ngữ của động từ, mà không làm thay đổi nghĩa của câu." [130] Phạm trù dạng đƣợc thể hiện bằng những hình thức khác nhau tùy theo từng ngôn ngữ. Chẳng hạn nhƣ ở tiếng La-tinh, dạng đƣợc thể hiện bằng hình thái của động từ. Ví dụ nhƣ với động từ "yêu, thƣơng", cùng đƣợc chia ở thức chỉ định, thì hiện tại nhƣng có hình thức khác nhau ở dạng chủ động và ở dạng bị động : 16 z Dạng chủ động Dạng bị động amo amor amas amaris amat amatur amamus amamur amatis amamini amant amantur Trong khi đó ở tiếng Pháp hoặc tiếng Anh thì lại không có hình thái riêng biệt cho dạng bị động, dạng này đƣợc thể hiện bằng sự kết hợp giữa trợ động từ être, trong tiếng Pháp, to be, trong tiếng Anh, với phân từ quá khứ.

Ví dụ : - …, Jacques a surpris le voleur. (Jacques đã bắt gặp tên trộm.) - Un voleur a été surpris par la police… (Tên trộm đã bị công an bắt gặp.) - Millions of people have read that book. (Hàng triệu người đã đọc cuốc sách này.) - That book has been read by millions of people.(Cuốn sách này đã được hàng triệu người đọc. Kết cấu là gì ? Trong ngôn ngữ, nhìn chung, "kết cấu" có thể đƣợc hiểu là sự kết hợp của nhiều đơn vị ngữ pháp với nhau theo quan hệ ngữ đoạn và có một chức năng nhất định.

Theo định nghĩa trong Dictionnaire de l'Académie française thì "Kết cấu là sự kết hợp của các từ theo các quy tắc và cách dùng của từng ngôn ngữ" [85]. Vậy, một kết cấu có thể là một từ, một ngữ, một mệnh đề hoặc một câu. Một kết cấu bị động có thể là : - một động từ ở dạng bị động : amor – trong tiếng La tinh - một động ngữ : a été supris par la police – trong tiếng Pháp - một mệnh đề : (il craint d'être tué,) alors qu'il a été arrêté à deux reprises par les autorités ivoiriennes et qu'il a été relâché.1 (ông ta sợ bị giết, trong khi đó ông ta đã từng bị nhà cầm quyền Bờ Biển Ngà bắt hai lần và sau đó đã được thả. ) 17 z - Một câu : Il a ensuite été convoqué par la Police de Bizerte le 4 mai 2005.

Dạng bị động là gì ? Theo từ điển Le Trésor de la Langue Française [84], Le passif là tập hợp của các hình thái động từ bị động (L'ensemble des formes verbales passives. Le passif đã đƣợc dịch sang tiếng Việt theo nhiều cách khác nhau : dạng bị động, thái bị động, cấu trúc bị động hay câu bị động. Trong luận án này, khái niệm le passif sẽ đƣợc hiểu theo định nghĩa trên đây của từ điển Le Trésor de la Langue Française và đƣợc dịch theo một trong những cách nói phổ biến đó là dạng bị động. Dạng bị động là một hiện tƣợng ngữ pháp phổ biến ở các ngôn ngữ Ấn-Âu.

Song, có thể nói là mỗi trƣờng phái ngữ pháp đều có cách quan niệm riêng của mình về hiện tƣợng ngữ pháp này. Sau đây, chúng ta sẽ lần lƣợt tìm hiểu xem dạng bị động đƣợc quan niệm nhƣ thế nào trong các trƣờng phái ngữ pháp truyền thống, cải biến-tạo sinh, loại hình học cú pháp, ngữ nghĩa-chức năng. Dạng bị động trong ngữ pháp truyền thống Có thể là do chịu ảnh hƣởng của cách quan niệm ở các ngôn ngữ nhƣ tiếng La-tinh hoặc Hy-lạp mà các tác giả của ngữ pháp truyền thống thƣờng quan niệm rằng dạng bị động là một phạm trù hình thái học thuần tuý. Mauger [117:199] đã xếp dạng bị động vào mục chia động từ của tiếng Pháp.

Tuy nhiên, ngay cả trong các ngôn ngữ có phạm trù dạng rõ ràng, khi đề cập đến phạm trù này, các nhà nghiên cứu, ngoài việc phân biệt dạng chủ động (voix active) với dạng bị động (voix passive) của động từ ra, còn phải nói đến sự thay đổi vị trí giữa chủ ngữ và bổ ngữ trực tiếp của động từ. Cụ thể là trong một câu có động từ ở dạng chủ động, chủ ngữ của câu đồng thời là chủ thể thực hiện hành động và bổ ngữ trực tiếp của câu là đối tƣợng chịu tác động của hành động. Sau đây là ví dụ do Maurice Grévisse đƣa ra trong cuốn Le Bon Usage [100], một trong những cuốn cẩm nang ngữ pháp tiếng Pháp. 18 z - Un chauffard a renversé un piéton.

(Một lái xe đi ẩu đã làm ngã một người đi bộ.) - Un piéton a été renversé par un chauffard. (Một người đi bộ đã bị làm ngã bởi một lái xe đi ẩu.) Trong ví dụ này, câu thứ nhất có chủ ngữ ngữ pháp đồng thời là chủ thể hành động, bổ ngữ trực tiếp là đối tƣợng của hành động, động từ thì ở dạng chủ động; câu thứ hai, theo quan niệm của ngữ pháp truyền thống, có cùng một nghĩa sâu với câu thứ nhất, nhƣng quan hệ của chủ thể và đối tƣợng hành động với động từ đã thay đổi ở chỗ chủ ngữ của câu thứ hai là đối tƣợng của hành động, còn chủ thể hành động lúc này lại trở thành bổ ngữ chỉ tác nhân, còn động từ thì đã đƣợc chuyển thành dạng bị động. Câu thứ nhất có động từ ở dạng chủ động, đƣợc gọi là câu chủ động, câu thứ hai có động từ ở dạng bị động đƣợc gọi là câu bị động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tên "Luận án tiến sĩ về câu bị động trong tiếng Pháp và phương thức biểu đạt tương đương trong tiếng Việt" của tác giả Đinh Hồng Vân, dưới sự hướng dẫn của GS. Đinh Văn Đức, được thực hiện tại Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2006. Bài luận án này tập trung vào việc nghiên cứu cấu trúc câu bị động trong tiếng Pháp và cách thức diễn đạt tương đương trong tiếng Việt. Qua đó, nó không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về ngữ pháp của hai ngôn ngữ mà còn mở rộng kiến thức về sự tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt giữa chúng.

Đối với những ai quan tâm đến ngôn ngữ học, đặc biệt là trong việc so sánh và đối chiếu giữa các ngôn ngữ, bài luận án này sẽ là một nguồn tài liệu quý giá. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Động lực học tiếng Anh của sinh viên không chuyên tại Đại học Quy Nhơn", nơi nghiên cứu về động lực học ngôn ngữ, hay "Nghiên cứu đối chiếu cách xin lỗi trong hội thoại tiếng Anh và tiếng Việt", giúp bạn hiểu thêm về cách thức giao tiếp trong hai ngôn ngữ này. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Nghiên cứu đối chiếu phát ngôn khen trong hội thoại tiếng Anh và tiếng Việt", một nghiên cứu khác về sự tương đồng trong cách diễn đạt giữa hai ngôn ngữ. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về ngôn ngữ học và các phương thức biểu đạt trong tiếng Việt và tiếng Pháp.