Tổng quan nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa nhanh chóng cùng mật độ dân số gia tăng tại Hà Nội với quy mô khoảng 7,1 triệu người trên diện tích 3.324,5 km2 đã làm suy giảm nghiêm trọng không gian trữ nước tự nhiên. Trong 10 năm qua, tổng diện tích mặt nước ao hồ tại Thủ đô (không tính Hồ Tây) đã sụt giảm hơn 64%, khiến tình trạng ngập úng trở nên phức tạp và khó lường. Hệ thống thoát nước hiện hữu được xây dựng từ trước năm 1954 vốn chỉ thiết kế phục vụ vùng nội thành cũ diện tích 1.000 ha, đến nay đã phải gánh tải cho lưu vực mở rộng trên 6.800 ha. Những trận mưa cực đoan vượt tần suất thiết kế như đợt mưa lịch sử tháng 11/2008 với lượng mưa 350 - 550 mm đã làm 22 người thiệt mạng, 13.982 hộ dân phải di dời và gây thiệt hại kinh tế hàng nghìn tỷ đồng. Gần đây, trận mưa rạng sáng ngày 25/5/2016 với cường độ 150 mm trong 12 giờ tiếp tục gây ngập sâu 30 - 50 cm trên hàng loạt tuyến phố kéo dài gần 1 km.

Trước sức ép đó, việc "tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có, áp dụng các công nghệ tiên tiến" thông qua giải pháp phi công trình mang tính cấp bách hàng đầu. Luận văn tập trung giải quyết bài toán xây dựng phương án cảnh báo sớm ngập úng thời gian thực cho lưu vực sông Kim Ngưu (diện tích khoảng 1.700 ha, chiều dài 19 km) và làm tiền đề mở rộng ra 8 quận nội thành Hà Nội. Nghiên cứu khai thác chuỗi dữ liệu thực đo giai đoạn 2001 - 2016, tập trung hiệu chỉnh và kiểm định trong các năm 2012, 2013 và 2016. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi hỗ trợ đắc lực cho hệ thống công trình tiêu thoát hiện chỉ đáp ứng được 60 - 70% nhu cầu khi gặp mưa tần suất 10%, giúp nâng cao năng lực ứng phó ngập lụt đô thị và giảm thiểu thiệt hại dân sinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp giữa lý thuyết thủy văn đô thị và thủy lực dòng chảy đa chiều. Thủy văn đô thị (Urban Catchment Hydrology) giải quyết bài toán biến đổi mưa - dòng chảy mặt, phân tích sự thay đổi hệ số thấm khi diện tích đất tự nhiên bị bê tông hóa. Về mặt thủy lực, đề tài ứng dụng hệ phương trình vi phân Saint-Venant một chiều (1D) để mô tả quá trình vận chuyển dòng chảy có áp và không áp trong mạng lưới cống ngầm, kênh mương dẫn nước. Đồng thời, hệ phương trình dòng chảy hai chiều (2D) nước nông được áp dụng để mô phỏng chính xác vận tốc và hướng dòng chảy tràn trên bề mặt địa hình đô thị.

Ba khái niệm học thuật then chốt được chuẩn hóa bao gồm: mô hình số độ cao (DEM) phản ánh chi tiết cao độ vi địa hình; nút mạng và liên kết cống (Nodes - Links) biểu diễn các hố ga, giếng thăm, trạm bơm; và cơ chế tương tác thủy lực liên hợp 1D-2D mô phỏng hiện tượng nước trào ngược từ miệng hố ga lên mặt đường khi lưu lượng cống vượt ngưỡng tải thiết kế.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu kế thừa từ dự án cảnh báo ngập úng thời gian thực của Trung tâm Ứng dụng công nghệ và Bồi dưỡng nghiệp vụ Khí tượng Thủy văn. Cơ sở dữ liệu bao gồm 100 mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:5.000 với mô hình DEM độ phân giải cao 5m x 5m, chuỗi số liệu mưa giờ từ 4 trạm khí tượng cơ bản (Láng, Ba Vì, Sơn Tây, Hà Đông) cùng 17 trạm đo mưa tự động phân bổ trên địa bàn. Cỡ mẫu đánh giá ngập thực tế gồm 138 vết lũ khảo sát năm 2012, 65 vết lũ năm 2013 và chuỗi quan trắc liên tục tại 5 trạm đo mực nước tự động trên lưu vực Kim Ngưu.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu theo sự kiện cực đoan có chủ đích (purposive event sampling). Các trận mưa điển hình từ 65 mm đến 220 mm được lựa chọn nhằm bao quát các hình thái ngập lụt đa dạng. Lý do lựa chọn bộ phần mềm thương mại MIKE URBAN kết hợp MIKE FLOOD (do Viện Thủy lực Đan Mạch - DHI phát triển) tích hợp công cụ GIS là nhờ khả năng xử lý đồng thời mạng lưới cống ngầm phức tạp và dòng tràn bề mặt, mang lại độ chính xác cao và khả năng xuất bản đồ trực quan. Toàn bộ quy trình tính toán, hiệu chỉnh và kiểm định mô hình được hoàn thành trong chu kỳ nghiên cứu từ năm 2015 đến năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự quá tải nghiêm trọng của mạng lưới thoát nước tự nhiên. Khả năng tiêu thoát hiện trạng của trục chính sông Kim Ngưu và sông Tô Lịch chỉ đạt mức 30 - 35 m3/s, trong khi yêu cầu lưu lượng để tiêu thoát cho trận mưa có chu kỳ 10 năm lên tới 170 m3/s. Sự chênh lệch này dẫn đến mức thiếu hụt công suất thoát nước lên tới hơn 79%, khiến nước dồn ứ nhanh chóng tại các nút giao trũng thấp.

Thứ hai, kết quả mô phỏng thủy lực bằng mô hình liên hợp 1D-2D trên tập dữ liệu trận mưa ngày 17-18/8/2012 và ngày 8-9/8/2013 tại 22 vị trí ngập úng nội thành cho thấy sự trùng khớp ấn tượng. Sai số tuyệt đối giữa độ sâu ngập tính toán và độ sâu ngập thực đo chỉ dao động trong khoảng từ 0,02 m đến 0,05 m. Sai số tương đối đạt dưới 10%, khẳng định độ tin cậy vượt trội của mô hình trên lưới độ cao 5m x 5m.

Thứ ba, thử nghiệm cảnh báo thời gian thực cho trận mưa rạng sáng ngày 25/5/2016 (cường độ 30 - 50 mm/h) và ngày 28/8/2016 đã tái hiện chính xác diễn biến ngập lụt. Tại các điểm nóng như tuyến đường Phạm Ngọc Thạch, nút giao Liễu Giai - Đội Cấn và khu vực Keangnam, mực nước ngập đỉnh điểm ghi nhận từ 0,3 m đến 0,6 m và thời gian ngập kéo dài từ 4 đến 8 giờ, phù hợp hoàn toàn với dữ liệu truyền về từ 5 trạm quan trắc mực nước tự động.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi gây ngập úng diện rộng bắt nguồn từ sự mất cân bằng cục bộ của hệ thống cân bằng nước mặt. Quá trình đô thị hóa tự phát làm bê tông hóa bề mặt, kết hợp với việc vật liệu xây dựng rơi vãi lấp kín miệng hố ga thu nước. Toàn thành phố hiện có 723 công trình tiêu úng nhưng khả năng thực tế chỉ đạt 80% so với diện tích cần tiêu 209.028 ha.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế tại Dhaka (Bangladesh) và Chennai (Ấn Độ), việc áp dụng mô hình 1D-2D chứng minh tính ưu việt hơn hẳn so với các mô hình 1D truyền thống vốn tính toán dung tích trữ ảo không phản ánh đúng thực tế dòng tràn. Giải pháp cảnh báo tự động của luận văn cũng tiệm cận với mô hình quản trị ngập lụt tại Hvidovre (Đan Mạch) và Barcelona (Tây Ban Nha).

Các kết quả nghiên cứu được minh họa trực quan thông qua: bản đồ phân vùng độ sâu ngập lớn nhất độ phân giải 5m x 5m; biểu đồ trắc dọc diễn biến mực nước theo chuỗi thời gian dọc tuyến đường Phạm Ngọc Thạch; và bảng đối chuẩn chi tiết sai số ngập lụt tại 12 điểm kiểm tra trọng điểm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả mô phỏng và phân tích thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm kiểm soát ngập úng đô thị:

Thứ nhất, vận hành hệ thống giám sát và cảnh báo sớm ngập úng thời gian thực. Cần tích hợp tín hiệu quan trắc tự động từ 5 trạm đo mực nước lưu vực Kim Ngưu và dữ liệu radar thời tiết với tần suất cập nhật 5 - 15 phút/lần. Mục tiêu nâng thời gian dự báo trước ngập lụt lên 60 - 120 phút để các lực lượng kịp thời ứng phó. Đơn vị chủ trì: Trung tâm Mạng lưới Khí tượng Thủy văn và Môi trường phối hợp Công ty Thoát nước Hà Nội (lộ trình thực hiện 2017 - 2020).

Thứ hai, nâng cấp và cải tạo đồng bộ hạ tầng tiêu thoát nước kỹ thuật. Tiến hành nạo vét toàn diện 19 km lòng dẫn sông Kim Ngưu, nâng công suất trạm bơm Yên Sở và các cống ngầm đầu mối. Mục tiêu đưa hiệu suất tiêu thoát thực tế đạt 100% diện tích thiết kế 209.028 ha thay vì mức 80% như hiện tại. Chủ thể thực hiện: Sở Xây dựng và Ban Quản lý Dự án Thoát nước Hà Nội (giai đoạn 2018 - 2022).

Thứ ba, ban hành quy chế phân cấp 4 mức báo động ngập lụt đô thị. Thiết lập ngưỡng báo động tương ứng với lượng mưa từ 50 mm/h đến trên 172 mm/2 ngày để chủ động kích hoạt phương án phân luồng giao thông và huy động máy bơm dã chiến. Chủ thể thực hiện: Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn TP Hà Nội.

Thứ tư, siết chặt quy hoạch không gian mặt nước và áp dụng hạ tầng xanh. Ngăn chặn tuyệt đối hành vi lấn chiếm ao hồ, khôi phục dung tích trữ của các hồ điều hòa nội thành nhằm duy trì khả năng lưu giữ 20 - 30% tổng lượng nước mặt khi xảy ra mưa lớn. Chủ thể thực hiện: Sở Quy hoạch - Kiến trúc và UBND các quận nội thành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị cho 4 nhóm đối tượng sau:

Thứ nhất, các nhà quản lý đô thị và chuyên viên quy hoạch hạ tầng thoát nước tại Hà Nội và các đô thị lớn trên toàn quốc. Tài liệu cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá năng lực mạng lưới cống ngầm 8 quận nội thành và định hướng đầu tư nâng cấp trạm bơm, hồ điều hòa.

Thứ hai, kỹ sư thủy văn, chuyên gia tài nguyên nước và môi trường. Luận văn cung cấp quy trình công nghệ chi tiết trong việc thiết lập, liên kết và hiệu chỉnh mô hình thủy lực 1D-2D (MIKE URBAN kết hợp MIKE FLOOD) trên nền bản đồ số độ cao DEM 5m x 5m.

Thứ ba, cơ quan điều hành phòng chống thiên tai và cứu hộ cứu nạn. Khung phân cấp báo động và quy trình ứng phó khẩn cấp được đề xuất là cẩm nang hữu ích giúp đơn vị chủ động điều tiết giao thông và sơ tán người dân trước 2 - 3 giờ khi có mưa bão.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Thủy văn học, Kỹ thuật tài nguyên nước, Quản lý môi trường. Luận văn là case study thực tiễn điển hình về tính toán dòng chảy tràn đô thị và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảm nhẹ rủi ro thiên tai.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao nghiên cứu phải kết hợp mô hình 1 chiều và 2 chiều thay vì chỉ dùng mô hình 1 chiều truyền thống? Mô hình 1 chiều chỉ tính toán dòng chảy trong lòng cống và kênh kín, giả định lượng nước tràn lưu trữ tại các khoang ảo không phản ánh đúng hướng chảy thực tế. Mô hình 2 chiều trên nền DEM 5m x 5m mô phỏng chính xác đường đi, vận tốc và độ sâu của dòng tràn mặt đường đô thị khi cống quá tải.

  2. Độ chính xác của mô hình cảnh báo ngập úng lưu vực sông Kim Ngưu đạt mức nào? Mô hình đạt độ tin cậy rất cao khi kiểm định qua chuỗi 138 vết lũ năm 2012 và 65 vết lũ năm 2013. Sai số tuyệt đối độ sâu ngập chỉ từ 0,02 m đến 0,05 m, tương đương sai số tương đối dưới 10% so với mực nước ngập đo đạc thực tế tại các điểm ngập úng.

  3. Dữ liệu trận mưa lịch sử năm 2008 đóng góp vai trò gì trong đề tài? Trận mưa năm 2008 với tổng lượng mưa 350 - 550 mm đóng vai trò là mốc chuẩn cực hạn để đánh giá ngưỡng chịu tải tối đa của hệ thống thoát nước Thủ đô, từ đó làm căn cứ thiết lập các kịch bản cảnh báo ngập lụt ở cấp độ rủi ro thiên tai cao nhất.

  4. Mạng lưới 5 trạm quan trắc mực nước tự động hỗ trợ hệ thống cảnh báo như thế nào? Năm trạm quan trắc tự động trên lưu vực sông Kim Ngưu truyền dữ liệu mực nước liên tục về máy chủ theo thời gian thực (5 phút/lần). Dữ liệu này giúp tự động kiểm tra, hiệu chỉnh kết quả mô phỏng và phát lệnh cảnh báo sớm đến cơ quan điều hành trước khi ngập úng diễn ra trên diện rộng.

  5. Phương án cảnh báo này có thể mở rộng cho toàn bộ thành phố Hà Nội được không? Hoàn toàn có thể. Quy trình tích hợp MIKE URBAN, MIKE FLOOD và GIS trong luận văn được chuẩn hóa trên nền tảng dữ liệu 8 quận nội thành, sẵn sàng mở rộng áp dụng cho lưu vực sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét và toàn bộ khu vực nội đô Hà Nội.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng thành công phương án cảnh báo sớm ngập úng thời gian thực cho lưu vực sông Kim Ngưu (1.700 ha) bằng công nghệ mô hình liên hợp 1D-2D trên nền lưới DEM 5m x 5m.
  • Kết quả mô hình đạt độ chính xác vượt trội với sai số độ sâu ngập dưới 10%, được kiểm chứng vững chắc qua 138 vết lũ năm 2012, 65 vết lũ năm 2013 và các trận mưa thực tế năm 2016.
  • Đề tài làm rõ nguyên nhân cốt lõi gây ngập lụt do công suất thoát nước sông trục chỉ đạt 30 - 35 m3/s (thiếu hụt 79% so với yêu cầu) và diện tích mặt nước ao hồ bị thu hẹp hơn 64%.
  • Thiết lập hoàn chỉnh quy trình vận hành giám sát thời gian thực qua mạng lưới 5 trạm đo mực nước tự động và khung 4 cấp độ cảnh báo ngập lụt trước 60 - 120 phút.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ chuyển giao công nghệ cảnh báo sớm ngập lụt cho 8 quận nội thành Hà Nội trong giai đoạn 2018 - 2025.

Nghiên cứu mang tính tiên phong trong việc hiện đại hóa công tác cảnh báo ngập úng đô thị bằng giải pháp phi công trình. Các nhà quản lý đô thị và đơn vị vận hành thoát nước cần sớm tích hợp bộ công cụ này vào trung tâm điều hành thành phố thông minh nhằm bảo vệ an toàn sinh kế cho người dân Thủ đô.