Chương 1: Tổng quan về ngập lụt đô thị. - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và tình hình số liệu. - Chương 3: Xây dựng phương án cảnh báo ngập úng cho lưu vực sông Kim Ngưu và đề xuất giải pháp. TỔNG QUAN VỀ NGẬP LỤT ĐÔ THỊ 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Có thể nói rằng việc giải quyết vấn đề tiêu thoát nước cho đô thị có từ ngàn năm trước. Đến những năm 1850 ở các thành phố của Anh đã có những công trình cống tiêu thoát nước rất lớn như Bazalgette ở Luân Đôn. Khoảng những năm 1950-1960 có bước tiến về kỹ thuật công trình là hệ thống phân tách nước mưa và nước thải sinh hoạt và công nghiệp.
Từ những năm 1970 đã hình thành các cơ quan quản lý nhà nước về tiêu thoát nước đô thị và thành lập những tổ chức nghiên cứu kỹ thuật công trình tiêu thoát nước đô thị như UDFCD của thành phố Denver bang Colorado thành lập năm 1969, cơ quan quản lý của Anh và Wale thành lập năm 1974. Đến những năm 1980 nhờ phát triển công nghệ phần cứng, phần mềm vi tính mô phỏng hệ thống tiêu thoát nước đã làm tăng hiệu quả kinh tế của các công trình tiêu thoát nước và sáng tỏ nhiều vấn đề kỹ thuật. Đến những năm 1990 thì vấn đề quản lý chất lượng nước thải được quan tâm giải quyết và cơ cấu tổ chức ngành nước ở nhiều nơi được cải tổ. Dưới đây là một số nghiên cứu mô phỏng ngập lụt tại một số thành phố trên thế giới: 1.
Vidyapriya and Ramalingam của Trường ĐH Anna [17], Ấn Độ đã ứng dụng mô hình MIKE URBAN để mô phỏng ngập lụt cho TP Chennai ứng với các trận mưa thiết kế có chu kỳ lặp lại thiết kế 5 năm, 10 năm, 20 năm và 50 năm. Độ tin cậy của mô hình được xác nhận bằng cách so sánh mực nước tính toán với mực nước lũ quan sát thông qua khảo sát, phỏng vấn cư dân địa phương. Trong nghiên cứu này, mô hình dòng chảy MOUSE được xây dựng theo mô hình Model A. Nó được giả định: dòng chảy chỉ được tạo ra từ các khu vực không thấm nước, được mô tả bằng các tỷ lệ phần trăm so với tổng diện tích lưu vực trong mô hình.
Dòng chảy trong các rãnh thoát nước và dòng chảy trong kênh được mô hình hóa dựa trên mặt cắt ngang trung bình, phương trình Saint Venant mô tả diễn biến độ sâu dòng chảy lưu lượng. Khu vực nghiên cứu nằm ở phần phía Nam của TP Chennai và có diện tích 2,94 km2. Các dữ liệu khí tượng được cung cấp bởi máy đo mưa tự ghi trong vùng lân cận của khu vực nghiên cứu. Để mô phỏng chính xác địa hình khu vực nghiên cứu, mô hình số độ cao (DEM) với độ phân giải cao 3mx3m đã được thành lập.
DEM bao gồm các mức độ khác biệt của đường phố cắt ngang, vị trí và chiều cao 4 của các hố ga, vỉa hè đường phố. Khu vực nghiên cứu được chia thành 150 lưu vực đơn vị, trong đó có 146 kết nối với hố ga tương ứng và 4 kết nối với kênh. Yếu tố thủy văn được sử dụng làm điều kiện biên đầu vào. Đối với các biên dưới, mực nước quan sát được thực hiện tại đầu ra của kênh đã được xác định.
Tất cả các cấu trúc thủy lực được giả định tại các điều kiện ban đầu. Thời gian mô phỏng là 7 giờ với bước thời gian 1 phút. Hai kịch bản được xem xét để phân tích lũ lụt. Một là cống được xây dựng từ năm 1980 và cống mới được dự kiến trong năm 2009.
Theo các trận mưa có chu kỳ lặp lại 5 năm, thì không có lũ lụt tại các nút của các vùng đầu nguồn Jafferkhanpet, Chennai. Tuy nhiên, theo các trận mưa có chu kỳ lặp lại 10 năm: lũ lụt tối thiểu là 0,6m và lũ lụt tối đa là 1,34m. Một lần nữa theo các trận mưa có chu kỳ lặp lại 25 năm: lũ lụt tối thiểu là 0,55m và lũ lụt tối đa là 2,51m. Và theo những trận mưa có chu kỳ lặp lại 50 năm: lũ lụt tối thiểu là 0,57 m và lũ lụt tối đa là 2,63 m.
Trong thời gian mô phỏng là 13 giờ, lũ lụt tại các nút tự động tăng lên và sau đó dần dần rút đi sau 24 giờ. Kết quả mô phỏng được so sánh với các câu hỏi từ cuộc khảo sát. Nói chung, mực nước lũ mô phỏng lớn hơn so với mực nước lũ quan sát. Vì vậy, các kết quả mô phỏng cho thấy những cải tiến của thiết kế hệ thống thoát nước là cần thiết.
Năm 1996, Viện Thủy lực Đan Mạch (Danish Hydraulic Institute – DHI) đã ứng dụng mô hình MOUSE GIS để nghiên cứu thoát nước cho thành phố Dhaka, Bangladesh [11]. Hệ thống thoát nước thành phố Dhaka bao gồm sự kết hợp của ống dẫn khép kín, cống hộp và các kênh hở. Các máy bơm với công suất 2,55 m3/s bắt đầu hoạt động khi mực nước ở trong lưu vực đạt 3,8m và dừng lại khi mức nước đạt 1,4m. Cửa cống được đóng khi mực nước trong hệ thống sông vẫn còn cao hơn so với mực nước ở phía thành phố.
Dữ liệu mưa lịch sử tháng IX/1996 đã được sử dụng làm đầu vào mô hình MOUSE. Mực nước liên tục 4-5m trên sông ở phía hạ lưu của các cửa cống đã được giả định, mức độ được dựa trên kinh nghiệm thu được từ nghiên cứu trước đây. Cửa cống đã được giả định vẫn mở khi mực nước bên trong khu vực thoát nước cao hơn mực nước trong sông. Mực nước bên trong khu vực mô hình ban đầu tại các cửa cống được giả định là 1,5m.
Một mô hình mô phỏng được thực hiện cho sự kiện mưa bão tháng X/1996 để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng máy bơm lũ tại Shantinagar. Năm máy bơm 5 đã được giả định sẽ được cung cấp tại địa điểm. Trong thực tế không có hồ/ao trong khu vực, nơi mà nước bơm có thể được lưu trữ. Kết quả cho thấy tác động của bơm tại chỗ là chính.
Sử dụng máy bơm tại Shantinagar Crossing sẽ làm giảm thời gian lũ lụt từ 24 giờ đến 7 giờ tại Crossing Shantinagar. Mô phỏng được thực hiện cho mưa bão tháng X/1996. Kết quả chỉ ra rằng nạo vét trong những địa điểm chưa hoàn thành cống hộp sẽ làm giảm thời gian lũ lụt tại Shantinagar Crossing từ 24 giờ đến 18 giờ và chiều sâu tối đa của lũ lụt từ 75 cm đến 65 cm. Hệ thống mô hình đã được sử dụng để đánh giá các vấn đề lũ lụt ở thành phố Dhaka.
Tuy nhiên, những nỗ lực hiện tại để tìm kiếm một giải pháp cho vấn đề ngập úng trong thành phố Dhaka chỉ được coi là điểm khởi đầu, nhiều dữ liệu hơn sẽ được yêu cầu để thực hiện một nghiên cứu chi tiết hơn. Kết luận của nghiên cứu là sử dụng mô hình thủy động lực học MOUSE cùng với GIS sẽ cung cấp một phương pháp hiệu quả về chi phí và thông tin hướng tới việc tìm kiếm một giải pháp tối ưu cho ngập úng thường xuyên trong thành phố Dhaka. Thành phố Dhaka chịu vấn đề ngập úng đô thị nghiêm trọng. TP có hệ thống đê vành đai chống lũ trên sông.
Vào mùa mưa lũ nước sông cao hơn mặt đất đô thị làm cho việc tiêu thoát nước khó khăn. Chusit Apirumanekul và Ole Mark (2001) đã ứng dụng mô hình toán MOUSE mô phỏng hệ thống cống ngầm tiêu nước liên kết với tính toán dòng chảy bề mặt. Mô hình dùng để mô phỏng hiện trạng ngập úng và một số phương án chống ngập [10]. Khi mô hình MOUSE tính toán mực nước trong hố ga cao hơn mặt đất sẽ xảy ra hiện tượng úng ngập bề mặt.
Mô phỏng ngập úng năm 1996: Hệ thống tiêu nước thời kỳ năm 1996 khi cho hoàn thành tuyến cống hộp quan trọng nên các hệ thống tiêu nước còn khó khăn để thu gom nước vào kênh tiêu. Mô phỏng hiện trạng hệ thống tiêu nước: Với hệ thống công trình tiêu thoát nước năm 1996 và hiện trạng đều cho thấy ngập úng cục bộ trên đường phố Shantinagar với độ sâu ngập 55cm trong vòng 16 giờ. Nguyên nhân ngập được khẳng định là do hệ thống cống ngầm và hố ga thoát nước chưa đủ khả năng tiêu thoát nước mưa. Giải pháp chống ngập: Kết quả mô hình cho thấy hệ thống cống ngầm thoát nước chưa hợp lý, xảy ra hiện tượng thắt cổ chai ở khu vực thoát nước làm ngập úng bề mặt đô thị.
Biện pháp cải tạo đường ống thoát nước hợp lý giảm được úng ngập ở khu vực nghiên cứu. Justine Hénonin, Beniamino Russo, David Suner Roqueta, Rafael Sanchez – Diezma, Nina Donna Sto. Domingo, Franz Thomsen, Ole Mark (2010) Đã phân tích hệ thống cảnh báo ngập lụt đô thị thời gian thực cho một số thành phố như: Thành phố Hvidovre (Đan Mạch), Nîmes (Pháp), Bangkok (Thái Lan) và Barcelona (Tây Ban Nha) [15]. - Tại Hvidovre (Đan Mạch): Cảnh báo ngập lụt thời gian thực sử dụng radar có độ phân giải cao.
Một hệ thống cảnh báo trực tuyến thời gian thực đã được thiết lập để cung cấp thông tin về nguy cơ ngập lụt của tầng hầm. Hệ thống được dựa trên radar thời tiết của khu vực dự báo (LAWR) modul ghi chép lượng mưa và mực nước cho 22 lưu vực đô thị. Những hình ảnh radar có độ phân giải cao được lấy ra 5 phút một lần để xây dựng và cập nhật số liệu dự báo cho các giờ tiếp theo. Số liệu dự báo này được sử dụng bởi các hệ thống (DSS) cùng với các dữ liệu lịch sử để tính toán lượng mưa tích lũy cho từng tiểu lưu vực và phát hành một cảnh báo nếu bất kỳ mức quan trọng được xác định trước vượt mức cảnh báo.
Người dân Hvidovre có thể nhận được tin cảnh báo tự động, bằng tin nhắn SMS và email, hoặc truy cập vào các trang web. - Tại Nîmes (Pháp): Cảnh báo ngập lụt đô thị sử dụng lượng mưa dự báo và mô hình dự báo thủy văn thời gian thực. Hệ thống Espada dựa trên lượng mưa dự báo tại khu vực từ radar (độ phân giải 1 km2) và một mạng lưới đo 10 điểm đo mưa và 11 điểm đo mực nước. Dữ liệu được gửi cách 15 phút đến hệ thống trung tâm, làm đầu vào cho các mô hình lượng mưa-dòng chảy để dự báo lưu lượng dự kiến trong khu vực đô thị với một bản cập nhật cách 30 phút.
Mỗi kịch bản được liên kết với một mức độ cảnh báo với tổng số 4 cấp, từ cảnh giác (cấp 1) đến ngập lụt cục bộ gây rủi ro cho người dân (cấp 4).