Mở đầu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị 14 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN C! Trong chương này, tác giả sẽ trình bày các khái niệm cũng như các lÿ thuyết cơ bản của tác giả nước ngoài. Từ những cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đó về sự cam kết gắn bó.
Từ đó, tác giả sẽ đề xuất mô hình nghiên cứu ban đâu và các giả thuyết phù hợp cho đề tài nghiên cứu.1 Cam kết gắn bó với tổ chức của người lao động.1 Quan niệm về cam kết gắn bó với tổ chức Cam kết với tổ chức là một chủ đề thu hút được sự quan tâm lớn từ các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng như trên thế giới và những luận điểm nghiên cứu về cam kết với tổ chức vẫn tiếp tục được phát triển tới ngày nay. Những công trình nghiên cứu chỉ ra rằng, cam kết là một chủ đề được đưa ra khái niệm khác nhau. Tuy nhiên, khái niệm về cam kết còn thiếu sự thống nhất (Zin, 1998) điều này dẫn tới sự khó khăn trong việc tiếp cận và hiểu được ý nghĩa mà kết quả của những công trình nghiên cứu mang lại (Darolia và cộng sự, 2010). Tác giả xin được trích lại và tông hợp các khái niệm về sự cam kết gắn bó như sau: Bảng 2.
Tổng hợp những khái niệm về sự cam kết gắn bó Ngudn trích dẫn Khái Howard Becker's “Cam kết hình thành khi một cá nhân, bằng cách đặt (1960) cược vào tô chức, kết nói tất cả các lợi ích không liên quan với một chuỗi những hành động phủ hợp” (p. Kanter (1968) Cam kết là “thứ đi kèm của những cảm xúc thuộc vê một cá nhân với tổ chức” (p. Hrebiniak and Allutto. | Cam kết là "một hiện tượng mang tính kết câu xuất hiện (1972) như một kết quả của những giao dịch giữa tổ chức - cá nhân và quá trình biến đổi giữa các bên hay sự đầu tư theo thời gian” (p.
Porter (1974) Cam kết là "sức mạnh của sự gin bé chit ché cia mot cA nhân và sự tham gia của cá nhân đó với tổ chức” (p. Marsh và Mannari _ | "Những người lao động có cam kết găn bó với tô chức (1977) xem xét sự đúng đắn khi ở lại với một tổ chức dựa trên phương diện đạo đức mà không chú ý tới mức độ đề cao 15 về địa vi hay sự thỏa mãn mà những tô chức mang lại cho anh ta/ hay cô ta trong quãng thời gian da qua (p. Salancik (1977) Cam kết là “mot trang thái trong đó mỗi cá nhân bị giới hạn bởi chính những hành động của họ” Meyer va Allen Cam kết là một trang thái tâm lý trong đó đặc trưng cho (1991) mối quan hệ gắn bó giữa người lao động với tổ chức và bao gồm những tác động đối với quyết định tiếp tục hay. không tiếp tục gắn bó với tổ chức.
Meyer và Herscovitch | “Cam kết là sức mạnh ràng buộc các cá nhân trong quá (2001) trình hành động một cách phủ hợp với một hoặc nhiều mục tiêu khác nhau” Pool (2007) “Cam kết với tô chức phản ánh mức độ một cá nhân gắn bó với một tô chức và cam kết nhằm thực hiện những. mục tiêu của tổ chức” (p. Nguồn: Yahaya và Ebrahim (2016) & Tạp chí Công thương Việt Nam 2017 Bảng trên cho thấy, cam kết với tổ chức được các nghiên cứu xem xét dưới góc độ về mặt thái độ và hành vi. Như vậy, tựu trung lại, các nhà nghiên cứu cho rằng.
sự cam kết gắn bó với tổ chức của người lao động là một trạng thái tam ly, trang thái này thúc đây mối liên hệ, gắn bó với tổ chức của người lao động. Điều này tác động đến sự cam kết gắn bó với tô chức của người lao động. Trong đề án này, sau khi xem xét tổng quan các lý thuyết về sự cam kết với tổ chức, tác giả chủ yếu sử dụng khái niệm của Meyer và Allen (1990), Mowday và các cộng sự (1979) làm nền tảng lý luận sau này vì tác giả nhận thấy khái niệm của. nhóm nhà nghiên cứu này phù hợp với đối tượng nghiên cứu của đề án này.
Cam kết gắn bó với tô chức được định nghĩa là sức mạnh của sự đồng nhất, một sự kiên định của một cá nhân với tổ chức, mong muốn làm thành viên của tô chức và tham gia tích cực vào các hoạt động của tổ chức (Mowday & cộng sự, 1979) 16 Meyer va Allen (1990) cho rang cam kết gắn bó với tô chức là trạng thái tâm lý thể hiện mối quan hệ của cá nhân với tổ chức, liên quan mật thiết đến quyết định duy trì tiếp tục là thành viên của tổ chức. Meyer và Allen (1997) giải thích rằng, những người lao động gắn bó với tô chức “là ở lại với tô chức, tham gia công việc thường xuyên, nỗ lực làm việc mỗi ngày” bằng cảm xúc mạnh mẽ hơn sẽ có động cơ làm việc cao hơn và có nhiều đóng góp hơn những người còn lại.2 Vai trò của sự cam kết gắn bó Cam kết gắn bó của người lao động có một vai trò rất lớn, tác động mạnh mẽ đến đến hiệu suất và thành công của một tô chức. Bởi lẽ các nhân viên có sự cao sẽ xác định được mục tiêu và các giá trị của tổ chức, họ có một mong muốn mạnh mẽ được gắn bó và sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ vượt yêu cầu của cấp trên. Nếu nguồn nhân lực được xem là tài sản của tổ chức thì nguồn nhân lực có sự gin bó được xem là lợi thế cạnh tranh của t6 chite 46 (Ranya N,2009).
Người nhân viên thể hiện tốt nhất và sáng tạo nhất không phải khi họ chịu sự kiểm soát chặt chẽ bởi các nhà quản lý, được giới hạn trong công việc được mô tả hạn hẹp và bị đối xử như một sự cần thiết không được hoan nghênh, nhưng thay vào. đó khi họ được giao cho trách nhiệm lớn hơn, khuyến khích đóng góp và được giúp đỡ đề đạt được sự thỏa mãn trong công việc của họ. Cam kết là yếu tố tạo nên hành vi tích cực, tự nguyên và tạo nên thành tích t8 chite (Sawitri D,Suswwait E va Huda K, 2016). Ngoài những yếu tố kế trên, Bozlagan và cộng sự (2010) đã chỉ ra những.
vai trỏ quan trọng của sự gắn bó như: *giúp nâng cao sự hài lòng của nhân viên trong tô chức, cải thiện bầu không khí trong tổ chức theo chiều hướng tích cực, làm. gia tăng thu nhập của nhân viên; giữ chân nhân viên ở lại với tổ chức, phát huy tỉnh. thần đồng đội trong tô chức, làm gia tăng hiệu suất của nhân viên, giúp cải thiện lòng tin của nhân viên đối với tô chức, giúp tô chức linh hoạt để ứng phó với những. tình huống xảy ra, góp phần vào sự phát triển của doanh nghiệp”.Có thể thấy sự gắn bó đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của một tổ chức.
một công ty, tổ chức nào có thể đạt được thành công, mục tiêutrong dài hạn mà không có những nhân viên tin tưởng vào sứ mệnh của công ty và hiểu rõ làm sao để thực hiện được sứ mệnh đó.2 Các lý thuyết nghiên cứu 2.1 Thuyết nhu cầu của Maslow (1943) Abraham Maslow là một nhà tâm lý học người Mỹ. Ông được xem là cha đẻ của chủ nghĩa nhân văn trong tâm lý học và thuyết nhu cầu với việc đề xuất về tháp. Thuyết nhu cầu của Maslow là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người. Cho đến nay chưa có lý thuyết nào đủ sức thuyết phục đề thay thế hoàn toàn mặc dù vẫn có nhiều lý thuyết thuyết phục khác Theo A.
Maslow, hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ. Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ "đáy” lên tới “đỉnh”, theo một thứ tự ưu tiên từ thấp đến cao về tầm quan trọng, phản ảnh mức. độ “cơ bản” của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người. Theo đó, con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội.
Những nhu cầu cấp cao hơn sẽ được thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp được thỏa mãn, đáp ứng. Chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hải lòng và khuyến khích họ hành động. Theo bậc thang nhu cầu của A.Maslow, các nhu cầu gồm có hai cấp: cấp cao. và cấp thấp.
Cấp thấp bao gồm các nhu cầu sinh học và an ninh, an toàn. bao gồm các nhu cầu xã hội, tự trọng và sự hoàn thiện. Sự khác biệt giữa hai loại này là chúng thỏa mãn từ bên trong và bên ngoài của con người.Maslow cho rằng khi nhu cầu bậc dưới của con người được thỏa mãn đến một mức độ nhất định thì tự nó nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn. Thuyết nhu cầu của A.Maslow được đánh giá rất cao vì nó có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản lý ở chỗ muốn động viên nhân viên thì cần phải biết người lao động.
đang ở cấp độ nhu cầu nào, để từ đó có những giải pháp cho việc thỏa mãn nhu cầu người lao động. Các nhu cầu này được sắp xếp và chia thành 5 bậc như sau: 18 5. Nhu cầu về sự hoàn thiện 3 4. Nhu cầu được đánh giá, tôn trong 3.
Nhu cầu về xã hội 2. Nhu câu vê an toàn, an ninh. Nhu cầu sinh học. Bậc thang nhu cầu cia Abraham Maslow Bậc thang nhu cầu của A.Maslow được giải thích như sau: Bậc 1.
Những nhu cầu về sinh học: Là những nhu cầu cần thiết và tối thiểu nhất đảm bảo cho con người tồn tại. Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể hoặc nhu cầu sinh lý, bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như: ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tinh dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái. Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người. Những nhu cầu vé an ninh va an toàn: Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản tức là các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ có nhu cầu cao hơn.
Đó là những nhu cầu về an toàn, không bị đe dọa về tài sản, công việc, sức khỏe, tính mạng và gia đình. Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tỉnh thần. Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống của mình khỏi các nguy hiểm.