CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Những thập kỷ gần đây, các vấn đề về môi trường liên tục phát sinh gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống của con người: sự nóng lên của Trái Đất, băng tan, nước biển dâng, thủng tầng Ozon, ô nhiễm nguồn nước và không khí, các hiện tượng thời tiết bất thường, bão lũ, hạn hán, sóng thần,… Hiện nay, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu đã trở thành chủ đề nóng của nhiều hội nghị cấp cao trên thế giới. Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon cho rằng: “Biến đổi khí hậu cũng khiến nhân loại phải đối mặt với những đe dọa to lớn như chiến tranh”; “Biến đổi khí hậu không chỉ là vấn đề môi trường, mà còn là mối đe dọa toàn diện, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đến tình hình cung cấp lương thực toàn cầu, vấn đề di dân và đe dọa nền hòa bình, an ninh thế giới”. Tại Việt Nam, vấn đề bảo vệ môi trường cũng được Đảng và Nhà Nước hết sức quan tâm.
Nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Hội nghị các Bộ trưởng Môi trường ASEAN: “Ngày nay, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, an ninh lương thực và nguồn nước… đã trở thành vấn đề lớn của khu vực và toàn cầu, không một quốc gia hay cường quốc nào đủ sức giải quyết mà cần phải có sự hợp tác của cả cộng đồng quốc tế… Đối với Việt Nam, trong chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2016-2020, chúng tôi coi bảo vệ môi trường là nội dung quan trọng trong đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển xanh và hướng tới người dân - phát triển bền vững và bảo vệ sức khỏe, thể chất của nhân dân.” Trong khi hiện nay nhiều nước trên thế giới đã xem bảo vệ môi trường là một trong những tiêu chí để đánh giá sản phẩm và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, yêu cầu cũng như nhận thức về sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại Việt Nam còn nhiều hạn chế. Vì vậy, Việt Nam cần có các hoạt động thúc đẩy và hỗ trợ các doanh nghiệp nhanh chóng hội nhập và nâng cao ý thức của người tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm. Người tiêu dùng ngày càng ý thức cao về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trực tiếp đối với sức khỏe, cuộc sống của họ cũng như đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Vì thế, người tiêu dùng có xu hướng sẵn sàng mua những sản phẩm xanh không gây hại môi trường và tài nguyên thiên nhiên (Chen, 2010).
Nhiều nghiên cứu trong hai thập kỷ qua cho thấy những người tiêu dùng xanh tập trung chủ yếu vào người lớn tuổi (Roberts, 1996). Tuy nhiên, người tiêu dùng xanh đang 2 có xu hướng trẻ hóa. Những người trẻ ngày nay có trình độ học vấn ngày càng cao hơn nên họ cũng quan tâm đến các vấn đề môi trường nhiều hơn. Các nhà khoa học trên thế giới đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu như khám phá mối quan hệ giữa nhận thức về môi trường và hành vi tiêu dùng xanh của người trẻ, sự ảnh hưởng của hoạt động chiêu thị tới quyết định sử dụng sản phẩm xanh của người tiêu dùng trẻ,… Tuy nhiên ở Việt Nam, lĩnh vực nghiên cứu này vẫn còn rất mới mẻ, chưa nhận được sự quan tâm đúng mức.
Vì vậy việc nghiên cứu chủ đề này là vô cùng cần thiết. Nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu này là nhằm mục đích tìm ra những nhân tố hữu hiệu thúc đẩy người tiêu dùng trẻ (đối tượng chính là sinh viên các trường đại học trên địa bàn TP Hà Nội) thực hiện hành vi sử dụng sản phẩm xanh. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan về các nghiên cứu trên thế giới (1) Nghiên cứu của Roberts & Bacon (1997) với chủ đề “Exploring the Subtle Relationships between Environmental Concern and Ecologically Conscious Consumer Behavior” (Khám phá các mối quan hệ tinh tế giữa mối quan tâm về môi trường và hành vi tiêu dùng có ý thức sinh thái).
Nghiên cứu khám phá mối quan hệ giữa quan tâm môi trường và hành vi tiêu dùng có ý thức sinh thái, sử dụng các thang đo NEP (New Environmental Paradigm) và ECCB (Ecologically Conscious Consumer Behavior). Nghiên cứu này sử dụng phân tích nhân tố để xác định các chiều của thang đo NEP và ECCB, và khám phá mối quan hệ giữa chúng. Tác giả sử dụng phương pháp khảo sát qua thư để thu thập dữ liệu từ 1.000 người tiêu dùng ở Hoa Kỳ. Các biến được đo lường bằng các thang đo Likert 7 điểm, dựa trên các nghiên cứu trước đó.
Các biến bao gồm: quan tâm môi trường, hành vi tiêu dùng có ý thức sinh thái, nhận thức về sự cần thiết của hành động bảo vệ môi trường, và nhận thức về sự khả thi của hành động bảo vệ môi trường. Tác giả cũng thu thập các thông tin về đặc điểm nhân khẩu học của người được khảo sát, như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, và thu nhập. Tác giả phân tích dữ liệu bằng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến và tìm thấy một số mối quan hệ tinh tế giữa các biến độc lập và hành vi tiêu dùng có ý thức sinh thái. Kết quả cho thấy mối quan tâm về môi trường có tác động đáng kể đến hành vi tiêu dùng có ý thức về mặt sinh thái.
Bài báo nghiên cứu hồ 3 sơ dân số, tâm lý và hành vi của người tiêu dùng sẵn sàng trả thêm tiền cho các sản phẩm thân thiện với môi trường. Mối quan tâm liên quan đến môi trường là hiển nhiên trong thị trường ngày càng có ý thức sinh thái. Các yếu tố được các tác giả nghiên cứu bao gồm: Nhân khẩu học, Kiến thức, Giá trị, Thái độ, Hành vi. Sử dụng các phân tích thống kê khác nhau, bài báo này điều tra hồ sơ nhân khẩu học, tâm lý và hành vi của người tiêu dùng sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho các sản phẩm thân thiện với môi trường.
Các tác giả phát hiện ra rằng phân khúc người tiêu dùng này có nhiều khả năng là phụ nữ, đã kết hôn và có ít nhất một người con. Họ báo cáo rằng các vấn đề sinh thái ngày nay rất nghiêm trọng, rằng các tập đoàn không hành động có trách nhiệm với môi trường và hành xử theo cách có lợi về mặt sinh thái. Họ chú trọng tới an ninh và mối quan hệ với người khác, và họ thường xem xét các vấn đề sinh thái khi mua hàng. Bài báo cũng đưa ra những hậu quả quản lý cho các nhà tiếp thị xanh và đề xuất cho nghiên cứu trong tương lai.
Bài báo này áp dụng khung khái niệm của mối quan hệ giá trị-thái độ- hành vi, để xác định các yếu tố tiền đề chính của hành vi mua hàng xanh và phát triển một mô hình để giải thích ảnh hưởng của chúng đối với tiêu thụ sinh thái. Mô hình đề xuất rằng chủ nghĩa tập thể, mối quan tâm môi trường và Hiệu quả Tiêu dùng Cảm nhận (PCE) là các yếu tố có ảnh hưởng đến hành vi mua hàng xanh. Các tác giả sử dụng phương pháp mô hình hóa phương trình cấu trúc, để kiểm tra ảnh hưởng của chủ nghĩa tập thể, mối quan tâm môi trường và PCE đối với hành vi mua hàng xanh và mối quan hệ giữa chúng. Dữ liệu được thu thập từ 300 người tiêu dùng ở Hàn Quốc, một quốc gia có nền văn hóa tập thể cao.
Kết quả cho thấy ảnh hưởng của chủ nghĩa tập thể thông qua PCE; các định hướng giá trị tập thể ảnh hưởng đến niềm tin về hiệu quả của người tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng đến hành vi mua hàng xanh. Mối quan tâm môi trường, ngược lại, ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi mua hàng xanh. Bài báo này thảo luận về các hàm ý cho các nhà tiếp thị, các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu về cách thúc đẩy tiêu thụ sinh thái. Bài báo cũng đề xuất một số hướng nghiên cứu tương lai để mở rộng và cải thiện mô hình hiện tại.
Đây là bài báo nghiên cứu về sự khác biệt giữa giới tính 4 trong thái độ đối với môi trường và sản phẩm xanh, cũng như mối quan hệ giữa thái độ đối với môi trường và sản phẩm xanh với các biến quan sát: Bảo vệ môi trường, Vai trò chính phủ và Tiêu chuẩn cá nhân. Tác giả sử dụng bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu từ 200 người tiêu dùng tại Malaysia, và sử dụng phân tích nhân tố và phân tích hồi quy để kiểm tra các giả thuyết. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa giới tính trong thái độ đối với môi trường và sản phẩm xanh. Thái độ đối với môi trường được xác định bởi ba nhân tố chính là bảo vệ môi trường, vai trò của chính phủ và tiêu chuẩn cá nhân.
Thái độ đối với sản phẩm xanh được ảnh hưởng bởi vai trò của chính phủ và tiêu chuẩn cá nhân, trong đó tiêu chuẩn cá nhân là yếu tố quan trọng nhất. Nghiên cứu này nhằm mục đích cung cấp thông tin về tác động của tiếp thị xanh đến hành vi mua hàng của khách hàng. Các biến quan sát được tác giả sử dụng là: Nhận thức về môi trường, Đặc tính sản phẩm xanh, Giá sản phẩm xanh và Hoạt động chiêu thị xanh. Đầu tiên, môi trường và các vấn đề môi trường, một trong những lý do khiến tiếp thị xanh ra đời, được đề cập, sau đó các khái niệm về tiếp thị xanh và người tiêu dùng xanh được giải thích.
Sau đó, cùng với các giả thuyết được phát triển, tổng quan văn bản đã được tiếp tục và các nghiên cứu được thực hiện về chủ đề này cho đến nay được đề cập. Kết quả khảo sát được thực hiện trên 540 người tiêu dùng ở Istanbul được đánh giá theo phương pháp thống kê. Nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến để kiểm tra các giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến độc lập (nhận thức về môi trường, tính năng sản phẩm xanh, quảng bá xanh, giá xanh) và biến phụ thuộc (hành vi mua hàng xanh). Nghiên cứu này cũng kiểm tra ảnh hưởng của các yếu tố dân số (giới tính, thu nhập, tình trạng hôn nhân, độ tuổi, trình độ học vấn) đến mô hình.
Theo kết quả của phân tích, nhận thức về môi trường, tính năng sản phẩm xanh, hoạt động quảng bá xanh và giá xanh ảnh hưởng tích cực đến hành vi mua hàng xanh của người tiêu dùng. Đặc điểm dân số có ảnh hưởng trung bình đến mô hình.