Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần đã chứng kiến sự chuyển mình vượt bậc về quy mô tài sản và mạng lưới phân phối, nhưng đồng thời cũng đối mặt với nhiều rủi ro mang tính hệ thống. Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Eximbank) nổi lên như một định chế tài chính tiêu biểu với mạng lưới hoạt động rộng khắp gồm 207 điểm giao dịch và quan hệ đại lý với 869 ngân hàng tại 84 quốc gia trên toàn cầu. Tuy nhiên, trước các cú sốc kinh tế vĩ mô như lạm phát phi mã, thị trường bất động sản đóng băng và áp lực nợ xấu gia tăng sau năm 2008, khả năng duy trì biên lợi nhuận của ngân hàng đã gặp phải những thách thức chưa từng có tiền lệ.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện, đo lường và lượng hóa mức độ tác động của các yếu tố nội tại lẫn môi trường vĩ mô đến kết quả lợi nhuận của Eximbank trong giai đoạn 2006 – 2012. Bằng cách phân tích chuỗi số liệu tài chính liên tục 7 năm, nghiên cứu làm sáng tỏ các động lực chính chi phối tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE). Về mặt thực tiễn, công trình mang lại giá trị định lượng quan trọng cho ban điều hành ngân hàng trong việc tối ưu hóa tỷ lệ sinh lời, khi chỉ số ROA từng chạm đỉnh 1,73% vào năm 2009 nhưng sụt giảm xuống còn 1,24% vào năm 2012, đồng thời tỷ lệ ROE biến động mạnh từ mức 13,30% năm 2006 xuống các mức thấp hơn trong quá trình mở rộng vốn điều lệ. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để thiết lập các ngưỡng an toàn vốn và chính sách quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết lợi nhuận ngân hàng thương mại, trong đó lợi nhuận thuần được xác định bằng hiệu số giữa tổng thu nhập hoạt động (thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi) và tổng chi phí (chi phí trả lãi, chi phí hoạt động và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng). Để phân rã các động lực sinh lời, luận văn ứng dụng mô hình phân tích tài chính DuPont, thiết lập mối quan hệ hàm số giữa tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và hệ số đòn bẩy tài chính theo công thức: ROE bằng ROA nhân với nghịch đảo của tỷ số vốn tự có trên tổng tài sản.

Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng hệ thống các chỉ tiêu đo lường cận biên chuyên sâu bao gồm: Tỷ lệ thu nhập lãi thuần cận biên (NIM - Net Interest Margin), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (Non-Interest Margin), tỷ lệ sinh lời hoạt động thuần (Net Profit Margin) và tỷ lệ tài sản sinh lời trên tổng tài sản. Các khái niệm này được đối chiếu với khung phân tích thực nghiệm quốc tế từ các công trình kinh điển như Andreas Dietrich và Gabrielle Wanzenried (2010), Deger Alper và Adem Anbar (2011), Samina Riaz và Ayub Mehar (2011), kết hợp cùng các công trình tại thị trường Việt Nam của Phan Thị Hằng Nga (2011) và Phạm Hữu Hồng Thái (2010) nhằm phân loại các nhóm nhân tố tác động thành hai trục chính: nhóm đặc điểm tài chính vi mô nội tại và nhóm chỉ số kinh tế vĩ mô.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp phân tích định tính và mô hình định lượng hồi quy tuyến tính. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ các báo cáo tài chính kiểm toán độc lập, báo cáo thường niên chính thức của Eximbank từ năm 2006 đến năm 2012, đồng thời thu thập dữ liệu so sánh đối chuẩn từ 6 ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn cùng ngành gồm Vietcombank, VietinBank, Sacombank, ACB, Techcombank và MB. Dữ liệu kinh tế vĩ mô về tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát và lãi suất thực được tổng hợp từ Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm chuỗi thời gian 7 năm với đầy đủ các kỳ kế toán quý và năm, tạo lập tập dữ liệu quan sát đáng tin cậy.

Về phương pháp phân tích, tác giả sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích cơ cấu và so sánh tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động (từ mức 13.467 tỷ đồng năm 2006 lên 85.519 tỷ đồng năm 2012) và dư nợ cho vay (từ 10.207 tỷ đồng lên 74.922 tỷ đồng). Trên phương diện định lượng, phần mềm kinh tế lượng EViews được sử dụng để chạy mô hình hồi quy đa biến OLS, thực hiện kiểm định ma trận tương quan giữa các biến độc lập, đánh giá hiện tượng đa cộng tuyến, tự tương quan và tính phù hợp của mô hình. Việc lựa chọn phương pháp hồi quy đa biến cho phép bóc tách độ nhạy của từng biến số tài chính vi mô đến biến phụ thuộc ROA và ROE trong môi trường kinh tế nhiều biến động.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu thu nhập của Eximbank phụ thuộc quá lớn vào hoạt động tín dụng truyền thống khi thu nhập từ lãi luôn chiếm tỷ trọng áp đảo, đạt 81,13% tổng thu nhập vào năm 2012. Thu nhập lãi thuần tăng trưởng mạnh từ mức 352 tỷ đồng năm 2006 lên mức đỉnh 5.297 tỷ đồng năm 2011, trước khi giảm 7,65% xuống còn 4.892 tỷ đồng vào năm 2012 do áp lực hạ lãi suất cho vay. Trong khi đó, thu nhập ngoài lãi biến động thiếu ổn định, đặc biệt năm 2012 sụt giảm tới 51% do hoạt động kinh doanh ngoại hối bị lỗ và thị trường kinh doanh vàng bị thu hẹp theo chính sách siết chặt quản lý của Nhà nước.

Thứ hai, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng và chất lượng tài sản có mối quan hệ nghịch biến sâu sắc với lợi nhuận. Điển hình vào năm 2008, khi tỷ lệ nợ xấu tăng vọt lên mức kỷ lục 4,17%, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của Eximbank đã tăng đột biến 838% so với năm 2007, trực tiếp bào mòn biên lợi nhuận ròng. Giai đoạn 2009 – 2012, nhờ kiểm soát nợ xấu ổn định, chi phí trích lập dự phòng được duy trì ở mức khoảng 10% lợi nhuận trước trích lập, giúp lợi nhuận sau thuế năm 2011 lập đỉnh đạt 3.054 tỷ đồng (tăng trưởng 69% so với năm 2010).

Thứ ba, tốc độ mở rộng vốn điều lệ tạo ra hiện tượng suy giảm ROE kỹ thuật trong ngắn hạn. Khi Eximbank tăng vốn điều lệ thêm 158% (từ 2.800 tỷ đồng lên 7.220 tỷ đồng trong năm 2007 – 2008 thông qua bán cổ phần cho đối tác chiến lược Sumitomo Mitsui Banking Corporation - SMBC), tốc độ sinh lời chưa theo kịp tốc độ pha loãng vốn đã khiến chỉ số ROE suy giảm, trước khi phục hồi mạnh mẽ nhờ quy mô tài sản sinh lời gia tăng ở các năm tiếp theo.

Thảo luận kết quả

Kết quả phân tích phản ánh rõ nét thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2006 – 2012: mô hình kinh doanh dựa chủ yếu vào tăng trưởng tín dụng ngắn hạn (dư nợ ngắn hạn chiếm 68,10% tổng dư nợ năm 2012) luôn tiềm ẩn rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất cao. Khi Ngân hàng Nhà nước áp dụng trần lãi suất huy động và thắt chặt tiền tệ vào năm 2011, chi phí trả lãi của Eximbank đã tăng phi mã 163% lên mức 12.252 tỷ đồng do cạnh tranh lãi suất tiền gửi lên đến 19,50%/năm.

Dữ liệu nghiên cứu khi biểu diễn qua biểu đồ biến thiên lợi nhuận cho thấy sự tương quan nghịch biến chặt chẽ giữa chi phí hoạt động, chi phí dự phòng và tỷ suất sinh lời ROA. So sánh đối chuẩn với 6 ngân hàng cùng ngành trong năm 2012 – thời điểm toàn ngành suy giảm lợi nhuận nghiêm trọng (lợi nhuận sau thuế của Eximbank giảm 30,70% xuống 2.117 tỷ đồng, ACB giảm 76,40%), Eximbank vẫn duy trì ROA ở mức 1,24%, ngang bằng với VietinBank và MB, cao hơn rõ rệt so với Vietcombank, Sacombank và Techcombank. Kết quả thực nghiệm này hoàn toàn tương thích với các kết luận của Phan Thị Hằng Nga (2011) và Andreas Dietrich (2010), khẳng định rằng năng lực quản trị chi phí hoạt động và kiểm soát chất lượng tín dụng là hai trụ cột quyết định sức bền lợi nhuận của ngân hàng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu danh mục tín dụng và hoàn thiện sản phẩm huy động vốn. Hội đồng Quản trị và Khối Khách hàng Doanh nghiệp cần chủ động giảm tỷ trọng cho vay ngắn hạn từ mức 68,10% xuống khoảng 55,00%, nâng tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn lên mức 35,00% – 40,00% trong lộ trình 2014 – 2016 nhằm tối ưu hóa biên lãi thuần (NIM). Đồng thời, Khối Nguồn vốn cần đẩy mạnh huy động vốn từ khách hàng cá nhân với mục tiêu tăng trưởng tối thiểu 18,00%/năm, duy trì tỷ trọng tiền gửi dân cư trên 75,00% tổng nguồn vốn huy động để giảm thiểu chi phí vốn bình quân.

Thứ hai, thiết lập hệ thống kiểm soát rủi ro tín dụng và xử lý nợ xấu đa tầng. Khối Quản trị Rủi ro và Ủy ban Tín dụng phải nghiêm túc thực thi quy trình phân loại nợ theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN và Quyết định 780/QĐ-NHNN. Đặt mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới ngưỡng 2,00% liên tục trong giai đoạn 2014 – 2015, thực hiện trích lập dự phòng đầy đủ 100% đối với các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5, nâng cao chất lượng thẩm định tài sản bảo đảm và tăng cường vai trò giám sát độc lập của Ban Kiểm soát nội bộ.

Thứ ba, triệt để tiết giảm chi phí hoạt động và kiểm soát tỷ lệ CIR (Cost-to-Income Ratio). Ban Điều hành cần rà soát lại định mức chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí nhân viên (vốn đã vượt mốc 1.044 tỷ đồng vào năm 2012), phấn đấu hạ tỷ lệ chi phí trên thu nhập xuống dưới mức 38,00% trước năm 2015. Ứng dụng hệ thống đánh giá hiệu suất KPI gắn liền với kết quả kinh doanh thuần của từng chi nhánh trong mạng lưới 207 điểm giao dịch.

Thứ tư, đẩy mạnh phát triển sản phẩm dịch vụ ngoài lãi trên nền tảng ngân hàng số. Trung tâm Thẻ và Khối Ngân hàng Điện tử cần triển khai các giải pháp thanh toán hiện đại, mục tiêu tăng trưởng doanh số sử dụng thẻ và thanh toán thẻ trên 25,00%/năm, mở rộng mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ (POS) từ 4.362 đơn vị năm 2012 lên vượt mốc 6.500 đơn vị vào năm 2015, nhằm nâng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi lên mức 25,00% – 30,00% tổng thu nhập hoạt động.

Thứ năm, kiến nghị Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ duy trì ổn định khung pháp lý tiền tệ. Cơ quan quản lý cần có lộ trình điều hành lãi suất thị trường linh hoạt, nhất quán trong chính sách quản lý thị trường vàng và ngoại tệ, đồng thời hoàn thiện cơ chế mua bán nợ xấu qua Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) để khơi thông dòng vốn tín dụng cho nền kinh tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là Ban điều hành, Hội đồng Quản trị và cán bộ quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại cổ phần. Luận văn cung cấp bức tranh thực chứng sâu sắc về mối quan hệ giữa quy mô tài sản, chi phí trích lập dự phòng và tỷ lệ an toàn vốn, giúp nhà quản trị xây dựng các kịch bản ứng phó trước biến động biên lãi thuần và tái cấu trúc danh mục cho vay hiệu quả.

Nhóm thứ hai là các nhà đầu tư tổ chức, cổ đông chiến lược và chuyên viên phân tích tài chính chứng khoán. Công trình phân tích chi tiết cơ cấu tài chính của Eximbank với quy mô vốn điều lệ 12.355 tỷ đồng và tổng dư nợ 74.922 tỷ đồng, hỗ trợ các định chế đầu tư định giá chính xác cổ phiếu ngân hàng và đánh giá chất lượng tăng trưởng thực chất qua các chỉ số ROA, ROE và NIM.

Nhóm thứ ba là học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng. Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về việc ứng dụng phương pháp phân tích DuPont kết hợp mô hình kinh tế lượng hồi quy đa biến trên EViews để lượng hóa các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại.

Nhóm thứ tư là các cơ quan quản lý nhà nước và chuyên viên hoạch định chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Nhà nước. Kết quả phân tích về phản ứng của hệ thống ngân hàng trước trần lãi suất huy động và trần tín dụng giai đoạn 2008 – 2012 mang lại hàm ý chính sách giá trị cho công tác thanh tra, giám sát an toàn vĩ mô hệ thống tín dụng.

Câu hỏi thường gặp

Yếu tố nội tại nào tác động mạnh nhất đến sự biến động lợi nhuận của Eximbank giai đoạn 2006 – 2012? Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng và thu nhập lãi thuần là hai yếu tố chi phối mạnh nhất. Khi nợ xấu tăng vọt lên 4,17% vào năm 2008, chi phí dự phòng tăng 838%, trực tiếp làm giảm tốc độ sinh lời, trong khi thu nhập từ lãi chiếm hơn 81,13% tổng thu nhập của ngân hàng.

Tại sao chỉ số ROA của Eximbank lại đạt đỉnh 1,73% vào năm 2009? Chỉ số ROA đạt mức kỷ lục 1,73% năm 2009 nhờ lợi nhuận sau thuế tăng trưởng vượt bậc 59,30% (đạt 1.132 tỷ đồng), xuất phát từ việc chi phí trả lãi giảm mạnh 17,60% theo gói hỗ trợ lãi suất kích cầu kinh tế của Chính phủ trong khi tổng tài sản tăng trưởng ở mức vừa phải.

Mô hình phân tích DuPont giải thích hiện tượng sụt giảm ROE của Eximbank trong năm 2008 như thế nào? Theo mô hình DuPont, ROE phụ thuộc vào ROA và đòn bẩy tài chính. Năm 2008, Eximbank tăng vốn điều lệ thêm 158% lên 7.220 tỷ đồng khi phát hành cổ phần cho đối tác SMBC, làm hệ số đòn bẩy tài chính sụt giảm nhanh hơn tốc độ tăng trưởng lợi nhuận ròng, dẫn đến hiện tượng suy giảm ROE kỹ thuật.

Nguyên nhân chính khiến thu nhập ngoài lãi của Eximbank năm 2012 giảm 51% là gì? Sự sụt giảm này bắt nguồn từ việc hoạt động kinh doanh ngoại hối bị lỗ (chiếm 63% tổng thu nhập ngoài lãi năm 2012), kết hợp với việc thị trường kinh doanh vàng bị thu hẹp đáng kể (doanh số giảm gần 50%) theo các quy định siết chặt quản lý kinh doanh vàng của Nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu định lượng trong luận văn được thực hiện ra sao? Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến OLS trên phần mềm EViews với cỡ mẫu dữ liệu chuỗi thời gian 7 năm (2006 – 2012) và dữ liệu so sánh từ 7 ngân hàng thương mại, kiểm định mối tương quan giữa ROA, ROE với quy mô vốn, rủi ro tín dụng, chi phí hoạt động, lạm phát và GDP.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết về lợi nhuận ngân hàng thương mại và kiểm định thành công mô hình DuPont trên chuỗi dữ liệu thực tế giai đoạn 2006 – 2012 của Eximbank.
  • Nghiên cứu chỉ rõ thu nhập từ lãi chiếm tỷ trọng áp đảo 81,13% tổng thu nhập, phản ánh mức độ tập trung rủi ro cao vào hoạt động tín dụng truyền thống.
  • Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng và biến động nợ xấu (từng đạt đỉnh 4,17% năm 2008) được xác định là rào cản lớn nhất bào mòn biên lợi nhuận ròng của ngân hàng.
  • Luận văn xây dựng hệ thống 5 nhóm giải pháp khả thi nhằm tái cơ cấu kỳ hạn tín dụng, cắt giảm tỷ lệ chi phí CIR dưới 38,00% và nâng cao tỷ trọng thu dịch vụ ngân hàng số.
  • Về lộ trình triển khai tiếp theo, các giải pháp quản trị rủi ro và chuyển đổi số cần được hoàn tất trong giai đoạn 2014 – 2016, hướng tới tầm nhìn phát triển bền vững đến năm 2020. Để làm sâu sắc hơn chủ đề này, các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng cỡ mẫu không gian sang toàn bộ hệ thống ngân hàng niêm yết và kéo dài chuỗi thời gian phân tích.