chương 1 Trong chương này tác giả đã trình bày lý do chọn đề tài và ý nghĩa về mặt lý thuyết cũng như về mặt thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Cùng với việc giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu của mình, tác giả đã trình bày phương pháp nghiên cứu theo hai giai đoạn: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Trong chương tiếp theo, cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ, chất lượng dịch vụ tại hệ thống bán lẻ, sự hài lòng, các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ và tổng quan một số nghiên cứu đã thực hiện trong và ngoài nước sẽ được tổng hợp. Dựa trên cơ sở đó mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu sẽ được đề xuất.
7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT – MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về dịch vụ, chất lượng dịch vụ hệ thống bán lẻ, sự hài lòng và một số mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ, tổng quan một số nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan. Từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu cũng như các giả thuyết về các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân về chất lượng dịch vụ của hệ thống siêu thị Saigon Co.1 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ 2.1 Khái niệm về dịch vụ Khác với sản phẩm hữu hình, có thể nhìn, sờ, nếm…, dịch vụ là sản phẩm vô hình có những điểm khác biệt nên có nhiều khái niệm khác nhau. Theo định nghĩa của trang Wikipedia (2017), “Dịch vụ trong quốc tế, được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa, nhưng là phi vật chất” (http://wikipedia. Theo Kotler (2003) cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không nhắc đến quyền sở hữu một cái gì đó.
Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” (Kotler, 2003). Theo Zeithaml và Bitner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng (Bùi Thanh Tráng & Nguyễn Đông Phong, 2014). Và theo Nguyễn Thu Hằng (2004), “Dịch vụ là những hoạt động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật thể, nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quả hơn các nhu cầu trong sản xuất và đời sống con người” (Nguyễn Thu Hằng, 2004). Tóm lại có nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ, nhưng nhìn chung thì dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người.2 Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ có các đặc trưng cơ bản khác với sản phẩm hữu hình khác là: Thứ nhất, tính vô hình: dịch vụ không có hình dáng cụ thể; chúng ta không thể sờ mó, cầm nắm, cân, đong, đo đếm được như các sản phẩm hữu hình.
Và do vậy mà dịch vụ cũng không thể tồn trữ, lưu kho. Thứ hai, tính không thể tách rời: việc tiêu thụ và sản xuất dịch vụ được thực hiện đồng thời. Những sản phẩm hữu hình sau khi được sản xuất sẽ thông qua các đại lý trung gian, bán sỉ và lẻ rồi mới sử dụng. Còn dịch vụ việc sản xuất và tiêu thụ diễn ra cùng lúc, có sự hiện diện của người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ.
Thứ ba, tính không đồng nhất hay không ổn định về chất lượng: do việc sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời nên chất lượng dịch vụ khác nhau theo thời gian, không gian, người phục vụ và khách hàng. Sự biến thiên trong chất lượng dịch vụ diễn ra thường xuyên hơn so với sản phẩm hữu hình do mức độ tương tác của con người trong dịch vụ cao hơn rất nhiều so với sản phẩm hữu hình. Dịch vụ ẩn chứa sức lao động của con người càng cao thì chất lượng dịch vụ càng không đồng nhất. Đối với những dịch vụ đòi hỏi sự tham gia nhiều hơn của chính người sử dụng dịch vụ thì người sử dụng này ảnh hướng rất lớn đến chất lượng dịch vụ.
Và khi đánh giá chất lượng dịch vụ, khách hàng dựa nhiều vào cảm nhận cá nhân cũng như trạng thái tâm lý lúc đánh giá. Thứ tư, tính không thể tồn trữ: dịch vụ không thể cất trữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác. Chúng ta có thể ưu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trước sau nhưng không thể đem cất dịch vụ rồi sau đó đem ra sử dụng vì dịch vụ thực hiện xong là hết, không thể để dành cho việc “tái sử dụng” hay “phục hồi” lại. Chính vì vậy, dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó.
Như vậy, so với sản phẩm hữu hình thì dịch vụ có bốn đặc điểm khác biệt như sau: tính vô hình, tính không thể tách rời, tính không đồng nhất và tính không thể tồn trữ.2 Chất lượng dịch vụ Với những đặc trưng cơ bản khác biệt của dịch vụ giúp phân biệt được dịch vụ 9 với hàng hóa hữu hình. “Hơn nữa, các đặc điểm này không hoàn toàn giống nhau giữa các loại hình, có những dịch vụ tính vô hình cao và cũng có những dịch vụ tính hữu hình cao” (Bùi Thanh Tráng & Nguyễn Đông Phong, 2014). Do đó, việc đưa ra định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ khá khó khăn, phức tạp và vẫn chưa nhận sự đồng thuận giữa các nhà nghiên cứu. “Chất lượng dịch vụ liên quan đến năng lực của người cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng hay vượt qua những mong đợi của khách hàng” (Bùi Thanh Tráng & Nguyễn Đông Phong, 2014).
Hiệu quả hoạt động được đánh giá thông qua chất lượng dịch vụ mà khách hàng cảm nhận được và chất lượng dịch vụ nên được đánh giá dựa trên quan điểm của người sử dụng dịch vụ. Nói một cách ngắn gọn, chất lượng dịch vụ là hành vi, quy trình và quá trình thực hiện dịch vụ. Nhìn chung, chất lượng dịch vụ là khoảng cách chênh lệch giữa sự kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả khi sử dụng dịch vụ. Hay chất lượng dịch vụ là sự chênh lệch giữa kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ và chất lượng dịch vụ mà họ cảm nhận thực tế.
Nếu kỳ vọng lớn hơn kết quả cảm nhận được thì chất lượng cảm nhận thấp và khách hàng sẽ không hài lòng và ngược lại.3 Các lý thuyết liên quan đến chất lượng dịch vụ Như đã đề cập, từ thập niên 90 có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chất lượng dịch vụ và đo lường chất lượng dịch vụ trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhìn chung, các công trình của Gronroos (1982), Lehtinen và Lehtinen (1982), Lewis và Booms (1983), Sasser, Olsen và Wyckoff (1978) đưa ra ba đặc điểm chung của chất lượng dịch vụ: Thứ nhất, chất lượng dịch vụ khó đánh giá hơn sản phẩm hữu hình. Khi mua 10 sản phẩm, người tiêu dùng có nhiều yếu tố hữu hình để đánh giá chất lượng: màu sắc, kiểu dáng, bao bì, … Trong khi đó, do đặc điểm vô hình, khi mua sản phẩm dịch vụ, người tiêu dùng sẽ ít có yếu tố hữu hình đánh giá chất lượng dịch vụ. Trong nhiều trường hợp, họ đánh giá chủ yếu dựa vào yếu tố hữu hình như cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ nhân viên của nhà cung cấp dịch vụ.
Và khi không có thông tin về các yếu tố hữu hình, người tiêu dùng sẽ có thể đánh giá chất lượng dịch vụ dựa vào các yếu tố khác, và nhiều trường hợp là giá (mặc dù chưa có công trình nghiên cứu chính thức) (Parasuraman & ctg, 1985). Cũng do đặc điểm này, nhà cung cấp dịch vụ sẽ gặp khó khăn trong việc nắm bắt người tiêu dùng cảm nhận như thế nào về dịch vụ và chất lượng dịch vụ. Khi nhà cung cấp dịch vụ hiểu được người tiêu dùng đánh giá chất lượng dịch vụ như thế nào, họ sẽ đưa ra giải pháp tác động đến đánh giá của người tiêu dùng theo đúng hướng họ mong muốn (Parasuraman & ctg, 1985). Thứ hai, chất lượng dịch vụ được cảm nhận từ sự so sánh sự kỳ vọng về chất lượng dịch vụ và chất lượng thực tế nhận được.
Các nhà nghiên cứu và các nhà cung cấp dịch vụ cho rằng: chất lượng dịch vụ là sự đo lường mức độ dịch vụ đáp ứng sự kỳ vọng của khách hàng. Cung cấp dịch vụ có nghĩa là đáp ứng sự kỳ vọng của khách hàng trên cơ sơ sở lâu dài (Parasuraman & ctg, 1985). Smith và Houston cho rằng sự hài lòng của khách hàng với dịch vụ được đánh giá trên cơ sở có phù hợp hay không phù hợp với kỳ vọng của họ. Thứ ba, chất lượng dịch vụ được đánh giá dựa trên kết quả và quá trình cung cấp dịch vụ.
Sasser và ctg (1978) đã nghiên cứu ba thành phần của chất lượng dịch vụ: mức độ của nguyên liệu, cơ sở vật chất và đội ngũ nhân sự. Nghiên cứu chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ bao gồm không chỉ kết quả mà còn bao gồm cách thức thực hiện dịch vụ. Gronroos (1982), trong nghiên cứu của mình đã đề xuất hai thành phần của chất lượng dịch vụ: chất lượng kỹ thuật (Technical quality), là những gì khách hàng nhận được, và chất lượng chức năng (Functional quality), là những quy trình, phương thức thực hiện dịch vụ. Mô hình được sử dụng đo lường nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ.
Còn trong nghiên cứu của Lehtinen và Lehtinen’s (1982), chất lượng dịch vụ được tạo ra trong quá trình tương tác giữa khách hàng và các nhân 11 tố trong tổ chức dịch vụ (Parasuraman & ctg, 1985). Các nhà nghiên cứu sử dụng ba nhân tố để đánh giá: chất lượng vật chất (thiết bị, văn phòng, …); chất lượng tổ chức (hình ảnh, thương hiệu, … của tổ chức cung cấp dịch vụ) và chất lượng giao tiếp (phát sinh từ sự giao tiếp giữa khách hàng với tổ chức, khách hàng với khách hàng). Nghiên cứu còn làm rõ sự khác biệt giữa chất lượng dịch vụ gắn với quá trình cung cấp dịch vụ và chất lượng gắn với kết quả. Tuy nhiên, khi nói đến chất lượng dịch vụ, chúng ta không thể không đề cập đến đóng góp to lớn của Parasuraman và ctg.
Parasuraman và ctg (1985, 1988) cho rằng: “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách chênh lệch giữa sự kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả khi sử dụng dịch vụ” (Parasuraman & ctg, 1985).