Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề. Trong Tiếng việt cũng như nhiều ngôn ngữ khác, biểu tượng là một từ đa nghĩa và khoa học tâm lý không phải là lĩnh vực duy nhất sở hữu nó. Khái niệm này đã và đang được nhắc đến thường xuyên trong triết học, văn học, xã hội học, tâm lý học cũng như nhiều lĩnh vực khác như nghệ thuật, sân khấu, luật học, toán học… Biểu tượng trước hết là đối tượng nghiên cứu của triết học.
Một số tác phẩm triết học tiêu biểu nghiên cứu về “biểu tượng” như: Ernst Cassirer (1874 - 1945) nhà triết học Đức với công trình “Triết học với các hình thái biểu tượng”, J.C Doubrovsky với tác phẩm “Triết học và nghiên cứu hiện tượng luận”.A White, trong “Biểu tượng nguồn gốc và cơ sở của hành vi người” đã viết: “Văn hóa là cơ chế của các hiện tượng vật thể, hành động, tư tưởng, cảm xúc. Cơ chế này được tạo ra nhờ việc sử dụng các biểu tượng, hoặc phụ thuộc vào các biểu tượng đó”[19; 49]. Biểu tượng được nhìn nhận từ ngôn ngữ học như công trình “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” của nhà ngôn ngữ học người Thụy Sỹ F. Ở công trình này, ông lấy biểu tượng làm đối tượng phân tích của ngôn ngữ học cấu trúc.
Biểu tượng còn là đối tượng phân tích mỹ học, F.Heghen trong công trình “Mỹ học” (Tập 1 – NXBVH, 1999) đã khẳng định sự phức hợp của biểu tượng là do một nội dung có thể có nhiều hình thức biểu hiện và ngược lại một hình thức có thể được biểu hiện dưới nhiều nội dung khác nhau. Mỗi ý nghĩa của biểu tượng lại nói lên một mặt của đời sống xã hội, có bao nhiêu biểu hiện của đời sống xã hội là có bấy nhiêu ý nghĩa tương ứng trong thế giới biểu tượng. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Biểu tượng được nhìn nhận từ gốc độ văn hóa, tiêu biểu là công trình “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới” của hai tác giả Jean Chavelier và Alain Gheerbrant (NXB Đà Nẵng và trường viết văn Nguyễn Du ấn hành 1977) với phụ đề: huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình, màu sắc, con số” đã bao quát được nhiều khu vực văn hóa trên thế giới liên quan đến các phương diện xã hội học, tâm lý học, dân tộc học, thần thoại học…Mỗi vấn đề biểu tượng cụ thể lại được so sánh giữa các không gian văn hóa khác nhau, từ đó có cái nhìn nhiều chiều từ thế giới biểu tượng. Có lẽ chính vì sự đa dạng trong việc nghiên cứu “biểu tượng” dưới những gốc độ khác nhau, cho nên thoạt đầu, trong tâm lý học, khái niệm biểu tượng đã gây ra những tranh cãi về mặt lý thuyết.
Bởi đối với ngành khoa học này, biểu tượng xuất hiện ở hầu như tất cả các chuyên ngành như nhận thức, xã hội, lâm sàng, hoặc đơn giản chỉ là một “quan điểm chung” (theo Denis và Dubois, 1976), hay một “quan điểm xã hội” (theo Moscovici, 1961/1992). Trong đề tài này, chúng tôi xin giới hạn các công trình nghiên cứu “biểu tượng” với tư cách là khái niệm của tâm lý học đại cương và tâm lý học phát triển, tức là nghiên cứu biểu tượng với tư cách là một cấu trúc tâm lý cá nhân và nghiên cứu biểu tượng trong quá trình phát triển tâm lý trẻ em. Trong Tâm lý học đại cương, biểu tượng được nghiên cứu với tư cách là một thành tố của hoạt động nhận thức cá nhân. Biểu tượng được đề cập ở nhiều công trình, theo nhiều góc độ và đã làm sáng tỏ về bản chất, chức năng và vai trò của biểu tượng trong nhận thức và hành động của cá nhân.
Nó được khái quát thành 4 hướng lớn: * Các công trình nghiên cứu biểu tượng với tư cách là sản phẩm của quá trình nhận thức của cá nhân, từ cảm tính lên lý tính, đặc biệt là trong hoạt động trí nhớ và tưởng tượng. Hướng này quy tụ khá nhiều nhà nghiên cứu như X.Vugotxki, Maurice Reuchlin, Phạm Minh 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hạc, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn…Các kết quả theo hướng nghiên cứu này đã làm sáng rõ: Biểu tượng là khâu trung gian, là giai đoạn quá độ chuyển từ hình ảnh cảm tính lên khái niệm khoa học: Hình ảnh tri giác - biểu tượng – khái niệm, là phương thức nhận thức và lưu giữ thông tin, là sản phẩm của một quá trình hoạt động nhận thức lý tính (các biểu tượng sáng tạo của quá trình tưởng tượng). * Các công trình nghiên cứu biểu tượng với tư cách là một cấu trúc tâm lý được hình thành do hoạt động tinh thần của cá nhân. Đó là một hành động tâm lý – hành động biểu tượng (J.Rudich); là quá trình xác lập các mối liên tưởng giữa vốn kinh nghiệm đã có với các hình ảnh mới (D.
Spencer); là sự cấu trúc hóa thành cấu trúc tâm lý trọn vẹn trên cơ sở tri giác tổng thể sự vật (V.Kofka, các nhà tâm lý học Gestal…). * Các công trình nghiên cứu biểu tượng với tư cách là mô hình tâm lý chi phối hành vi cá nhân hay nhóm xã hội. Hướng này quy tụ các nhà tâm lý thuộc nhiều trường phái tâm lý khác nhau: Các nhà tâm lý học hành vi coi biểu tượng là sơ đồ của nhận thức được hình thành do quá trình luyện tập các hành vi và định hướng cho những hành vi tiếp theo của cá nhân. Các nhà tập tính học như K.Lorenz, Eibl – Eibesldt… cho rằng biểu tượng đóng vai trò khởi phát và điều chỉnh hành vi của động vật và người.
Phân tâm học, đặc biệt là S.Freud đã chỉ ra vai trò của biểu tượng vô thức cá nhân và tập thể trong việc thúc đẩy hành vi cá nhân. * Các công trình nghiên cứu việc hình thành và khôi phục các hình ảnh về sự vật hiện tượng đã được hình thành và lưu giữ trong trí nhớ và sự quên các hình ảnh đó dưới góc độ cơ sở sinh lý thần kinh của chúng (I. Trong Tâm lý học phát triển, biểu tượng được nghiên cứu theo 2 hướng lớn: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển biểu tượng qua các giai đoạn lứa tuổi. Đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của J.Piaget và cộng sự: Ông đã phân tích và mô tả quá trình hình thành các hành động biểu trưng, các hình ảnh tinh thần và các biểu tượng của trẻ em giai đoạn 3 – 6 tuổi, đặc biệt là thời kỳ trước tuổi đến trường (5-6 tuổi).
* Nghiên cứu quá trình hình thành biểu tượng theo cơ chế chuyển “cái tâm lý” từ bên ngoài vào bên trong. Kết quả nghiên cứu theo hướng này quy tụ nhiều nhà tâm lý học nổi tiếng như J.Tolman… Đáng chú ý là nghiên cứu của P. Ganperin, Ông cho rằng quá trình hình thành hành động trí tuệ là quá trình chuyển hóa từ nghĩa khách quan thành ý chủ quan, từ hình ảnh cảm tính qua biểu tượng thành khái niệm về sự vật. Tức là theo ông, bản chất thao tác và cơ chế hình thành biểu tượng bắt đầu từ hành động thực tiễn.Piaget và các cộng sự đã chỉ ra cơ chế hình thành tri giác và kết quả của nó là hình ảnh tri giác, cơ chế hành động biểu trưng và sự hình thành các biểu tượng từ các sơ cấu giác – động đơn giản ban đầu.
Một nghiên cứu của Ronald Rohner, Đại học Connecticut, khi nghiên cứu về sự vắng mặt của biểu tượng người cha đối với sự hình thành nhân cách của trẻ. Ông cho rằng: “Khi một người cha được coi là có nhiều quyền lực hơn, ngay cả khi ông dành ít thời gian cho con hơn người mẹ, ông vẫn có thể có một tác động lớn. Đó là bởi ý kiến hay hành động của ông ấy dường như nổi bật, đáng chú ý hơn trong gia đình” (Ronald Rohner, 1998). Để đưa ra kết luận trên, nhóm của ông đã tiến hành phân tích 36 nghiên cứu trong giai đoạn từ 1975 - 2010, liên quan đến gần 1400 người lớn (18 – 89 tuổi) và 8600 trẻ em (9 – 18 tuổi) ở 18 quốc gia.
Người tham gia được hỏi về mức độ quan tâm của cha mẹ đối với họ trong thời gian tuổi thơ và về đặc điểm nhân cách hay khuynh hướng của họ. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo các nhà khoa học thì ông bố có thể đóng một vai trò thậm chí còn quan trọng hơn các bà mẹ rất nhiều trong sự phát triển của trẻ, giúp trẻ em hạnh phúc. Ronald Rohner cho biết: “Nghiên cứu này cho thấy rằng xã hội có xu hướng chú trọng quá nhiều vào các tác động của bà mẹ đối với trẻ em, thường đổ lỗi cho bà mẹ khi trẻ có các tính cách xấu, thậm chí là khi chúng đã trưởng thành. Chúng ta phải bắt đầu nhìn nhận lại vai trò lớn hơn của các ông bố trong việc nuôi dạy trẻ, đặt chúng trên cơ sở bình đẳng với các bà mẹ”.
Thông thường trong một gia đình, ảnh hưởng của người mẹ đến với đứa con từ tình cảm dịu hiền, còn người cha ảnh hưởng đến con cái thông qua uy quyền. Và chính dựa vào uy quyền của người cha mà người mẹ đưa được những nguyên tắc, những luật lệ vào đời sống của đứa trẻ tạo nên sự cân bằng trong sự phát triển của chúng. Michaux nghiên cứu trẻ và nhận xét: "Hầu hết trẻ em cảm thấy tự hào vì có cha, tức là có sự bảo vệ của một thứ uy quyền". Uy quyền có mức độ của người cha là một trong những yếu tố đem lại sự hoà hợp trong gia đình.
Sự thiếu hụt của một trong hai cha mẹ đều ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển nhân cách trẻ. Có thể nói uy quyền của người cha được tạo dựng từ vai trò làm chủ kinh tế trong gia đình. Ai là người đem lại chỗ dựa cho người khác thì người đó có uy quyền, "Uy quyền của người cha là then chốt của sự hoà hợp trong gia đình" (G. Người cha còn ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực phát triển của đứa con: cảm xúc, tình cảm nhận thức…Nếu như các nhà theo trường phái phân tâm học cho rằng người cha chỉ nên quan tâm nhiều tới trẻ ở tuổi từ 18 tháng tuổi trở đi, thì các nhà tâm lý học phát triển lại cho rằng tương tác sớm cha - con có ảnh hưởng rất tốt đến sự phát triển của đứa con.
Các nghiên cứu cũng khẳng định người cha tượng trưng và người cha cụ thể đều ảnh hưởng tới đứa con.