Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chó (Canis familiaris) là loài động vật được nuôi phổ biến với mục đích giữ nhà, làm cảnh và phục vụ đời sống con người. Cùng với sự phát triển của phong trào nuôi chó, các vấn đề dịch bệnh trên đàn chó cũng gia tăng, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và các bệnh do ký sinh trùng đường tiêu hóa. Khí hậu nóng ẩm tại Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh ký sinh trùng phát tán và duy trì vòng đời. Trong số các loài ký sinh trùng đường ruột, sán dây Taenia hydatigena (thuộc họ Taeniidae) là loài gây tác hại nghiêm trọng: chúng bám vào niêm mạc ruột non gây tổn thương cơ giới, tiết độc tố tác động lên hệ thần kinh, chiếm đoạt chất dinh dưỡng dẫn đến tình trạng suy nhược, thiếu máu, viêm ruột và có thể gây chết do kiệt sức.

Tại tỉnh Thái Nguyên, tập quán chăn nuôi chó chủ yếu vẫn theo phương thức thả rông; công tác kiểm soát vệ sinh thú y trong giết mổ gia súc và xử lý chất thải chưa đồng bộ, tình trạng chó thải phân bừa bãi ra môi trường còn phổ biến. Điều này làm tăng nguy cơ phát tán đốt sán chứa trứng ra ngoại cảnh, khiến các loài gia súc (lợn, trâu, bò, dê, cừu) và con người có nguy cơ cao nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Lê Thị Duyên thực hiện đề tài "Nghiên cứu đặc điểm bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng chống" dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Quang tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (khóa học 2010 – 2015).

Mục đích của đề tài: Xác định cơ sở khoa học về đặc điểm dịch tễ và bệnh học của sán dây Taenia hydatigena ở chó nuôi tại thành phố Thái Nguyên, từ đó đề xuất quy trình và biện pháp phòng chống đạt hiệu quả cao.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó tại thành phố Thái Nguyên.
  2. Nghiên cứu bệnh học bệnh sán dây Taenia hydatigena trên mô hình chó gây nhiễm thực nghiệm.
  3. Thử nghiệm hiệu lực của thuốc tẩy sán và đề xuất các biện pháp phòng chống bệnh sán dây ở chó tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn chó nuôi tại thành phố Thái Nguyên, bệnh sán dây do Taenia hydatigena và ấu trùng Cysticercus tenuicollis.
  • Phạm vi không gian: 3 xã, phường đại diện thuộc thành phố Thái Nguyên gồm phường Quang Trung, xã Đồng Bẩm và xã Quyết Thắng; xét nghiệm chuyên sâu tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) và Phòng Ký sinh trùng (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật).
  • Phạm vi thời gian: Thực hiện từ ngày 09/06/2014 đến ngày 24/11/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết và khung phân loại

Khóa luận sử dụng hệ thống phân loại sán dây của Schulz và Gvozdev (1970) được áp dụng tại Việt Nam (theo Phan Thế Việt và cs, 1977; Nguyễn Thị Kỳ, 1994, 2003; Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) để xác định vị trí phân loại học của các loài sán dây ký sinh trên chó:

  • Ngành: Plathelminthes
  • Lớp: Cestoda Rudolphi, 1808
  • Phân lớp: Eucestoda Southwell, 1930
  • Bộ: Pseudophyllidea Carus, 1863 (Họ Diphyllobothriidae: giống Spirometra) và Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 (Họ Dipylidiidae: giống Dipylidium; Họ Taeniidae: các giống Taenia, Echinococcus, Multiceps; Họ Mesocestoididae: giống Mesocestoides).

Đặc điểm vòng đời của Taenia hydatigena: Chó là ký chủ cuối cùng mang sán trưởng thành ở ruột non. Đốt sán già rụng theo phân ra ngoài giải phóng trứng mang phôi 6 móc. Ký chủ trung gian (KCTG) gồm lợn, trâu, bò, dê, cừu ăn phải trứng sán; ấu trùng nở ra, xuyên qua thành ruột di hành về gan và xoang bụng, phát triển thành bọc ấu trùng Cysticercus tenuicollis sau khoảng 3 tháng. Chó ăn phải phủ tạng gia súc chứa ấu trùng còn sống sẽ bị nhiễm sán dây; ấu trùng bám vào niêm mạc ruột và phát triển thành sán trưởng thành sau khoảng 2 tháng.

Cơ chế bệnh sinh được tổng quan qua 4 tác động chủ yếu:

  1. Tác động cơ giới: Giác bám và vòng móc bám sâu vào vách ruột gây tổn thương niêm mạc, xuất huyết và nguy cơ tắc ruột khi số lượng cá thể sán lớn.
  2. Tác động tiết độc tố: Độc tố chuyển hóa của sán tác động lên hệ thần kinh trung ương gây mệt mỏi, co giật, run rẩy hoặc biểu hiện giả dại.
  3. Tác động chiếm đoạt dinh dưỡng: Sán hấp thu trực tiếp chất dinh dưỡng qua bề mặt cơ thể, làm suy giảm thể trạng của ký chủ.
  4. Tác động mang trùng: Vết tổn thương ở niêm mạc tạo cửa ngõ cho vi khuẩn cơ hội (Escherichia coli, Staphylococcus aureus) xâm nhập gây viêm ruột thứ phát.

Cơ chế dược lý trị sán: Nhóm Isoquinolin/Benzazephin (Praziquantel) gây co thắt cơ sán tức thời, dẫn đến tê liệt và phá hủy vỏ bọc sán; nhóm Salicilanilid (Niclosamid) ức chế chu trình phosphoryl hóa trong ty lạp thể và cản trở hấp thu đường của sán dây; các hợp chất ancaloid tự nhiên (Arecolin trong hạt cau) gây tê liệt hệ thần kinh của sán kết hợp với thuốc tẩy muối ($Na_2SO_4$, $MgSO_4$) để tống xuất ký sinh trùng.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp điều tra và lấy mẫu: Thu thập mẫu phân tầng tại 3 đơn vị hành chính; mổ khám phi toàn diện cơ quan tiêu hóa của 289 chó; thu thập 328 mẫu phân tươi vào buổi sáng để kiểm tra đốt sán.
  • Phương pháp giám định hình thái và làm tiêu bản sán: Sán dây sau khi thu thập từ ruột chó được làm chết tự nhiên trong nước lã, rửa sạch bằng nước cất và bảo quản trong cồn $70^\circ$. Làm tiêu bản tạm thời bằng dung dịch glycerin : axit lactic : nước cất (tỷ lệ 1:1:1); làm tiêu bản cố định qua quy trình ép mẫu giữa hai lam kính, nhuộm dung dịch phẩm nhuộm Carmin (10 – 15 phút), khử nước qua dãy cồn tăng dần ($70^\circ, 80^\circ, 96^\circ, 100^\circ$), làm trong bằng Xylen và gắn cố định bằng nhựa Baume-Canada. Giám định loài bằng kính hiển vi quang học có gắn máy ảnh tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật.
  • Phương pháp xét nghiệm phân: Sử dụng phương pháp lắng cặn Benedek (1943) để phát hiện đốt sán dây bằng mắt thường và kính lúp trên nền đĩa Petri màu đen; kết hợp phương pháp nổi Fulleborn để phát hiện trứng sán.
  • Bố trí thực nghiệm bệnh học: Gây nhiễm nhân tạo cho 4 chó thí nghiệm (3 tháng tuổi, sạch sán) với liều 60 ấu trùng Cysticercus tenuicollis/con; xét nghiệm phân hàng ngày từ ngày thứ 15 sau gây nhiễm để xác định thời điểm xuất hiện đốt sán già; mổ khám sau 30 ngày kể từ khi bài xuất đốt sán để đánh giá bệnh tích đại thể và đếm số lượng sán phát triển thành thục.
  • Bố trí thử nghiệm thuốc tẩy sán:
    • Diện hẹp: Thử nghiệm trên 20 chó nhiễm nặng chia 4 lô: Lô I (Niclosamid liều 100 mg/kg thể trọng - TT), Lô II (Niclosamid liều 120 mg/kg TT), Lô III (Praziquantel liều 10 mg/kg TT), Lô IV (Praziquantel liều 12 mg/kg TT). Xét nghiệm phân sau 15 ngày dùng thuốc.
    • Diện rộng: Áp dụng trên 80 chó tại xã Quyết Thắng và xã Đồng Bẩm với các liều tương ứng để kiểm chứng hiệu lực thực địa.
  • Xử lý số liệu: Số liệu dịch tễ học và thực nghiệm được xử lý bằng các thuật toán thống kê sinh học trong chăn nuôi thú y (theo Nguyễn Văn Thiện, 2008).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc kiểm soát ký sinh trùng đường ruột trên chó tại các vùng đô thị và nông thôn đang trong quá trình đô thị hóa như thành phố Thái Nguyên. Nêu rõ mối đe dọa kép: vừa gây tổn hại sức khỏe, giảm sức đề kháng và gây chết ở chó con; vừa là nguồn phát tán ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây bệnh ở gia súc lấy thịt và con người. Xác định rõ mục đích, mục tiêu, đối tượng nghiên cứu và ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn của đề tài.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về:

  • Vị trí phân loại học và hình thái học giải phẫu của 8 loài sán dây phổ biến ký sinh ở chó (D. caninum, T. hydatigena, T. pisiformis, M. multiceps, S. erinacei-europaei, S. mansonoides, E. granulosus, M. lineatus).
  • Chu kỳ sinh học chi tiết của Taenia hydatigena qua ký chủ trung gian móng guốc.
  • Dịch tễ học bệnh sán dây trên thế giới (số liệu của Dalimi và cs tại Iran ghi nhận tỷ lệ nhiễm T. hydatigena là 53,01%; Yotko và cs tại Bulgaria ghi nhận 47,85%) và tại Việt Nam (nghiên cứu của Casaux, Houdemer, Trịnh Văn Thịnh, Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ, Lê Hữu Nghị, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Hữu Hưng).
  • Đặc điểm bệnh lý, triệu chứng lâm sàng ở thể cấp tính (thường gặp ở chó dưới 6 tháng tuổi với tỷ lệ chết 60 – 70% nếu không điều trị) và thể mạn tính ở chó trưởng thành.
  • Các nguyên tắc chẩn đoán phân và quy trình phòng trừ bằng hóa dược (Praziquantel, Niclosamid, Espirantel, Arecolin, Mebendazol) kết hợp các bài thuốc y học cổ truyền (hạt cau, hạt bí ngô, vỏ lựu).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết vật liệu thí nghiệm, thiết bị phòng thí nghiệm, hóa chất nhuộm tiêu bản; thiết kế mẫu điều tra dịch tễ gồm 289 chó mổ khám và 328 mẫu phân thu thập tại phường Quang Trung, xã Đồng Bẩm, xã Quyết Thắng. Trình bày chi tiết quy trình mổ khám cơ quan tiêu hóa, kỹ thuật làm tiêu bản nhuộm Carmin, phương pháp lắng cặn Benedek, sơ đồ bố trí thí nghiệm gây nhiễm xác định vòng đời (4 chó), thí nghiệm đánh giá hiệu lực thuốc diện hẹp (20 chó) và diện rộng (80 chó), cùng phương pháp xử lý số liệu thống kê.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Tập trung phân tích các dữ liệu thực nghiệm và điều tra dịch tễ học thu được tại địa bàn nghiên cứu:

  • Thành phần loài sán dây ở đường tiêu hóa chó: Xác định 5 loài sán dây (D. caninum, S. erinacei-europaei, T. hydatigena, T. pisiformis, M. multiceps).
  • Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây Taenia hydatigena: Đánh giá chi tiết sự sai khác về tỷ lệ nhiễm theo địa bàn hành chính, theo nhóm tuổi (≤ 6 tháng, > 6 – 12 tháng, > 12 tháng) và theo tính biệt của chó.
  • Bệnh học thực nghiệm: Kết quả theo dõi vòng đời, triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể của chó gây nhiễm nhân tạo ấu trùng Cysticercus tenuicollis.
  • Kết quả thử nghiệm hiệu lực tẩy sán của Praziquantel và Niclosamid trên diện hẹp và diện rộng; thảo luận và đề xuất quy trình phòng chống bệnh tại địa phương.

Phần 5: Kết luận, tồn tại và đề nghị

Tóm tắt các kết luận cốt lõi về tỷ lệ nhiễm, đặc điểm dịch tễ, hiệu lực điều trị của các loại thuốc; nêu những mặt còn tồn tại của đề tài do giới hạn thời gian thực tập và đề xuất các kiến nghị trong công tác quản lý đàn chó, kiểm soát vệ sinh giết mổ gia súc tại thành phố Thái Nguyên.


Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

1. Thành phần loài sán dây ký sinh ở chó tại thành phố Thái Nguyên

Qua mổ khám và định loại tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, đề tài đã xác định được 5 loài sán dây thuộc 2 bộ:

  • Dipylidium caninum: Xuất hiện tại cả 3 xã/phường (Đồng Bẩm, Quang Trung, Quyết Thắng), hệ số thường gặp 100%.
  • Spirometra erinacei-europaei: Xuất hiện tại 3/3 xã/phường, hệ số thường gặp 100%.
  • Taenia hydatigena: Xuất hiện tại 3/3 xã/phường, hệ số thường gặp 100%.
  • Taenia pisiformis: Xuất hiện tại 2/3 xã/phường (Đồng Bẩm, Quyết Thắng), hệ số thường gặp 66,67%.
  • Multiceps multiceps: Chỉ xuất hiện tại xã Đồng Bẩm, hệ số thường gặp 33,33%.

2. Tình hình nhiễm sán dây Taenia hydatigena theo các yếu tố dịch tễ

Kết quả mổ khám phi toàn diện hệ tiêu hóa trên 289 cá thể chó được tổng hợp trong bảng dưới đây:

Chỉ tiêu phân loại Nhóm điều tra Số chó mổ khám (con) Số chó nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm (sán/con)
Theo địa phương Xã Đồng Bẩm 112 23 20,54 1 – 13
Xã Quyết Thắng 98 18 18,37 1 – 14
Phường Quang Trung 79 10 12,66 1 – 6
Theo nhóm tuổi $\le 6$ tháng tuổi 109 21 19,27 1 – 6
> 6 – 12 tháng tuổi 106 19 17,92 1 – 14
> 12 tháng tuổi 74 11 14,86 1 – 13
Theo tính biệt Chó cái 126 24 19,05 1 – 14
Chó đực 163 27 16,56 1 – 11
Tính chung toàn bộ 289 51 17,65 1 – 14

Phân tích dịch tễ cho thấy:

  • Địa bàn: Vùng nông thôn, bán sơn địa (Đồng Bẩm: 20,54%; Quyết Thắng: 18,37%) có tỷ lệ nhiễm cao hơn khu vực nội thị (Quang Trung: 12,66%). Nguyên nhân do khu vực ngoại thành có nhiều cơ sở chăn nuôi, giết mổ gia súc nhỏ lẻ chưa kiểm soát chặt chẽ, chó thả rông dễ tiếp cận nội tạng chứa mầm bệnh.
  • Lứa tuổi: Tỷ lệ nhiễm có xu hướng giảm dần theo tuổi (chó $\le 6$ tháng tuổi nhiễm cao nhất với 19,27%; thấp nhất ở chó > 12 tháng tuổi với 14,86%) do chó non có sức đề kháng chưa hoàn thiện. Tuy nhiên, cường độ nhiễm nặng nhất lại tập trung ở nhóm 6 – 12 tháng tuổi (1 – 14 sán/con).
  • Tính biệt: Tỷ lệ nhiễm ở chó cái (19,05%) cao hơn không đáng kể so với chó đực (16,56%).

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  1. Định kỳ tẩy giun sán cho đàn chó 3 – 4 lần/năm (3 tháng/lần), sử dụng các thuốc đặc trị như Praziquantel hoặc Niclosamid đúng liều lượng chỉ dẫn.
  2. Kiểm soát chặt chẽ vệ sinh thú y tại các lò giết mổ; kiên quyết không cho chó ăn phủ tạng, màng treo ruột hoặc mô bào của trâu, bò, lợn, dê chưa nấu chín hoặc chứa bọc ấu trùng Cysticercus tenuicollis.
  3. Chấm dứt tình trạng thả rông chó; thực hiện nuôi nhốt, xích giữ và thu gom phân hàng ngày để ủ nhiệt sinh học nhằm tiêu diệt trứng sán ngoài môi trường.
  4. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về mối nguy lây truyền bệnh ấu trùng sán dây từ chó sang vật nuôi và người.

Đóng góp của đề tài

  • Bổ sung dữ liệu khoa học có hệ thống về thành phần loài sán dây ký sinh trên chó tại thành phố Thái Nguyên, khẳng định sự lưu hành của 5 loài sán dây gồm D. caninum, S. erinacei-europaei, T. hydatigena, T. pisiformis và M. multiceps.
  • Cung cấp các thông số định lượng chính xác về tỷ lệ nhiễm (17,65%) và cường độ nhiễm (1 – 14 sán/con) của loài Taenia hydatigena theo địa bàn, lứa tuổi và tính biệt.
  • Cung cấp cơ sở thực tiễn để cơ quan thú y địa phương xây dựng quy trình giám sát dịch tễ và phòng trừ ký sinh trùng trên đàn chó nuôi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Thời gian thực hiện nghiên cứu kéo dài trong gần 6 tháng (từ tháng 6 đến tháng 11/2014) nên chưa bao quát được toàn diện sự biến động dịch tễ học của sán dây qua đủ 4 mùa trong năm. Phạm vi khảo sát tập trung tại 3 xã, phường của thành phố Thái Nguyên với cỡ mẫu mổ khám 289 con, chưa mở rộng ra các huyện lân cận trong toàn tỉnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng điều tra dịch tễ học tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên các vật chủ trung gian (lợn, trâu, bò, dê) tại các lò mổ trên địa bàn toàn tỉnh Thái Nguyên.
    • Theo dõi biến động tỷ lệ nhiễm sán dây ở chó liên tục trong nhiều năm để xác định rõ quy luật mùa vụ.
    • Đánh giá hiệu lực và độ an toàn của các phác đồ phối hợp thuốc tẩy sán dây và kháng sinh điều trị viêm ruột trên quy mô đàn lớn hơn.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi – Thú y, Sinh học ký sinh trùng trong việc tham khảo phương pháp luận mổ khám đường tiêu hóa, quy trình nhuộm tiêu bản sán dây bằng phẩm nhuộm Carmin và kỹ thuật xét nghiệm phân lắng cặn Benedek.
  • Cán bộ kỹ thuật tại các Trạm Thú y, Chi cục Thú y các tỉnh miền núi phía Bắc làm cơ sở xây dựng kế hoạch phòng chống bệnh truyền lây giữa động vật và người.
  • Bác sĩ thú y tại các phòng khám thú cảnh trong việc chẩn đoán phân biệt, lựa chọn thuốc tẩy sán (Praziquantel, Niclosamid) và phác đồ điều trị triệu chứng cho chó bệnh.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đã phát hiện được những loài sán dây nào ký sinh trên chó tại thành phố Thái Nguyên?

Nghiên cứu đã mổ khám và xác định được 5 loài sán dây ký sinh ở đường tiêu hóa chó gồm: Dipylidium caninum (Linnaeus, 1758), Spirometra erinacei-europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937, Taenia hydatigena (Pallas, 1766), Taenia pisiformis (Bloch, 1780) và Multiceps multiceps (Leske, 1780). Trong đó, 3 loài đầu tiên có tần xuất xuất hiện đạt 100% tại cả 3 địa bàn nghiên cứu.

2. Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm chung của sán dây Taenia hydatigena qua mổ khám là bao nhiêu?

Qua mổ khám 289 chó tại 3 xã/phường (Đồng Bẩm, Quyết Thắng, Quang Trung), có 51 chó nhiễm sán dây Taenia hydatigena, đạt tỷ lệ nhiễm chung là 17,65%. Cường độ nhiễm dao động từ 1 đến 14 sán dây/con. Xã Đồng Bẩm có tỷ lệ nhiễm cao nhất (20,54%), tiếp đến là xã Quyết Thắng (18,37%) và thấp nhất là phường Quang Trung (12,66%).

3. Tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena biến động như thế nào theo lứa tuổi của chó?

Tỷ lệ nhiễm có xu hướng giảm dần theo tuổi: chó dưới 6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất đạt 19,27% (cường độ 1 – 6 sán/con); chó từ 6 – 12 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm là 17,92% (cường độ 1 – 14 sán/con); chó trên 12 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm thấp nhất là 14,86% (cường độ 1 – 13 sán/con). Chó non mẫn cảm hơn do hệ thống miễn dịch chưa hoàn thiện.

4. Vật chủ trung gian của sán dây Taenia hydatigena là những loài động vật nào và dạng ấu trùng của sán có tên là gì?

Vật chủ trung gian của Taenia hydatigena là các loài động vật móng guốc như lợn, trâu, bò, dê, cừu (và có thể gặp ở người). Dạng ấu trùng của loài sán này có tên khoa học là Cysticercus tenuicollis, thường ký sinh ở gan, màng treo ruột và xoang bụng dưới dạng các bọc túi chứa đầy dịch trong có chứa đầu sán.

5. Những loại thuốc tẩy sán nào được tác giả tổng quan và đưa vào khảo nghiệm điều trị?

Khóa luận đã tổng quan và đưa vào thử nghiệm hai loại hóa dược chính là Praziquantel (dẫn xuất pyrazino-isoquinolin, liều khảo nghiệm 10 – 12 mg/kg TT) và Niclosamid (thuộc nhóm Salicilanilid, liều khảo nghiệm 100 – 120 mg/kg TT); đồng thời tổng quan các hoạt chất Arecolin, Lopatol, Mebendazol và các bài thuốc cổ truyền như nước sắc hạt cau kết hợp hạt bí ngô.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Thị Duyên đã nghiên cứu toàn diện về thành phần loài sán dây ký sinh trên chó tại thành phố Thái Nguyên, xác định được 5 loài sán dây với tỷ lệ nhiễm Taenia hydatigena trung bình là 17,65% (dao động từ 12,66% đến 20,54%). Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ các đặc tính dịch tễ học theo vùng, lứa tuổi, tính biệt, đồng thời hệ thống hóa cơ chế bệnh học và các phác đồ điều trị bằng Praziquantel và Niclosamid. Đây là công trình thực nghiệm có giá trị khoa học và thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ công tác thú y và bảo vệ sức khỏe cộng đồng tại địa phương.