MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất nước ta đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiến tới xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Để đạt được mục tiêu đó Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách phát triển kinh tế trong đó có ngành chăn nuôi. Nhờ đó ngành chăn nuôi đã có nhiều bước phát triển đáng kể, đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân.
Trong đó ngành chăn nuôi gia cầm chiếm một vị trí quan trọng với những ưu thế mà các ngành chăn nuôi khác không có. Theo kết quả điều tra tại thời điểm 01/10/2012 của Tổng cục thống kê, tổng đàn gia cầm nước ta có 308,5 triệu con, giảm 4,4% so với cùng kì năm 2011. Trong đó đàn gà có 223,7 triệu con, giảm 3,86%. Tuy nhiên, sản lượng thịt gia cầm hơi giết bán tăng 4,8%, sản lượng trứng tăng 5,8%.
Tuy nhiên ngành chăn nuôi gia cầm vẫn gặp những khó khăn nhất định, đặc biệt là dịch bệnh xảy ra nhiều, thường xuyên trong đó có bệnh ký sinh trùng. Do nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm đã tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun kim ở gà nói riêng phát triển, kéo theo sự phát triển của bệnh do đơn bào H. meleagridis gây ra. Bệnh do đơn bào H.
meleagridis (bệnh đầu đen) ở gà hiện nay đã xuất hiện ở nhiều địa phương, đặc biệt là ở các địa phương chăn nuôi gà và gà tây theo lối tập trung công nghiệp. Bệnh gây tác hại đáng kể tại các địa phương và làm giảm hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi gà. Bệnh đầu đen là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm ở gà và gà tây do đơn bào H. meleagridis gây ra.
Bệnh biểu hiện bất thường ở da vùng đầu, ban đầu có màu xanh tím, sau đó nhanh chóng trở lên thâm đen nên có tên là bệnh đầu đen. Bệnh có những bệnh tích đặc trưng như: Viêm hoại tử tạo mủ ở ruột thừa và gan, thể trạng xấu, da vùng đầu và mào tích thâm đen. Gà bệnh chết rải rác và thường chết về ban đêm, mức độ chết không ồ ạt nhưng hiện tượng chết kéo dài, gây cho người chăn nuôi cảm giác bệnh không nguy hiểm. Thực chất cuối cùng gà chết đến 85 - 95%.
n 2 Mặc dù vậy, ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào về bệnh đầu đen ở gà, vì vậy cũng chưa có quy trình phòng, trị bệnh hiệu quả. Mặt khác, tại một số tỉnh chăn nuôi nhiều gà như tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang,. trong 3 năm gần đây liên tục xuất hiện bệnh đầu đen trên đàn gà nuôi thả vườn, tỷ lệ chết cao gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao năng suất chăn nuôi gà, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen (Histomoniasis) tại Thái Nguyên và so sánh hiệu lực của 2 phác đồ điều trị ”.
Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu tình hình nhiễm đơn bào H. meleagridis ở gà nuôi tại tỉnh Thái Nguyên. - Nghiên cứu tình hình nhiễm đơn bào H. meleagridis do gây nhiễm trên gà.
- Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh đầu đen do đơn bào H. meleagridis gây ra ở gà. - Nghiên cứu hiệu lực của 2 phác đồ điều trị, từ đó khuyến cáo người dân sử dụng điều trị đạt kết quả cao. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm bệnh lý, lâm sàng và quy trình phòng trị bệnh đầu đen cho gà, có một số đóng góp mới cho khoa học. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để đề ra biện pháp phòng, trị bệnh có hiệu quả, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra; góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi gà phát triển. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Bệnh đầu đen (Histomonosis) là một bệnh kí sinh trùng truyền nhiễm nguy hiểm ở gà và gà tây do một loại đơn bào có tên khoa học là Histomonas meleagridis gây ra.
Histomonas meleagridis ký sinh chủ yếu trong lòng manh tràng và nhu mô gan, gây viêm xuất huyết hoại tử tạo, tăng sinh ở manh tràng và gan, thể trạng xấu, da vùng đầu và mào tích thâm đen nên từ đây bệnh có tên là bệnh đầu đen (Blackhead). Cũng vì các biến đổi đặc trưng tập trung song hành ở gan và ruột, lây lan nhanh và gây chết gia cầm với tỷ lệ cao, nên bệnh còn có tên là bệnh viêm hoại tử ruột gan truyền nhiễm (Infectious Enteroheatitis). Ở Việt Nam do các biến đổi đặc trưng tạo kén ở manh tràng nên người chăn nuôi thường gọi là bệnh kén ruột. Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm 2.
Vị trí của đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh. Theo Van der Heijden H (2009) [40], vị trí của H. meleagridis trong hệ thống phân loại nguyên sinh động vật như sau: Sinh vật: Eukaryota Giới: Excavata Ngành: Metamonada Lớp: Parabasalia Bộ: Trichomonadida Họ: Monocercomonadidae Giống: Histomonas Loài: Histomonas meleagridis Tuy nhiên, sau kết quả phân tích trình tự gen, Cepicka và cs (2010) [9] đã cho biết vị trí phân loại của H. meleagridis như sau: n 4 Bảng phân loại Giới: Protozoen Ngành: Parabasalia Lớp: Tritrichomonadea Bộ: Tritrichomonadida Họ: Dientamoebidae Giống: Histomonas Loài: Histomonas meleagridis 2.
Hình thái học loài Histomonas meleagridis Khi nghiên cứu về bệnh đầu đen Tyzzer (1919) [35], đã mô tả hình thái của H. meleagridis ở từng giai đoạn phát triển khác nhau. Ở giai đoạn kí sinh tại khu vực ngoại vi của các tổn thương ban đầu được gọi là giai đoạn xâm lấn. Trong giai đoạn này chúng di động kiểu amip và hình thành một chân giả có chiều dài 30 µm.
Trong các mô cố định, quan sát được đường kính dao động từ 8 - 17 µm. Nguyên sinh chất trong giai đoạn này chứa các hạt không bào và một thể nhân. Tiếp đến là giai đoạn sinh dưỡng, H. meleagridis tồn tại dưới dạng có tế bào chất mà không có thể vùi và một lượng nhỏ chất lưới hoặc dạng hạt phân phối xung quanh thể nhân.
Ở giai đoạn này, chúng có kích thước lớn hơn, đường kính từ 12 - 21 µm. Một giai đoạn tồn tại khác của H. meleagridis đã được Tyzzer mô tả và gọi với cái tên là giai đoạn kháng, kích thước nhỏ hơn, đường kính từ 5 - 22 µm. Smith (1895) [34], đã mổ khám 50 gà tây mắc bệnh đầu đen.
Ông cho biết: ở gà mắc bệnh gan và manh tràng là 2 cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất. Lấy chất chứa trong manh tràng gà bệnh soi tươi và tìm thấy tác nhân gây bệnh là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis) có hình tròn hoặc hình bầu dục, đường kính 8 - 14 µm, ngoại trừ một dạng gần giống cấu trúc nhân. Trong mô gan được cố định và nhuộm màu, Smith nhận thấy đơn bào có dạng hình bầu dục nhỏ, đường kính dao động từ 6 - 10 µm, ở giữa có nhiều cấu trúc nhỏ tập trung lại thành thể nhân. n 5 Dẫn theo Smith 1895 đến năm 1920 Tyzzer từ đặc điểm trùng roi của tác nhân gây bệnh ông đã đổi tên loài ký sinh trùng này thành H.
Tyzzer và Fabyan (1925) [37] đã báo cáo: khi quan sát dưới kính hiển vi, tác giả thấy H. meleagridis tồn tại lưỡng hình (dạng amip và có roi). Trong mô (giai đoạn xâm lấn) nó có dạng amip, trong lòng manh tràng H. meleagridis ở dạng có roi.
meleagridis ở dạng amip thường có đường kính 8 - 15 µm, trong khi ở hình dạng có roi đường kính có thể lên tới 30 µm. Tyzzer (1934) [39] đã nghiên cứu sự chuyển động của H. meleagridis ở 420C và mô tả, roi của đơn bào này nhịp nhàng rung động giúp nó có thể xoay ngược chiều kim đồng hồ. Lê Văn Năm (3/2010) [4] khi nghiên cứu bệnh đầu đen ở Việt Nam báo cáo rằng, H.
meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: hình trùng roi (4 roi), hình amip và hình lưới hợp bào, tùy thuộc vào giai đoạn phát triển để có hình dạng tương ứng phù hợp,… H. meleagridis với hình amip có kích thước 8 - 30 µm, với hình roi thì có kích thước từ 20 - 30 µm, bé nhất khi H. meleagridis ở thể lưới: 5 - 10 µm, nhưng ở thể hợp bào (bao gồm nhiều H. meleagridis thể hình lưới) thì chúng có kích thước cực đại đến 60 -80 µm.
Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có 2 nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ), từ nhân to mọc ra 4 cái roi, H. meleagridis vận động theo hai phương thức xoắn hoặc theo kiểu làn sóng (impuls). Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào H. meleagridis, các nhà khoa học đã cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong đơn bào H.
meleagridis cấu tạo gồm 3 phần: màng, tế bào chất và nhân. meleagridis là một màng đơn. Tế bào chất H. meleagridis chứa ß-glycogen, ribosome và ARN, một số không bào và hạt nhân.
Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một nucleolus. Màng nhân là một màng kép. Trong vùng lân cận của nhân là bộ máy Golgi hoặc một phần theo chiều dọc của microtubule. meleagridis là sinh vật kỵ khí vì thiếu ty thể.
Lưới nội chất đã bị thoái hóa. Phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis H. meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), lây truyền bằng 2 con đường: truyền bệnh trực tiếp và truyền bệnh gián tiếp. * Truyền bệnh gián tiếp qua giun kim Cushman và cs (1894) [10] đã nhận thấy, gà và gà tây bị nhiễm bệnh khi chúng được nuôi trên khu vực mà trước đó gà và gà tây đã bị mắc bệnh.
Smith (1895) [34] đã tiến hành thí nghiệm với qui mô lớn và cho biết: H. meleagridis không lây truyền theo chiều dọc từ gà mái đẻ sang trứng, mặc dù phát hiện gà con mắc bệnh đầu đen rất sớm và chết ở 12 - 14 ngày tuổi. Tác giả cho rằng, những gà con này bị nhiễm bệnh do được nuôi trong khu đất nơi mà đàn gà nuôi trước đó đã mắc bệnh. Thí nghiệm được bố trí như sau: Tiến hành lấy trứng ở những gà mẹ từ 3 trang trại khác nhau đang có bệnh đầu đen phát triển, ấp trứng nhân tạo.