Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới mạn tính có đái tháo tuýp 2 luận án tiến sỹ y học

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sàng 108

Chuyên ngành

Nội tim mạch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2022

176
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về BĐMCDMT ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2

Phần này cung cấp cái nhìn tổng quan về bệnh động mạch chi dưới mạn tính (BĐMCDMT) ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2. BĐMCDMT là bệnh lý vữa xơ động mạch chi dưới, gây thiếu máu cục bộ và có liên quan mật thiết đến đái tháo đường tuýp 2. Bệnh tiến triển âm thầm, thường không có triệu chứng rõ ràng, dẫn đến nguy cơ cao bị loét, hoại tử và cắt cụt chi. Đái tháo đường tuýp 2 làm tăng nguy cơ mắc BĐMCDMT lên 2-4 lần, đặc biệt ở những bệnh nhân có thời gian mắc bệnh dài và kiểm soát đường huyết kém.

1.1. Giải phẫu động mạch chi dưới

Hệ thống động mạch chi dưới bao gồm các động mạch chính như động mạch chậu, động mạch đùi, động mạch khoeo, và các nhánh nhỏ hơn cung cấp máu cho cẳng chân và bàn chân. Sự tắc nghẽn hoặc hẹp các động mạch này do vữa xơ là nguyên nhân chính gây ra BĐMCDMT. Đái tháo đường tuýp 2 làm tăng tốc độ vữa xơ, dẫn đến tổn thương mạch máu nhanh hơn.

1.2. Khái niệm bệnh động mạch chi dưới mạn tính

Bệnh động mạch chi dưới mạn tính (BĐMCDMT) được định nghĩa là tình trạng vữa xơ động mạch chi dưới, gây thiếu máu cục bộ với triệu chứng đau cách hồi kéo dài trên 2 tuần. Bệnh thường đi kèm với các biến chứng mạch máu khác như bệnh mạch vành và đột quỵ. Đái tháo đường tuýp 2 là một trong những yếu tố nguy cơ chính làm tăng tỷ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của BĐMCDMT.

II. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Phần này tập trung vào các đặc điểm lâm sàngcận lâm sàng của BĐMCDMT ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2. Triệu chứng lâm sàng thường gặp bao gồm đau cách hồi, loét chi dưới, và hoại tử. Các phương pháp cận lâm sàng như đo chỉ số ABI, siêu âm Doppler, và chụp động mạch cản quang giúp chẩn đoán chính xác mức độ và vị trí tổn thương.

2.1. Đặc điểm lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng của BĐMCDMT bao gồm đau cách hồi, đau khi nghỉ ngơi, loét chi dưới, và hoại tử. Ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2, các triệu chứng này thường bị che lấp do tổn thương thần kinh ngoại vi, dẫn đến chẩn đoán muộn và tăng nguy cơ biến chứng.

2.2. Đặc điểm cận lâm sàng

Các phương pháp cận lâm sàng như đo chỉ số ABI, siêu âm Doppler, và chụp động mạch cản quang là công cụ quan trọng trong chẩn đoán BĐMCDMT. Chỉ số ABI thấp (<0.9) là dấu hiệu đặc trưng của bệnh. Chụp động mạch cản quang được coi là tiêu chuẩn vàng để xác định vị trí và mức độ tổn thương.

III. Yếu tố nguy cơ và biến chứng

Phần này phân tích các yếu tố nguy cơbiến chứng liên quan đến BĐMCDMT ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm tuổi tác, hút thuốc, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, và kiểm soát đường huyết kém. Biến chứng nghiêm trọng nhất là cắt cụt chi, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

3.1. Yếu tố nguy cơ

Các yếu tố nguy cơ chính của BĐMCDMT bao gồm tuổi tác, hút thuốc, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, và đái tháo đường tuýp 2. Kiểm soát kém đường huyết và thời gian mắc bệnh dài làm tăng đáng kể nguy cơ mắc BĐMCDMT.

3.2. Biến chứng

Biến chứng nghiêm trọng nhất của BĐMCDMT là cắt cụt chi, đặc biệt ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2. Các biến chứng khác bao gồm loét chi dưới, hoại tử, và tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch khác như nhồi máu cơ tim và đột quỵ.

IV. Chẩn đoán và điều trị

Phần này đề cập đến các phương pháp chẩn đoánđiều trị BĐMCDMT ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2. Chẩn đoán sớm và chính xác là yếu tố quan trọng để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, bao gồm thay đổi lối sống, dùng thuốc, và can thiệp phẫu thuật.

4.1. Chẩn đoán

Chẩn đoán BĐMCDMT dựa trên các triệu chứng lâm sàng và kết quả cận lâm sàng như đo chỉ số ABI, siêu âm Doppler, và chụp động mạch cản quang. Chụp động mạch cản quang là phương pháp chính xác nhất để xác định vị trí và mức độ tổn thương.

4.2. Điều trị

Điều trị BĐMCDMT bao gồm thay đổi lối sống, kiểm soát các yếu tố nguy cơ, dùng thuốc (như thuốc chống kết tập tiểu cầu, statin), và can thiệp phẫu thuật (như nong mạch, đặt stent). Ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2, kiểm soát đường huyết chặt chẽ là yếu tố quan trọng trong điều trị.

01/03/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới mạn tính có đái tháo tuýp 2 luận án tiến sỹ y học

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 1. Tổng quan về BĐMCDMT ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 1. Giải phẫu động mạch chi dưới Về mặt giải phẫu, chi dưới được phân chia thành hai thành phần gồm đai chi (hay đai chậu) và phần tự do của chi. Hệ thống động mạch chi dưới gồm động mạch chậu (bao gồm động mạch chậu chung, động mạch chậu trong và động mạch chậu ngoài) và động mạch đùi chung (kể cả các nhánh), động mạch khoeo, các động mạch cẳng chân, các cung động mạch bàn chân kèm các động mạch đốt bàn và ngón [13].

Động mạch chậu Động mạch (ĐM) chậu gốc (hay còn gọi là động mạch chậu chung) bắt đầu từ chỗ chia đôi của ĐM chủ bụng ngang mức L4/L5, gồm ĐM chậu gốc trái và ĐM chậu gốc phải. ĐM chậu gốc chia thành ĐM chậu trong và ĐM chậu ngoài. ĐM chậu trong đi xuống chia nhiều ĐM nhỏ và cấp máu cho vùng tiểu khung. ĐM chậu ngoài là ĐM cấp máu chính cho chi dưới.

Khi hẹp, tắc ĐM chậu ngoài sẽ gây thiếu máu cho chi dưới [14]. Động mạch đùi khoeo ĐM chậu ngoài sau khi đi qua dây chằng bẹn thì đổi tên thành ĐM đùi chung, sau đó tách ra 2 nhánh tận là ĐM đùi sâu và ĐM đùi nông. ĐM đùi đi ở mặt trước đùi, dần đi vào trong, sau đó chui qua vòng gân khép rồi đổi tên thành ĐM khoeo. ĐM đùi sâu cung cấp máu cho hầu hết các cơ ở đùi.

ĐM đùi nông cấp máu chính cho các cơ ở vùng cẳng và bàn chân. Động mạch khoeo đi xuống tới bờ dưới cơ khoeo thì chia ra ba nhánh tận là ĐM chày trước, ĐM chày sau và ĐM mác và bảy nhánh bên (cấp máu vùng gối), tạo nhiều nhánh nối tiếp giữa các nhánh bên và các nhánh tận, hình thành hai mạng mạch phong phú là mạng mạch khớp gối và mạng mạch bánh chè [15]. Giải phẫu hệ động mạch đùi khoeo Động mạch cẳng bàn chân Động mạch cẳng bàn chân bao gồm các ĐM vùng cẳng chân (ĐM chày trước, ĐM chày sau, ĐM mác) và các ĐM vùng bàn chân (ĐM mu chân, ĐM gan chân trong, ĐM gan chân ngoài). ĐM chày trước là một trong ba nhánh tận của ĐM khoeo, bắt đầu từ bờ dưới cơ khoeo đi qua bờ trên màng gian cốt ra khu cẳng chân trước.

Đoạn 2/3 trên của ĐM chày trước nằm trên màng gian cốt, đoạn 1/3 dưới nằm ở trên xương chày và khớp cổ chân, rồi tiếp tục đi xuống dưới chui qua giữa các gân duỗi bàn chân và đổi tên thành ĐM mu chân. Ở cổ chân, ĐM chày trước tách ra nhánh ĐM mắt cá trước ngoài, nối với nhánh xiên và các nhánh mắt cá ngoài của ĐM mác. Ngoài ra, còn vòng nối ĐM gan chân ngoài của ĐM chày trước và ĐM gan chân ngoài của ĐM 5 chày sau để cấp máu cho bàn chân. Nhờ các vòng nối này mà trong can thiệp có thể đưa dụng cụ từ ĐM mác, chày sau sang can thiệp ĐM chày trước khi có tổn thương và ngược lại [16].

ĐM chày sau là nhánh tận chính của ĐM khoeo từ bờ dưới cơ khoeo hay cung gân cơ khép. ĐM chày sau chia rất nhiều nhánh bên cung cấp cho phần lớn các cơ vùng cẳng chân sau. Khi chạy xuống rãnh cơ gấp dài ngón cái ở mặt trong xương gót, chia làm hai ngành tận là ĐM gan chân trong và ĐM gan chân ngoài [17]. ĐM mác là nhánh tận, tách từ thân chày mác.

Lúc đầu ĐM mác nằm giữa cơ chày sau và cơ gấp dài ngón cái rồi đi sâu vào giữa cơ gấp dài ngón cái và xương mác tới cổ chân và chia các nhánh tận cho cổ chân và gót. ĐM mác có các nhánh mắt cá sau ngoài nối với ĐM mắt cá trước ngoài của ĐM chày trước và nhánh nối tiếp nối với ĐM chày sau. Đây là các vòng nối quan trọng trong can thiệp cẳng và bàn chân [13]. Giải phẫu hệ động mạch cẳng bàn chân 1.

Khái niệm bệnh động mạch chi dưới mạn tính Bệnh động mạch chi dưới mạn tính (BĐMCDMT) là bệnh vữa xơ các mạch máu cung cấp máu cho một phần hoặc toàn bộ chi dưới với triệu chứng đau cách 6 hồi trên 2 tuần [3]. Khái niệm này loại trừ các trường hợp thiếu máu cấp tính do chấn thương, vết thương, huyết khối trên các động mạch lành, tai biến do phẫu thuật hay thủ thuật can thiệp nội mạch máu [18]. Dịch tễ học BĐMCDMT là bệnh lý tim mạch phổ biến, đứng thứ ba sau bệnh ĐM vành, đột quị não và đang dần trở thành vấn đề toàn cầu khi ảnh hưởng hơn 200 triệu người trên thế giới. Theo kết quả nghiên cứu của cuộc điều tra dinh dưỡng và sức khỏe tại Mỹ năm 1999 – 2000 (nghiên cứu NHANES) trên 2174 người > 40 tuổi, tỷ lệ hiện mắc BĐMCDMT chiếm 4,3%, trong đó số lượng bệnh nhân mắc BĐMCDMT có bệnh đái tháo đường kèm theo chiếm 10,8% [8].

Nhiều nghiên cứu cho thấy đái tháo đường làm tăng nguy cơ mắc BĐMCDMT lên 2 - 4 lần và khoảng 12 - 20% bệnh nhân BĐMCDMT có kèm theo đái tháo đường [19]. Theo nghiên cứu Framingham, đái tháo đường làm tăng nguy cơ đau cách hồi lên 3,5 lần ở nam và 8,6 lần ở nữ [20]. Một trong những lý do khiến tỷ lệ mắc BĐMCDMT ngày càng tăng cao là bởi bệnh tiến triển âm thầm, chỉ có dưới 20% bệnh nhân được báo cáo là có triệu chứng. Bên cạnh đó, tổn thương thần kinh ngoại vi do đái tháo đường có thể ảnh hưởng đến thần kinh cảm giác, làm các triệu chứng của BĐMCDMT càng thêm mờ nhạt khiến tỷ lệ mắc bệnh này cao hơn so với người không mắc bệnh đái tháo đường.

Nghiên cứu của Shu J. Nguy cơ phát triển BĐMCDMT tương xứng với mức độ nặng và thời gian bị bệnh đái tháo đường. Theo nghiên cứu UKPDS, HbA1c tăng lên mỗi 1% sẽ làm tăng nguy cơ mắc BĐMCDMT 28% [9]. Khi so sánh BĐMCDMT giữa hai nhóm mắc đái tháo đường và không mắc đái tháo đường, nghiên cứu của Lange S.

đã chỉ ra tỷ lệ mắc BĐMCDMT ở nhóm đái tháo đường cao hơn hẳn với tỷ lệ 26,3% so với 15,3%. Bên cạnh đó, bệnh đái tháo đường còn làm tăng nguy cơ loét bàn chân do tắc mạch, hoại tử, và cắt cụt chi ở bệnh nhân mắc BĐMCDMT. Theo kết quả nghiên cứu của Bild D.E và cộng sự, bệnh đái tháo đường làm tăng nguy cơ cắt cụt chi ở bệnh nhân có BĐMCDMT gấp 7 - 15 lần so với bệnh nhân không mắc đái 7 tháo đường, tỷ lệ cắt cụt chi hàng năm ở những bệnh nhân này là 0,6%. So sánh tổn thương động mạch ở bệnh nhân có và không có đái tháo đường Bệnh động mạch chi dưới Đái tháo đường Không đái tháo đường Giới Nam = Nữ Nam > Nữ Tuổi Trẻ hơn Cao tuổi Tiến triển Nhanh Từ từ Hai bên Một bên Tổn thương Động mạch dưới gối Động mạch trên gối Tắc hẹp nhiều đoạn Một đoạn Tuần hoàn bàng hệ Bị tổn thương Không hoặc ít ảnh hưởng Bệnh nhân mắc BĐMCDMT kèm theo đái tháo đường thường có xu hướng nằm viện lâu hơn, chịu nhiều gánh nặng điều trị hơn và tốn nhiều nguồn lực y tế hơn so với bệnh nhân BĐMCDMT đơn thuần [22].

Đái tháo đường thường liên quan đến tổn thương động mạch chi dưới đoạn dưới gối (động mạch chày trước, chày sau, động mạch mác…), trong khi các yếu tố nguy cơ khác như hút thuốc thường có liên quan đến tổn thương các động mạch chậu - đùi [7]. Tỷ lệ đồng mắc BĐMCDMT và đái tháo đường đặc biệt cao ở những bệnh nhân thiếu máu cục bộ chi dưới cấp tính, với gần 50% bệnh nhân trong một nghiên cứu thiếu máu cục bộ chi cấp tính [23]. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy BĐMCDMT làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột qụy và tử vong do nguyên nhân tim mạch. Bệnh nhân BĐMCDMT có tỷ lệ biến cố tim mạch trong vòng 5 năm, bao gồm NMCT và đột qụy là 20%, và tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân là 30% [24].

Trong số bệnh nhân bị thiếu máu cục bộ chi dưới cấp tính, có khoảng 30% phải cắt cụt chi, và tỷ lệ tử vong trong 6 tháng là 20%. Theo nghiên cứu ARIC, nam giới mắc BĐMCDMT có nguy cơ đột qụy hoặc thiếu máu não thoáng qua cao gấp 4 – 5 lần người không mắc BĐMCDMT, dù mối liên quan này ở nữ không có ý nghĩa thống kê. Khoảng 12 - 25% người mắc BĐMCDMT có rối loạn dòng chảy do hẹp động mạch cảnh phát hiện trên siêu âm 8 Doppler. Mức độ nặng của BĐMCDMT tương quan với mức độ nặng và độ hẹp của động mạch cảnh.

Tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường được tái thông mạch vành chiếm khoảng 25% - 30% và lên đến 60% trường hợp NMCT cấp. Tỷ lệ biến cố tim mạch và đột quỵ, bao gồm tử vong và không tử vong, đều có xu hướng tăng ở bệnh nhân BĐMCDMT kèm theo đái tháo đường so với bệnh nhân BĐMCDMT đơn thuần [7]. Điều đáng chú ý là hầu hết bệnh nhân bị BĐMCDMT không có triệu chứng lâm sàng điển hình của đau cách hồi. Nghiên cứu PARTNER thực hiện trên 6417 đối tượng cho thấy có 29% bị BĐMCDMT nhưng chỉ 11% trong số những người bị BĐMCDMT có triệu chứng đau cách hồi điển hình.

Gần 1/3 không có triệu chứng và 55% trong số còn lại có triệu chứng không điển hình gây khó khăn cho việc phát hiện sớm, chẩn đoán và can thiệp điều trị [25]. Cơ chế bệnh sinh của bệnh động mạch chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 Nhìn chung, cơ chế bệnh sinh của BĐMCDMT ở bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường cũng tương tự với bệnh nhân không mắc đái tháo đường, nhưng sự hiện diện của bệnh đái tháo đường là yếu tố thúc đẩy. Vữa xơ động mạch (atherosclerosis) là một hình thức cụ thể của xơ cứng động mạch, trong đó thành động mạch dày lên như kết quả của sự tích tụ canxi và các chất béo như cholesterol và triglyceride [20]. Sự tiến triển của xơ vữa và tổn thương động mạch xảy ra rất sớm thậm chí ngay từ giai đoạn tiền đái tháo đường.

Tổn thương lớp nội mạc là một điểm nổi bật của đái tháo đường, liên quan đến tăng glucose máu, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa lipid, đề kháng insulin. Rối loạn chức năng nội mạc là dấu hiệu biến chứng sớm của biến chứng mạch máu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Quá trình này bao gồm các thay đổi trong sao chép gene, giải phóng các cytokines, các yếu tố phát triển và các tế bào kết tập, thay đổi chuyển hoá lipids và tình trạng ôxy hoá, tăng sản xuất các gốc oxy hoá tự do.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 mắc bệnh động mạch chi dưới mạn tính là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 có biến chứng động mạch chi dưới mạn tính. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về mối liên hệ giữa đái tháo đường và bệnh lý mạch máu, đồng thời đưa ra các dữ liệu quan trọng giúp cải thiện chẩn đoán và điều trị. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các bác sĩ, nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến lĩnh vực nội tiết và tim mạch.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh lý liên quan đến tim mạch và nội tiết, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu giá trị NT-proBNP trong dự báo suy tim và tiên lượng tử vong ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp, Luận án tiến sĩ nghiên cứu nồng độ lipoprotein associated phospholipase A2 và kiểu hình của lipoprotein tỷ trọng thấp ở bệnh nhân hội chứng vành cấp, và Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu biến đổi vận động xoắn và chỉ số chức năng thất trái bằng siêu âm tim. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các vấn đề tim mạch và phương pháp chẩn đoán hiện đại.